CÂY QUẢ MÙA THU VƯỜN NHÀ.

.Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài.

.Phải tuân thủ luật Tác quyền Copyright.

CÂY QUẢ MÙA THU VƯỜN NHÀ.

Nguyễn Xuân Quang.

clip_image002
Cây quả mùa thu vườn nhà: doi, xoài, táo Minh Hương, khế, mạng cầu, thanh long, cam, bưởi, ổi, hồng dòn, hồng mềm, hồng Trung Mỹ…

Mùa thu là mùa cây kết quả, trái chín, mùa thu hoạch, mùa gặt hái. Hán Việt thu 秋 gồm có chữ mễ (lúa) 米 và bộ hỏa 火 (lửa) có một nghĩa là mùa lúa chín. Người Trung Quốc ăn Tết Trung Thu là ăn mừng mùa gặt hái chứ không phải là Tết Nhi Đồng như Việt Nam.

Mấy năm gần đây Cali bị hạn hán hay bị cháy rừng cây, cỏ dại như mấy hôm nay. Luật thành phố bắt phải dùng nước giới hạn. Một tuần chỉ được tưới cây hai lần. Năm nay Cali nhờ mấy trận mưa lớn đầu mùa cây trái trong vườn nhà bừng sống lại nên được mùa, ngoại trừ nhãn.

Sau đây là mươi thứ quả vùng nhiệt đới quê hương trong vườn nhà mùa thu năm nay.

1. Quả Doi (mận Mỹ Tho).

Trong vườn nhà có hai cây doi, khi mua với ý định trồng một cây quả trắng và một cây quả đỏ. Khi có quả hai cây đều có quả đỏ.

Một cây khi mua nhà vườn nói có quả trắng:

clip_image004

Cành trĩu quả chấm đất.

clip_image006Một cây khi mua nhà vườn nói là có quả trắng.

Một cây khi mua đúng như nhà vườn nói có quả đỏ.

clip_image008

clip_image010Một cây quả đỏ.

Cây doi còn gọi là bồng bồng, đào tiên, người Nam gọi là mận Mỹ Tho. Gọi là bồng bồng có lẽ vì trái bộng, xốp, trong ruột có lớp sơ trắng như bông gòn bọc hột cứng. Khi trái chín hột tách khỏi lớp bông gòn này. Vì thế muốn biết trái doi đã chín tới chưa, lắc quả thấy hột chạy trong quả như cái lục lạc thì doi đã chín.

Tại sao người Bắc gọi là cây doi, gioi trong khi người Nam gọi là cây mận?

Một số tên cây trái Việt Nam gọi tên theo mầu sắc. Quả hồng có mầu hùng, đỏ. Quả mơ là quả mầu vàng. Mơ biến âm của mai (ô mai làm từ quả mơ) ruột thịt với Phạn ngữ paita, mật vàng. Hoa mai là hoa mầu vàng. Người chớm bị chứng bệnh gan hoàng đản vàng da hay thiếu máu da trông mai mái (vàng lợt) của mầu mật gan vàng. Cây mít quả có múi và gỗ mầu vàng. Mít ruột thịt với Phạn ngữ pita, mầu vàng (xem dưới). Quả mận có mầu mân (tím), rau mần tơi (mồng tơi) có quả tím. Quả mần quân (mùng quân, mồng quân, bồn quân) có mầu mân (tím). Miền Nam gọi doi là mận (đôi khi để phân biệt khỏi bị lầm lẫn với mận thường gọi là mận Mỹ Tho) là gọi theo loại doi có mầu tím đỏ. Vì thế trong nhiều quốc gia nhiệt đới cũng có nơi như Mỹ Tho cho doi và các trái họ nhà doi như quả trâm là một thứ mận ví dụ như “plum rose” (mận hồng), Malabar plum… Vì có mầu hồng nên Tây phương có khi gọi là rose apple (táo hồng).

Miền Bắc gọi là cây doi. Doi cùng họ với cây vối (lá ủ để nấu nước uống) và cây trâm. Theo v = d (người Nam phát âm v = d), doi = vối. Thái Lan gọi là chompoo, champu, Phi Luật Tân gọi là yambo, dambo hay tampoy có chom- , yam-, dam-, tam- chính là tiếng Việt châm hay trâm. Tên Anh ngữ là jambosa, jambu có jam- chính là chom là châm, trâm. Quả trâm cũng có mầu tím hồng như quả mận. Tên thực vật của doi là Syzygium jambolana. Doi, vối, trâm cùng một họ.

Tây phương không có doi, trâm từ Jambosa, Jambolan, Jambu lấy từ Phạn ngữ Jambu.

Họ nhà cây doi là một loài cây thiêng liêng trong Phật giáo. Dưới gốc cây Diêm Phù Thái Tử Sĩ Đạt Đa lúc đó mới bẩy tuổi ngồi tham thiền lần đầu tiên nhằm lúc dân Ấn Độ làm lễ Hạ Điền (Lễ Cầy Ruộng đầu xuân)… Cây thiêng Diêm Phù thuộc họ cây trâm, cây doi. Diêm Phù chính là từ phiên âm của từ Jambu. Theo giáo lý Phật giáo Núi Tu Di là trung tâm vũ trụ, trục thế giới, bốn phương quanh núi  này có bốn châu. Châu phía nam là Diêm Phù Đề (Jambu dvipa) ứng với xứ Ấn Độ và xứ Sri-Lanka hiện nay vì ở đây có loài cây Diêm Phù Jambu.

…….

2. Xoài.

Xoài được cho là có gốc từ Ấn Độ. Vì thế xoài là một cây linh thiêng trong Ấn giáo.

clip_image012Điện cây sthala-virutcham, đền Ekambareswara.

Tại điện cây sthala-virutcham ở đền Ekambareswara tỉnh Kanchipuram, bang Tamil Nadu, Ấn Độ được cho là có cây xoài già 3.500 năm có bốn cành sinh ra bốn loại xoài. Ta thấy cây này mang hình ảnh cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống), trục thế giới Meru tương ứng với Núi Tu Di Phật giáo có bốn cành với bốn loài xoài ứng với bốn châu của trái đất của Phật giáo.

clip_image014

clip_image016Xoài trong vườn nhà.

Miền Bắc Việt Nam có loài gọi tên là muỗm. Xoài Anh ngữ gọi là mango. Muỗm, mango ruột thịt với Malayalam ngữ manna hay mangga, Dravidian-Tamil ngữ man, xoài.

Xoài vườn nhà trồng thuộc giống xoài tượng ăn xanh dầm nước mắm ớt hay làm nộm, gỏi xoài (với thịt ba chỉ, mực khô, thịt nướng…) hay để chín ăn rất ngọt và thơm.

3. TÁO MINH HƯƠNG.

clip_image018

Cây táo Minh Hương phải che lưới tránh chim, sóc ăn. Phần chỏm cây cao không dám với cao sợ té ngã, để hở chia cho chim ăn. Cây rất sai quả mỗi năm ra hàng ngàn quả.

Cây táo trong vườn nhà thuộc loài táo Tầu lai Táo Ta tôi gọi là ‘Táo Minh Hương’. Quả cỡ vừa phải, thịt chắc, chua chua, ngọt ngọt khác với táo Tầu quả to, xốp và nhạt.

Táo có gốc ta- là lửa, khô, mặt Trời. Ta thấy từ “tá” đi đôi với từ “hỏa” như trong những từ ghép “tá hỏa”, “tá hỏa tam tinh”. Cổ ngữ Mường Việt gọi các vị thần tổ phái nam thuộc dòng mặt trời, dòng lửa là Tá ví dụ Tá Cần, Tá Cài. Ba Tư ngữ tar là lửa. Ông Táo là ông thần bếp lửa. Anh ngữ star, sáng, sao. Vì thế táo cũng có nghĩa là khô ví dụ như táo bón (phân khô, cứng). Trong khi lê là thứ quả có nhiều nước. Lê biến âm với la, lã là nước. Táo nhà trồng không bón phân nên là loại ‘táo không bón’ (!). Bảo đảm ăn táo chúng tôi trồng không bị táo bón!

clip_image020Phơi khô.

Táo phơi khô để hầm, tiềm và nấu chè.

clip_image022Hay đem sấy khô (các bình phía sau là táo Tây vừa mới hết mùa, đã sấy khô).

Táo chín đem sấy khô chừng tám chín phần hãy còn độ dẻo ăn rất ngon.

Theo dân gian Việt Nam táo ta có tác dụng dỗ ngủ. Táo khô dùng nấu trà uống giúp ngủ được. Có lẽ vì vậy mà có một loài chim nhỏ ít ngủ, sáng sáng chừng bốn năm giờ sáng chúng dậy rất sớm hót vang trong chòm cây táo, đánh thức tôi dậy để viết. Chúng rất thích ăn táo vì thế tôi phải che lưới ở phần dưới cây táo để giữ lại một phần cho mình, gia đình, thân hữu ăn còn phần trên cao để hở cho chúng ăn, để giúp chúng đỡ mất ngủ!

4. KHẾ

clip_image024

clip_image026Khế ngọt.

Từ khế biến âm mẹ con với khía. Ta có từ đôi khía cạnh. Khế là thứ trái có khía, có cạnh rất to. Khế cắt ngang có hình ngôi sao 5 cánh nên Anh ngữ gọi là ‘quả sao’ (star fruit), tên Bồ và Tây Ban Nha là carambola gốc từ tiếng Marathi karambal phát gốc từ Phạn ngữ  karmaphala. có nghĩa là ‘đền bù cho hành động, cho việc làm”, ‘đền công’.  Không biết ý nghĩa này có liên hệ gì với truyện cổ tích Ăn Khế Trả Vàng hay không?

Carambolas chứa chất caramboxin và oxalic acid. Cả hai đều hại cho người bị suy thận, có sạn thận hay đang lọc máu thận. Các người bệnh này ăn khế nhiều bị nấc cục, ói, mửa, nửa tỉnh nửa mê và đôi khi có thể thiệt mạng. Caramboxin là một độc tố thần kinh neurotoxin có cấu trúc giống phenylalanine và là chất đối kháng glutamatergic.

Giống như bưởi, khế được coi là một chất ngăn cản mạnh chất cytochrome P450. Vì vậy ăn khế hay uống nước khế với một vài loại thuốc như các thuốc statins làm giảm mỡ trong máu có thể làm gia tăng liều hiệu nghiệm của chúng trong cơ thể.

4. CAM QUẬN CAM, CALI.

clip_image028Cam Quận Cam mỏng vỏ, ngọt, rất thơm, ra quả quanh năm.

Hán Việt cam có nghĩa là ngọt. Cam khổ là ngọt đắng. Trong khi chanh biến âm với xanh có một nghĩa là chua. Chanh chua. Quả xanh là quả chua. Ta có từ đôi đồng nghĩa chanh cốm nghĩa là chanh = cốm vì cùng non và có mầu xanh. Cốm làm từ lúa nếp còn non, vừa chín tới và có mầu xanh. Con gái đang thời chanh cốm là đang thời còn non, còn tuổi xanh và ‘chua dôn dốt’, tuổi ô mai! Xanh biến âm với xống, sống (người Bắc nói sinh, Trung Nam nói sanh). Ta có xanh, sanh = xống, sống. Quả còn sống là quả còn xanh. Ta có xanh xít = sống sít có một nghĩa là còn sống, còn xanh, còn chua. Ăn sống, ăn xít là ăn trái còn xanh, còn chua. Quả me là quả xanh, quả chua. Me biến âm với Pháp ngữ vert, xanh, Tây Ban Nha ngữ verdis, xanh. Ta có từ đôi xanh xít, xanh xao, theo qui luật từ đôi đồng nghĩa của Nguyễn Xuân Quang (Tiếng Việt Huyền Diệu) ta có xanh = xít, sít. Xít, sít ruột thịt với Anh ngữ acid, chua. Qua từ đôi đồng nghĩa xanh xao, ta có xanh = xao. Xao ruột thịt với Việt ngữ sấu là chua. Quả sấu là quả chua. Xao, sấu cũng ruột thịt với Đức ngữ sauer, Anh ngữ sour (/sao ơ/) là chua. Sấu, xao biến âm với Thái Lan ngữ kheeo là xanh.

Quả cam ngọt nhất vào lúc chín cây và ở phía hướng nam của cây. Cam chỉ chín cây thôi, hái xuống không chín nữa. Vì thế phải chờ và biết quả nào đã chín mới hái. Cam bán ở chợ hái còn non vì sợ để lâu mới bán được nên còn chua, không bao giờ có cam ngọt tột đỉnh, không bao giờ bằng cam chín cây vườn nhà (tôi đã viết một bài chi tiết về Cam đăng trên Y Học Thường Thức).

Vì ở Quận Cam nên chúng tôi chọn ở căn nhà có vườn cam có trên ba mươi gốc. Mỗi lần ra vườn lại biết ơn người và vùng Cam Địa Orang County này nói riêng và dân và nước Hoa Kỳ nói chung. Người và nước Mỹ đã cho gia đình tôi một chỗ dung thân, một vùng Đất Cam Ngọt Ngào.

Chim, sóc cũng rất thích cam. Chim khoét ăn ruột, vẫn còn để lại vỏ dính trên cành trông như những thứ trang trí trên cây giáng sinh. Cây  trông vẫn như còn nguyên đầy quả rất đẹp.

clip_image030Chim ăn cam để lại vỏ trang trí cho mùa giáng sinh.

Cam sành.

Cam vỏ sần sùi gọi là càm sành. Từ sành gần cận với từ sần, không biết có phải sần nói sai thành sành hay không? giống trường hợp quả mạng cầu nói sai thành măng cầu hay mãng cầu (xem dưới).

clip_image032Cam sành quả còn xanh.

Nếu quả thật tên là sành thì sành là một thứ đồ gốm. Theo g = c như gài = cài ta có gốm = cộm. Đồ gốm sờ thấy cộm, sần sùi khác với đồ sứ trơn láng. Cam sành da sần sùi, cộm nhám như đồ sành gốm.

Cam sành gần Tết Việt Nam da mới đổi sang mầu cam vàng.

5. QUÍT.

Cùng họ với cam là quít. ‘Quí làm cam chịu’ có nghĩa là quít làm mà cam phải chịu. Cam có một nghĩa nữa là chịu đựng: cam khổ ngoài nghĩa là ngọt đắng còn có nghĩa là cam chịu khổ cực. Thái ngữ som là quít. Som biến âm với cam.

clip_image034Quít ‘bộp’.

Chúng tôi trồng loại quít bộp có vỏ phồng không dính vào múi, tróc vỏ và không hột (vì lười bóc vỏ sát vào múi làm dính tay và phải nhằn hột ra). Mùa này quít bắt đầu đổi mầu. ‘Tháng chín thì quít đỏ trôn’. Ở Việt Nam ‘tháng chín ăn rươi, tháng mười chịu bão’. Vỏ quít ăn mắm rươi.

6. BƯỞI, BÒNG.

Bưởi biến âm với bòng nên có nơi hay có loại gọi là bòng. Bòng ruột thịt với bóng, banh, với Anh ngữ ball. Bưởi bòng có quả tròn như quả bóng, quả banh. Theo b = v, bòng = vòng = tròng = tròn. Ta có từ đôi vòng tròn nghĩa là vòng = tròn.

Người Hoa Kỳ gọi là grapefruit là do giống bưởi bòng Á châu pomelo lai với cam. Grape có một nghĩa là nho. Gọi là grapefruit vì có giống quả tụ lại thành chùm như chùm nho.

clip_image036Bưởi đỏ.

Bưởi đỏ cuối mùa thu ăn đã được. Nhưng thanh trà đến Tết ta mới chín vàng.

clip_image038Bưởi thanh trà chín vào dịp Tết ta.

Bưởi thanh trà thơm, ngọt.

Về y học bưởi được cho là làm xuống cân nên người Mỹ thường dùng ăn sáng. Bưởi có nhiều sinh tố C và được cho là có lợi cho da, áp huyết (vì tăng hấp thụ potassium), tim mạch và ngừa bệnh (antioxidant).

Tất cả các phần của trái bưởi đều dùng được. Ngay cả cùi bưởi cũng dùng nấu chè bưởi và tẩm bột chiên dòn kiểu tempura.

Tuy nhiên, như đã nói ở trên, bưởi giống như khế được coi là một chất ngăn cản mạnh chất cytochrome P450. Vì vậy ăn bưởi hay uống nước bưởi với một nhiều loại thuốc có thể làm gia tăng liều hiệu nghiệm của chúng trong cơ thể như đã nói ở trên. Nước và các sản phẩm khác của bưởi làm tăng liều hiệu nghiệm của các loại thuốc Statins như Atorvastatin, Simastatin, Lovastatin… giúp làm giảm loại mỡ độc hại LDL (cách nhớ: Little Devil) nên hữu ích nhưng có thể gây ra chứng ly giải cơ vân (bắp thịt vân) Rhaddomyolysis mặc dù rất hiếm thấy ( đau bắp thịt và đi tiểu có mầu nâu vì có chất thịt myosine).

Cũng có thử nghiệm cho rằng uống quá nhiều nước bưởi có thể tăng nguy cơ bị ung thư da loại melanoma vì thế nên tránh phơi nắng khi uống quá nhiều nước bưởi, nước cam.

7. HỒNG.

Hiển nhiên tên hồng được gọi theo mầu quả khi chín. Có hai loại chính là hồng dòn và hồng mềm.

clip_image040Hồng dòn.

clip_image042Hồng mềm.

clip_image044Sóc biết xé bao nylon bọc quả hồng, ăn hồng.

Ăn hồng chưa chín như hồng dòn nhiều hay nuốt hột hồng có thể tạo ra sạn thực vật (phytobezoars) trong dạ dầy. Người Nhật thích ăn hồng hay bị sạn thực vật. Coca Cola có thể làm sạn tiêu đi hay nhỏ bớt nhưng phải theo dõi kỹ vì khi nhỏ bớt sạn có thể đi xuống ruột non làm tắc nghẽn ruột. Các sạn cỡ nhỏ sau khi uống Coca Cola nên gắp ra bằng nội soi. Vậy ăn hồng nhiều nên uống Coca Cola và phải nghĩ tới có thể bị sạn thực vật. Sạn thực vật cũng thấy ở loài vật. Không biết mấy chú sóc có thèm uống Coca Cola không?

Có một kỷ niệm mà không bao giờ quên. Hồi mới tới Hoa Kỳ lúc 1975, chính phủ Hoa Kỳ có tổ chức các lớp ôn tập y học cho các bác sĩ tỵ nạn Việt Nam để thi lấy lại bằng hành nghề tại Hoa Kỳ. Tôi học lớp ở Loma Linda, Riverside gần cạnh Quận Cam. Một hôm ôn tập bài học về đường ruột, vị giáo sư hỏi cả lớp có một thứ quả nào thường gây ra sạn thực vật? Cả lớp im lặng. Tôi trả lời quả hồng. Vị giáo sư khen ” Wow! anh bạn đã sẵn sàng đi thi lấy bằng hành nghề y khoa ở Hoa Kỳ rồi”.

8. MẠNG CẦU NƯỚC NGOÀI.

Tôi gọi là mạng cầu nước ngoài để phân biệt với mạng cầu ta (tiếng Trung Nam) hay quả na (tiếng Bắc). Mạng cầu nước ngoài trước đây trong nước gọi là mạng cầu Xiêm vì cho là có gốc từ Thái Lan. Ở ngoại quốc như ở Cali thì có nguồn gốc từ nhiều quốc gia như mạng cầu Do Thái, mạng cầu Úc… Vì vậy tôi gọi chung là mạng cầu ngoại quốc hay nước ngoài. Tên ngoại quốc là cherimoya, soursop được cho là có nguồn gốc ở Colombia, Ecuador, Peru, Bolivia và Chile (vùng núi Andes). Tên có gốc từ ngôn ngữ Quechua là chimimuya có một nghĩa là “cold seeds” (“hạt lạnh”) bởi vì cây mọc ở cao độ và hạt vẫn nẩy mầm được ở vùng cao độ, lạnh.

Mark Twain gọi cherimoya là ‘quả ngon nhất đối với con người’. Thịt mạng cầu có thể chất như bánh sữa trứng custard nên còn gọi là táo custard (custard apple).

Tên quả này người Việt hiện nay hay gọi sai là mãng cầu hay măng cầu. Đúng ra phải gọi là mạng cầu. Quả hình cầu tròn có da hình mạng lưới nên là trái mạng cầu. Rõ hơn thấy qua tên là quả na. Thái Lan ngữ là noina. Na có nghĩa là lưới. Theo biến âm kiểu nết na ta có na = Anh ngữ net, lưới = Hán Việt la, lưới như thấy qua nhóm từ ‘thiên la địa võng’ (lưới trời võng đất) (L là dạng dương của N, Tiếng Việt Huyền Diệu). Thật ra nguồn gốc tận cùng của từ na có nghĩa của gốc Na là Nước. Các vật đánh cá đều có gốc nước như cái nơm úp cá ruột thịt với từc nam có gốc na là nước: sông Menam là sông Mẹ Nước, Thái ngữ nam pla là nước mắm, Việt ngữ nầm, nậm gốc na là nước: bầu nậm là bầu có vỏ làm bầu đựng nước. Na, la, net là lưới, vật dùng đánh cá cũng có nghĩa gốc là nước…

Quả lựu đạn loại có vỏ bằng gang có hình mạng lưới, tiếng lóng gọi là trái na.

clip_image046Mạng cầu ngoại quốc loại nhẵn mặt khi chín, ăn dai và ít ngọt.

clip_image048Loại mặt có gai to, ăn bở, ngọt và thơm như na bở Việt Nam.

Hoa lưỡng tính phái, cái và đực ở cùng một hoa. Khi mới nở hoa là hoa cái sau đó vài giờ sau là hoa đực. Nhưng hoa lại tránh tự thụ phấn. Vì thế cần phải thụ phấn riêng biệt. Thường người trồng mạng cầu phải chấm hoa khi mang tính đực vào hoa khi còn là hoa cái mới thụ được trái. Các nhà thực vật học cho rằng trùng môi (thụ phấn nhờ côn trùng) như ong, bọ chưa hiểu rõ được tận tường. Hiện cho rằng các loài ong không giúp ích gì được trong việc thụ phấn mà chỉ các loài côn trùng nhỏ mới làm được. Tuy vậy, những cây trong vườn nhà tôi để mọc tự nhiên không cần phải chấm phấn hoa mà quả ra nặng trĩu làm cành chấm đất.

clip_image050Quả nặng trĩu làm cành chấm đất.

Trong vườn nhà có nhiều ong mật nhỏ loại ong ruồi. Ong cũng thích làm tổ ngay trên cây mạng cầu.

clip_image052Một tổ ong ở cành cây mạng cầu. Ong đã bỏ đi khi hết mùa hoa.

clip_image054Mạng cầu ngoại quốc da có gai, bở như na bở (với xoài, doi).

Như thế ong ruồi cũng có thể giúp thụ phấn cho cây mạng cầu.

Hạt mạng cầu cherimoya nghiền nát ra rất độc vì thế khi xay làm nước uống phải bỏ hết hột ra. Giống như tất cả các cây thuộc họ na, mạng cầu Annonaceae, cả cây có chứa một lượng nhỏ chất độc thần kinh acetogenins như là annonacin có thể liên kết với chứng Parkinson loại khác thường thấy ở Guadeloupe, Mexico. Những ai bị tay chân run rẩy hay Parkinson nên cẩn thận và chất Moreover trích từ vỏ cây đem chích có thể gây ra tê liệt.

Trước đây trong vườn nhà có trồng Na Việt Nam nhưng na ta ở Cali khó trồng, phải cần săn sóc nhiều. Đi chơi xa về cây bị chết.

9. ỔI.

Có nhiều giống ổi: xá lị, ổi găng, ổi đỏ…

10. MÍT

clip_image056Mít đang độ ăn nộm gỏi mít non.

Việt ngữ mít có gốc từ Phạn ngữ pita, mầu vàng Theo m = p như Mường ngữ pả cua = mai cua, pá = màn, mùng, ta có mít = pit-. Mít vì vậy ruột thịt với với mật (gan) có một nghĩa là mầu vàng như thấy qua câu nói ‘mửa ra mật xanh, mật vàng’. Mật gan Anh ngữ là bile /bai/ có gốc Phạn ngữ paitta (b = p). Bile /bai/, paitta, mật ruột thịt với Phạn ngữ pita, mầu vàng, với mít. Cây mít là cây có quả có múi và gỗ mầu vàng nghệ. Như đã nói ở trên mai, mơ ruột thịt với Phạn ngữ paitta, mật gan mầu vàng. Hoa mai là hoa mầu vàng.

Anh ngữ gọi mít là jack fruit. Tại sao Anh Mỹ gọi mít là jack fruit? Jack có nghĩa là: 1. bồi (người bồi con trai, con bài bồi), đực (jack hare = thỏ đực), 2. cây chống, cây đỡ, con đội xe (Trung Nam), chiếc kích (Bắc)…

Nói chung là cây nọc, que, vật nhọn, bộ phận sinh dục nam (đực, con trai, bồi, boy, kích cũng có nghĩa là khí giới, vật nhọn…). Theo j = ch như Java = Chà Và, ta có jack = chắc = cặc (h câm). Vì thế jack cũng có nghĩa là con trai, đực, vật chống, chông (vật nhọn). Jack là chắc, là cặccọc, là chông, là chống. Con đội xe jack là con chống xe. Từ kích của miền Bắc có một nghĩa với Hán Việt kích (một loại khí giới nhọn) cũng có nghĩa là cọc nhọn hàm nghĩa bộ phận sinh dục nam. Kích biến âm với cặc. Mã Lai Nam Dương có một loại dao găm thiêng tên là kris cũng cùng âm với kích…Jack là bồi là boy cói bòi. Đây là lý do tại sao Tây phương gọi quả mít là jack fruit. Trái mít gọi là trái đực, trái con trai vì quả mít khi còn non trông giống hòn dái phái nam. Chúng ta gọi quả mít non mới ra là dái mít. Anh Mỹ gọi quả mít là jack fruit là gọi theo tên dái mít, quả mít khi còn non mới ra. Ta cũng thấy, Việt ngữ có từ đôi mít đặc, nghĩa là mít = đặc = đực = jack (tre đặc là tre đực). Ngoài ra gỗ mít đặc rất tốt để làm cột nhà. Nhà ngói cây mít. Quả mít = jack fruit là vậy.

11. THANH LONG.

Thanh long thuộc họ nhà xương rồng có nghĩa là Rồng Xanh là gọi theo nhánh trông như xương rồng và leo như rắn rồng.

clip_image058Thanh Long ruột trắng dễ trồng.

clip_image060Thanh long ruột tím khó trồng hơn thanh long ruột trắng.

Thanh long ruột tím nhánh lá nhỏ hơn, quả nhỏ hơn nhưng ngọt hơn và khó trồng hơn.

12. LỰU.

Chim và sóc rất thích ăn lựu ngay cả khi quả còn chưa chín. Quả lựu nhiều hột biểu tượng cho mắn sinh, thịnh vượng. Thần thoại vùng Cận Đông dùng cây lựu làm Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống).

13. HỒNG XIÊM SAPOTE.

Sapote (‘Sao cô chê’) Việt Nam gọi là hồng Xiêm hay hồng Thái Lan, quả có da nhám và ruột nâu như chocolate. Cây hồng Xiêm trong vườn nhà đang ra quả non… nhưng cây hồng trắng Trung Mỹ đang mùa…

clip_image062Hồng Trắng Trung Mỹ.

Hồng Trung Mỹ cũng thuộc họ nhà Sapote. Sopote Trung Mỹ có loại trắng (da xanh), ruột trắng, mềm, hột dẹp thuôn nhọn giống hột hồng Xiêm nhưng mầu trắng.

Ăn rất ngọt giống như bánh trứng sữa custard nhưng còn chút ít mùi hoang dại…

NHÃN

Nhãn là từ giản lược của long nhãn, mắt rồng. Hột giống tròng đen mắt rồng. Vốn người Hưng Yên, chúng tôi trồng nhiều nhãn. Nhãn năm nay mất mùa, mỗi cây chỉ có vài chùm. Sắp ăn được. Có những năm được mùa nặng trĩu quả làm cành chạm đất.

clip_image064Nhãn năm được mùa. Lưu ý tác giả mặc áo hình đĩa thái cực của Đạo giáo. Cây nhãn được bón bằng càn khôn, thái cực, nòng nọc (âm dương).   

…..

Tôi không bón cây bằng phân Bắc, phân chuồng, phân hóa học mà chỉ bón cây bằng… chữ nghĩa. Những khi cần tìm ý, tìm chữ, tìm vần… thường ra vườn tưới cây, đào đất, làm cỏ, nằm võng lơ mơ dưới bóng tre già hay ngồi thiền dưới gốc cây doi Diêm Phù. Vì thế cây nhà lá vườn rất khác với cây trái thiên hạ. Chim thú cũng vui sống hót vang, chậy nhẩy tung tăng trong vườn. Chúng thân thiện như ở Đảo Lapagos.

Vui thú điền viên,

Sống cùng thiên nhiên,

Càn Khôn Vũ Trụ.

Thanh thản tâm thiền.

*

Tóc xanh vạn niên.

Trên đầu không có một sợi tóc bạc.

Trúc Lâm Sơn Trang rợp bóng tre xanh với vườn cây trái nhiệt đới là một mảnh nhỏ quê hương Việt Nam của chúng tôi tại vùng Đất Cam Ngọt Hoa Kỳ.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: