NHỮNG HÌNH DẠNG KHÁC NHAU CỦA NƯỜNG NÕ TRONG CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE (Phần 2) NƯỜNG NỌC QUE ÂM.

.*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài.

.Phải tuân thủ luật Tác quyền Copyright.

CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE.

CHƯƠNG V.

BÀI ĐỌC THÊM.

(Phần 2)

NHỮNG HÌNH DẠNG KHÁC NHAU CỦA NƯỜNG NÕ TRONG CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE.

NƯỜNG NỌC QUE ÂM.

Nguyễn Xuân Quang.

II. BỘ PHẬN SINH DỤC NỮ DIỂN TẢ BẰNG HÌNH MANG TÍNH NỌC ÂM.

Như đã biết qua các bài viết về Chữ Nòng Vòng Tròn thì chữ nòng chấm rỗng, chữ nòng một vòng tròn O, từ hai nòng vòng tròn OO và từ ba nòng vòng OOO dương hóa cực đại sẽ trở thành chữ nọc chấm đặc, chữ nọc que, từ hai nọc que và từ ba nọc que của phía nòng âm hay nói một cách khác là mang Tính Nọc Âm. Như thế theo duy dương, ở ngành dương, dương thái dương hay ở thời phụ quyền cực đoan nường, yoni có thể được diễn tả bằng các dạng âm mang tính dương, thái dương tức nọc âm như vừa nói ở trên.

Như vậy nường yoni có thể ở dưới dạng:

1. Nường Yoni nòng chấm đen.

Lưu Ý

Ở đây phía nòng âm nên phải là nòng chấm đen vì mầu đen là mầu âm thái âm để phân biêt với nòng chấm rỗng mang âm tính phía nòng âm và nọc chấm đặc mang dương tính phía nọc dương.

Nòng chấm đen là dạng nguyên tạo tí hon của nòng đĩa tròn đen.

Ví dụ:

Trở lại biểu tượng Mật Tông yoni-lingam hình yoni hoa sen, búp sen đã nói ở trên:

clip_image001Biểu tượng Mật Tông yoni-lingam với yoni hình hoa sen, búp sen hướng địa (nguồn: http://shaktirising.tripod.com).

Ta có hình chấm đậm ở trên cao bên phải của người nhìn có một khuôn mặt diễn tả yoni nòng chấm đen nguyên tạo lưỡng hợp nòng nọc (âm dương) với nõ nọc chấm đặc lợt ở bên trái dưới dạng lưỡng nghi, lưỡng cực cõi sinh tạo, tạo hóa.

Các lỗ sinh dục hình nọc chấm đen cũng có thể có một khuôn mặt là yoni nòng chấm đen nguyên tạo như thấy ở hình thần nữ Thiên Nhiên Lajjigaudi đã nói ở trên.

2. Nường Yoni Nọc Que Âm.

a. Nường yoni nọc que âm diễn tả hình kẽ, khe.

Nọc que ở đây là do nòng O dương hóa cực đại mở ra thành nọc que tức mang tính gốc nòng âm không phải là nọc que ngành nọc dương (có một khuôn mặt biểu tượng cho nõ linga).

Nọc que âm mang tính dương này diễn tả kẽ, khe, rãnh có nghĩa chỉ bộ phận sinh dục nữ ứng với:

-Việt ngữ cổ ke có một nghĩa là bộ phận sinh dục nữ (Từ Điển Việt Bồ La, Alexandre de Rhodes). Ke biến âm mẹ con với kẽ như kẽ tay  khe.

-Với c = k = g như cài = kài = gài, ta có khe = ghe. Ghe có một nghĩa chỉ bộ phận sinh dục nữ (Tiếng Việt Huyền Diệu).

-Cổ ngữ dánh chỉ âm hộ (Từ Điển Việt Bồ La, Alexandre de Rhodes). Dánh chính là rãnh.

Ví dụ nường hình ke, kẽ, khe:

clip_image003Âm hộ hình khe khắc trên răng hàm voi mammoth vào thời đầu Cổ Thạch tìm thấy trong mộ của một pháp sư ở Brno (Moravia)

(Photo: Don Hitchcock 2018, Original, Anthropos Pavilion/Moravian Museum, Brno, Czech Republic).

clip_image004Yoni hình khe và Linga của Ấn giáo ở Nam Dương (ảnh của tác giả).

Yoni hình khe đã bị lai với văn hóa Nòng Việt hải đảo. Yoni Linga lưỡng cực sinh ra tam thế diễn tả bằng ba hòn đá.

b. Nường Yoni Nọc Que Âm Có Lỗ.

Về sau khi dùng trong hệ thống hình tự, chữ nòng nọc vòng tròn-que, dịch học đã mang tính nòng nọc (âm dương) qui củ, rành mạch thì khi nọc que âm diễn ta âm hộ đứng riêng rẽ thường diễn tả bằng nọc que có lỗ tức nọc que đứt đoạn để phân biệt và tránh hiểu nhầm với nọc que đực, dương biểu tượng nõ linga (và dùng làm hào dương).

Ví dụ hào âm trong dịch Trung Quốc diễn tả bằng hình nọc que đứt đoạn: clip_image006. Phần đứt đoạn diễn lả lỗ âm hộ. Trong khi ở dịch nòng nọc vòng tròn-que như thấy trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn thì hào âm diễn tả bằng nòng vòng tròn O, lỗ sinh dục nữ. Dịch Hoa Hạ Trung Quốc là dịch que vì hào âm và hào dương đều có hình que. Dịch que là dương dịch của phía nọc dương, võ biền hay ở vào thời xã hội phụ quyền ngự trị. Dịch que Trung Quốc vì thế là một loại dịch muộn so với dịch nòng nọc vòng tròn-que Đông Sơn.

3. Hai Nọc Que Âm Ghép Lại.

Ở đây hai nọc que mang âm tính do hai nòng OO dương hóa cực đại tạo thành mang tính thái dương của phía nòng, âm.

 

-Hai Nọc Que Âm Ghép Lại Thành Hình Chữ V Diễn Tả Âm Hộ.

Chữ V thường do hai nòng OO dương hóa cực đại mà thành, có một khuôn mặt diễn tả âm hộ, phần bên ngoài bộ phận sinh dục nữ.

Ví dụ chữ V biểu tượng cho bộ phận sinh dục cái thấy trong các token, tiền thân của chữ nêm Sumer, một thứ chữ viết được cho là cổ nhất của loài người.

clip_image008

 Token chỉ cừu cái (“female sheep/ewe.”) (Before Writing Vol. I (©1992) by Denise Schmandt-Besserat, page 143 circa 6,400-5,100 years old (“4400-3100 B.C. [Uruk XVII-IVa]” page 198) (http://www.originofalphabet.org/, Jennifer Ball).

Âm hộ chữ V này có tuổi 6.400 năm. Về sau trong chữ nêm Sumer, hậu thân của các token, V được dùng chỉ bộ phận sinh dục nữ, chỉ giống cái, ví dụ:

clip_image010

Hàng trên dê vú nuôi và hàng dưới dê non cái có hình V nằm ngang chỉ bộ phận sinh dục cái.

.Đại Hàn cũng có nường hình chữ V.

clip_image012Một cặp nường nõ thờ ở trước một nhà Đại Hàn (ảnh của tác giả chụp tại Đại Hàn).

Nường đầu hình chữ V trong khi nõ đầu hình đầu rùa.

.Trong The Da Vinci Code, Dan Brown cho rằng khoảng hở chữ V giữa Đức Chúa và người đệ tử tên John trong bức tranh Bữa Ăn Tối Cuối Cùng (The Last Supper) của Leonard Da Vinci là mật mã cho biết John là một người nữ (Da Vinci Code và Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que).

.V chỉ bộ phận sinh dục nữ trong Việt ngữ.

Âm hộ V nầy ứng với từ Vê (V) có một nghĩa chỉ âm hộ. Việt ngữ có từ đôi hay láy Vú Vê. Nếu cho là từ đôi dị nghĩa thì ta có hai danh từ Vú và Vê. Trong trường hợp này ta có V (Vê) chỉ âm hộ. V âm hộ giống như khoảng hở chữ V trong bức tranh Bữa Ăn Tối Cuối Cùng mà Dan Brown cho là một mật mã. Đệ tử John có âm hộ V (Vê) là một người nữ. Còn nếu coi Vú Vê là một từ láy đồng nghĩa thì thành tố láy V có nghĩa là Vú. Vú Vê là Vú Vú tức chỉ cặp vú. Cặp vú diễn tả bằng hai chữ V thấy rõ qua Nhật ngữ mama (má, mẹ, vú em):

clip_image014

 Mama diễn tả bằng cặp vú hình hai chữ V. (Jennifer Ball, Origin of Alphabet).

Xin nhắc lại người Việt cũng gọi mẹ là vú (vú em, vú già, mẹ vú).

Đàn bà có hai thứ hấp dẫn, thu hút phái nam là Vú và ‘Vê’ âm hộ. Như thế trong Việt ngữ cũng có V chỉ âm hộ, chỉ có một điều là ta không biết tuổi của chữ Vê vì không biết từ đôi/láy Vú Vê có từ lúc nào.

.V chỉ âm hộ hay liên hệ với âm hộ trong Việt ngữ:

-Vê

Trong từ đôi dị nghĩa vú vê như đã nói ở trên.

-Ví: âm hộ.

Ví là túi, bao (hầu bao) đựng đồ vật hay tiền. Bao túi có một nghĩa là nang, nàng, nường (nang là túi, bao. Dạ con, âm đạo là một thứ túi, bao. Anh ngữ vagina, bao kiếm, âm đạo. Theo v=b, ta có vag = bag (bao, túi).

Phái nữ có ví da người nên thích có ví vật liệu ‘xịn’ để ngầm khoe ví nường của mình cũng là ‘hàng hiệu’!

-Vợ.

Vợ là đàn bà có V, có Vớ (bao chân), Vờ (xác, vỏ, bọc như con vờ, lột xác, xác như vờ), Vở (vở nguyên thủy làm bằng vỏ cây). Bao, bọc, vỏ là âm đạo.

.V chỉ âm hộ trong Hán Ngữ.

Theo Jennifer Ball các từ Hán có chữ clip_image016 hình ‘chữ V’ quay ngang theo cùng chiều kim đồng hồ tức chiều âm cũng có nghĩa liên hệ với yoni. Ví dụ:

clip_image018

Sil hay mou có một nghĩa là riêng tư, kín, bí mật, âm hộ? trông giống chữ V quay ngang.

clip_image020

Riêng tư, kín, bí mật, thành quách, kén (âm hộ?)

Theo tôi có vẻ gượng ép.

.V chỉ nường, yoni trong các ngôn ngữ khác.

Ví dụ như trong Ấn-Âu ngữ:

Pháp ngữ vulve, Anh ngữ vulva (âm hộ), Pháp vagin, Anh, Tây Ban Nha, Ý, Bồ vagina, âm đạo, Anh ngữ womb, dạ con…

……

-Hai Nọc Que  Âm Ghép Lại Hình Chữ V Ngược  clip_image0262 .

Diễn Tả Âm Hộ.

Nhiều khi V ngược cũng diễn tả nường yoni.

Ví dụ trong chữ nêm Sumer V ngược chỉ khe âm hộ của các con thú cái:

clip_image023(Script depictions and info from http://www.ancientscripts.com/linearb.html).

(Nguồn Gốc Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que).

Việt ngữ có từ khu đĩ, lồn mèo. ‘Lồn mèo: Đầu hồi, góc chụm hình tam giác nơi hai mái nhà giáp nhau: Dán bùa lồn mèo’ (Lê Văn Đức, Việt Nam Tự Điển).

Vì là khu đĩ nên đây là chỗ ‘của quí’ và thiêng liêng của nhà vì thế mới là nơi dán các bùa ngải như ‘dán bùa lồn mèo’, treo các biểu tượng tín ngưỡng, dòng tộc thiêng liêng ví dụ như ở các đền, điện, lâu đài Nhật Bản thường trang trí bằng các biểu hiệu dòng tộc hay hình mặt trời hoa cúc, biểu tượng của thái dương thần nữ Amaterasu:

clip_image024Khu đĩ, lồn mèo ở lâu đài Osaka (ảnh của tác giả).

Lồn mèo thật ra phải hiểu theo hình chữ V ngược clip_image026 mới đúng hơn, hữu lý hơn là tam giác thuận như nhà làm từ điển Lê Văn Đức như vừa nói ở trên  (tam giác thuận biểu tượng nõ, bộ phận sinh dục nam như thấy ở bảng hiệu phòng vệ sinh nam).

Ở đây ta thấy mèo là loài thú vật nên có lồn V ngược clip_image026 giống hệt yoni của heo cái, cừu cái, bò cái trong chữ nêm Sumer thấy ở hình trên.

Và nhà vốn là con cháu của lỗ, hang, huyệt thời tiền sử khi con người còn ăn lông ở lỗ. Lồn mèo chữ V ngược clip_image026[1] chính là hình ảnh của hang, khe hang như thấy rõ qua Hán ngữ /bì/, Hán Việt bi, từ chửi thề, có nghĩa lồn, lỗ lồn. Bì, bi gồm chữ 尸 /shi/, thi, thây, người-ngồi xổm (person-squatting) và 穴 /xué/, huyệt (lỗ, hang). Lồn hình hang lỗ, khe ở thân người (nữ) khi ngồi xổm (giới giang hồ có câu: đi nhai, đứng ngậm, ngồi cười). Chữ huyệt 穴 trông cũng giống người đứng dang tay xoạc rộng hai chân ra. 

Hình huyệt, hang phía trên có mái bao phủ 宀 (bộ miên) và khe hang hình giống chữ V úp ngược clip_image026[2] (giống khu đĩ, lồn mèo của Việt Nam, yoni của heo cái, cừu cái, bò cái của chữ nêm Sumer).

Có một điều thú vị dù có là trùng hợp đi nữa là lồn bì, bi ở đây cùng âm với ngọc Pi, Bi hình đĩa tròn có lỗ cũng có nghĩa gốc là nường, âm hộ giống như đĩa đá tròn âm hộ đã có từ thời Cổ Thạch (Nguồn Gốc Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que).

Ta thấy /bì/ cùng âm với Hán Việt bì là bao, bọc (phong bì, cân trừ bì), là da (bì phu) (da là túi bao bọc thân người, Thái ngữ nang là da. Nang là bao túi). Bì, bi biến âm với Việt ngữ bí, bầu có một nghĩa là bao, bọc (thứ rau leo có quả hình bao, túi, bọc, vỏ khô làm vật đựng chất lỏng) và với Việt ngữ bị là túi, bao (đâm bị thóc, chọc bị gạo), người Trung gọi bọc, túi quần áo là bị (pocket) (Anh ngữ pocket ruột thịt với Việt ngữ bọc và pouch với bao). Bọc, túi, nang ruột thịt với nàng, nường có một nghĩa là âm đạo, lồng (lồn).

Hán ngữ bì chỉ lồn theo lỗ, hang tương tự ‘chốn ấy hang hùm’ của Hồ Xuân Hương.

Việt ngữ còn có từ đồ có một nghĩa là thầy đồ dậy đồ sinh (học trò) dậy đồ chữ, tô chữ, vẽ chữ và cũng có một nghĩa chỉ bộ phận sinh dục nữ: “đồ nọ với đồ kia”. “Ba đứa tranh nhau một cái đồ” (Nguyễn Khuyến). Tại sao thầy đồ nọ lại cùng nghĩa với đồ lồn kia? Đồ lồn (lồn già là đồ thâm) dính dáng tới thầy đồ dậy chữ (thầy đồ thâm nho cũng là đồ thâm) như thế đồ lồn liên kết với thầy đồ chữ nghĩa thì đồ lồn phải liên hệ với chữ thánh hiền, chữ Hán. Ta có từ Hán đồ cũng đọc là bỉ: 啚 bỉ, đồ: 1: cũng như chữ bỉ Nay dùng làm tiếng để chia vạch các vùng đất. Tục đọc là chữ đồ 2: cái tranh vẽ. Như đồ họa 圖畫 tranh vẽ, địa đồ 地圖 tranh vẽ hình đất (Hán Việt Từ Điển Thiều Chửu).

Ta thấy rõ đồ/bỉ này biến âm mẹ con với Hán ngữ /bì/, Hán Việt bi có một nghĩa là lồn vừa mới nói ở trên. Rõ ràng các thầy đồ thâm nho đã chơi chữ đánh lận lấy nghĩa bì, bi lồn cho đồ bỉ. Nhìn mặt chữ ta cũng thấy từ đồ bỉ 啚 có chữ 㐭 lǐn/lẫm có một nghĩa là kho gạo, vựa, bồ ngũ cốc (grain-silo) gồm chữ khẩu 口 nhỏ mang hình ảnh hạt gạo, hạt ngũ cốc bao bọc bởi chữ vi 囗 hình vuông lớn manh hình ảnh bồ, vựa chứa, thành, tường bao quanh kho chứa gạo, ngũ cốc. Nhìn dưới diện chữ nòng nọc vòng tròn-que qua nhất là theo dạng chữ triện clip_image001 ta thấy rõ chữ khẩu nhỏ tròn là hạt gạo là chữ/dấu nòng chấm rỗng nguyên tạo và chữ vi vòng tròng lớn là chữ nòng O có một nghĩa chỉ lỗ âm hộ. Gộp lại vòng tròn nòng O có dấu nòng chấm rỗng tí hon có nghĩa là nường, lồn sinh tạo. Kiểm chứng lại ta cũng thấy chữ Vi hình vuông, hình tròn cũng diễn tả yoni vuông, yoni tròn trong Ấn giáo và hình vuông vi chứa gạo, cây lúa, mạ, Hán Việt miêu mang hình ảnh ruộng đồng, điền (mặt vuông chữ điền). Ruộng đồng, điền có một nghĩa bộ phận sinh dục nữ, mẹ (xem dưới).

Muôn về sau này khung vuông có một khuôn mặt biểu tượng cho đất vuông âm thái dương (vì thế mới có các nghĩa liên hệ với đất như chia vạch các vùng đất, địa đồ). Còn đồ kia có nghĩa là thầy đồ cũng thấy qua từ 闍 đồ, xà: 1: Nhân đồ 闉闍 cổng thành. 2: Một âm là Xà lê 闍黎 tiếng Phạn, thầy tăng, ông thầy coi học trò (Hán Việt Từ Điển Thiều Chửu). Ta thấy rõ có mối liên quan mật thiết giữa “đồ nọ với đồ kia” qua trò chơi chữ của các ông đồ thâm chữ Hán. Đồ  với âm bỉ cùng âm với lồn bì, bi và với âm đồ  cùng âm với (thầy) đồ nên đồ (thầy) cũng lấy chung nghĩa lồn để châm biếm.

4. Yoni Hình Chữ U.

Chữ U ruột thịt với chữ V đã viết rõ ở bài Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que và Mẫu Tự ABC.

Chỉ xin nhắc sơ qua lại. Như đã biết U là dạng dương hóa âm nữ thái dương của O và V là dạng âm nam thái dương của O. Vì thế U cũng diễn tả yoni. Ví dụ điển hình là hình ngữ đàn bà khắc trên đá của thổ dân Úc hình vòm nường, nòng chữ U ngược clip_image027 và hình ngữ đàn ông là hình nõ nọc que thẳng đứng clip_image028

clip_image029Hình khắc trên đá của thổ dân Úc châu: Bốn nhóm người hai phái ở vị trí tứ phương quanh một giếng nước.

Hình U úp ngược diễn tả âm đạo thấy rõ qua hình ngữ làm tình của Thổ Dân Miền Tây Nam Hoa Kỳ hay ở cây gậy Was của Ai Cập cổ như đã biết.

5. Ba Nọc Que Âm Ghép Lại.

-Nường Tam Giác Ngược.

Ba nọc que âm ghép lại thành hình tam giác ngược thường diễn tả âm hộ.

Trong chữ nêm Sumer hình tam giác ngược chỉ âm hộ, đàn bà gọi là sal.

-Nghĩa âm hộ.

clip_image030

Âm hộ.

.Gala: âm hộ.

clip_image031

Âm hộ gal biến âm với sal (g = c = s), với Anh ngữ gail, Việt ngữ gái. Gail và gái có ga-.

.Mug: âm hộ.

clip_image033

Mug có mu- biến âm với Việt ngữ mu, mụ.

-Đàn bà.

clip_image035
Chữ Sumer “woman,” (đàn bà.)

Hình âm hộ clip_image036 sal cũng được dùng như một tính từ hay một chỉ định tố (determinative), một dấu (accent) chỉ cái, giống cái.

.Ví dụ như cừu cái (kir).

clip_image037

clip_image038

Và các từ có nghĩa chỉ các bộ phận cơ thể gần cận âm hộ hay liên hệ với phái nữ (xem Nguồn Gốc Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que).

Âm hộ hình tam giác ngược đã thấy từ thời Cổ Thạch.

clip_image040Tảng đá âm hộ hình tam giác ngược ở Abri Castanet,
Photo: © Raphaëlle Bourrillon
Source for the photo: http://www.livescience.com/20278-gallery-europe-oldest-rock-art.html

Sau này thấy trong các nền văn hóa cổ loài người. Ví dụ:

.Nữ thần Mẹ, Mẹ Tổ, Mẹ Nguyên Khởi của loài người, Nữ Thần Mắn Sinh như nữ thần Asherah có nhiều tên tùy ở vùng địa lý được thờ phượng như Astarte, Ashtoreth, Atargatis, Athirat, Venus, Isis, Juno, Ishtar, Aphrodite, Hadad vân vân… bộ phận sinh dục của nữ thần được diễn tả bằng hình tam giác ngược cường điệu.

clip_image041Nữ thần mắn sinh Ashera có bộ phận sinh dục nữ diễn tả bằng hình tam giác ngược cường điệu (nguồn: watchmanscry.com).

clip_image042Nữ thần mắn sinh Astarte vùng Lưỡng Hà có bộ phận sinh dục nữ diễn tả bằng hình tam giác ngược cường điệu (nguồn: Richard Cavendish, Illustrated Encyclopedia of Mthology).

Trong Ấn giáo và nhất là phái mật tông có những đồ hình thiền định hay thiền đồ (yantra) âm vật (yoni) tam giác ngược:

clip_image043Yoni Yantra (Nguồn: pinteresr.com).

Tam giác ngược ở tâm biểu tượng dạ con vũ trụ, nguyên lý nguyên tạo nữ (primal female principal). Vòng tròn đài sen có những hột sen diễn tả bầu trời sao.

Hoa sen biểu tượng cõi nước [Hoa có 8 cánh. Số 8 là số Khôn tầng 2 thế gian (0, 8). Khôn OOO âm (sen loài hoa mọc dưới nước) là nước O thái âm OO] lưỡng hợp với lửa thái dương Càn. Hình vuông diễn tả cõi đất âm thái dương. Bốn cổng chữ T biểu tượng tứ tượng ngành nọc âm thái dương. Yoni yantra diễn tả trọn vẹn vũ trụ tạo sinh phát nguồn từ dạ con vũ trụ, hình tam giác ngược yoni nguồn gốc nguyên thủy vũ trụ.

Trong tranh dân gian Việt Nam.

clip_image044Tranh dân gian Việt Nam (sưu tập của Oger).

Trên tường Nhà hàng đồng có ‘graffiti’ hình âm hộ hình tam giác ngược (hình nhìn nghiêng) đi cùng theo hàng chữ nôm “Đéo mẹ cha đứa nào ở trong cái nhà này”.

Nường tam giác ngược giống cái quạt giấy cũng thấy trong thơ Hồ Xuân Hương Vịnh Cái Quạt ‘vành ra ba góc da còn méo’… Ba góc là tam giác! Tây phương nhất là trong văn hóa Tây Ban Nha dùng quạt biểu tượng cho nàng, cho nường. Tại Puerto Rico, quạt hình tam giác ngược được dùng làm bảng hiệu phòng vệ sinh nữ:

clip_image045Quạt hình tam giác ngược được dùng làm bảng hiệu phòng vệ sinh nữ (ảnh của tác giả).

Vì thế phái nữ quí phái phương Tây cũng thường cầm quạt sang trọng để khoe nường hình quạt của mình (giống trường hợp ví).

-Nường Yoni Hình Chữ Y.

Theo duy âm, chữ Y do ba nọc que âm ghép lại với đầu chỉ địa mang âm tính nên ruột thịt với tam giác ngược cũng do ba nọc que ghép lại. Vì thế Y cũng biểu tượng cho nường yoni.

Về cơ thể học Y biểu tượng cho dạ con và âm đạo, thấy rõ qua Yoni ở đền Sukuh, Đông Java, Indonesia.

clip_image046Yoni ở đền Sukuh, Indonesia (nguồn: en.wikipedia).

Tây phương gọi hình Y này là ly, cốc có chân (chalice) và cũng cho là có một khuôn mặt biểu tượng cho nường yoni.

clip_image048Cốc có chân chalice hình Y biểu tượng cho bộ phận sinh dục nữ.

Thật sự chalice Y phải diễn tả dạ con và âm đạo như vừa mới nói ở trên. Hiểu theo hình cốc chalice có phần chân là kẽ hai đùi như hình ở đây là sai.

Y cũng gọi là chạc, chẽ hai Y (fork, Latin furca). Từ chạc Y đôi khi được coi là biểu tượng bộ phận sinh dục nữ liên hợp với đinh ba hay chẽ ba bộ phận sinh dục nam (The Y-shaped fork was sometimes regarded as a female genital symbol, in conjunction with the male trident or three-pronged fork). Điểm này cho thấy rõ Y là do ba nòng OOO Khôn dương hóa cực đại ở phía nọc dương nên lưỡng hợp với đinh ba Càn III dưới dạng Khôn Càn ở phía nọc, dương.

Ta cũng thấy Hán ngữ clip_image050 /yã/, Hán Việt là a: kẽ như kẽ tay, chạc (bifurcated, forked) như chạc cây. Như đã nói ở trên Việt ngữ cổ ke có một nghĩa là kẽ, khe chỉ bộ phận sinh dục nữ. Dân dã Việt Nam cũng gọi nường là ‘ngã ba đời’ (ngã ba có hình chữ clip_image050[1], hình chạc cây). Nên clip_image050[2]/yã/a cũng có một nghĩa liên hệ với hay chỉ bộ phận sinh dục nữ như thấy qua clip_image051 yã/a chỉ nô tỳ:

clip_image052(Jennifer Ball, Origin of Alphabet).

yã huan/a hoàn: con ở, con nhài, con sen, con đòi. Yã/a ruột thịt với Việt ngữ ả (con ả, cô ả, ả đào), ả có a (kẽ, khe, ngã ba đời). Từ ả mang tính khinh miệt vì liên hệ với nường, lồn. Một điểm lý thú là Việt ngữ con đòi có đòi là biến âm mẹ con với đoi (có một nghĩa là lồn). Con đòi là con hĩm. Con đòi có đoi. Việt ngữ con nhài gọi theo hoa nhài, hoa lài, loài hoa nở về đêm liên hệ với phái nữ, gái ăn sương. Ngày xưa ở Saigon có khu Vườn Lài là khu gái bán dâm. Con sen gọi theo hoa sen, loài hoa mọc dưới nước chỉ con bé gái hầu nước, lo việc nước nôi trong nhà. Mari sến (sen nói trại đi) là gái gánh nước. Nhạc sến là nhạc gái gánh nước hát. Như đã biết hoa sen có một khuôn mặt biểu tượng cho bộ phận sinh dục nữ thấy nhiều trong mật tông Phật giáo và Ấn giáo. Như thế các từ gọi gái ở, nô tỳ đều gọi theo bộ phận sinh dục nữ.

Phạn ngữ Yoni, bộ phận sinh dục nữ khởi đầu bằng chữ Y. Hán ngữ clip_image050[3]/yã/ họ hàng với yoni….

6. Bốn Nọc Que Âm Ghép Lại.

-Yoni Hình Vuông.

Như đã biết nòng O chuyển động dương hóa sinh ra hình vuông. Hình vuông là do bốn nọc que âm hợp lại mang tính âm thái dương bậc bốn (quaternary) đất thế gian có nhiều tính tĩnh.

Ví dụ yoni vuông thường thấy trong Ấn giáo đi cặp với linga.

clip_image053Yoni vuông.

Yoni vuông mang tính âm thái dương bậc bốn hay chữ nhật mang tính âm thiếu dương bậc bốn cũng thấy trong văn hóa Peru:

clip_image054

Nữ Thần Tạo Hóa Incas vùng Núi Andrea (nguồn: Arthur Cotterell, The Encyclopedia of World Mythology, Barnes & Noble, NY 1999).

Thần nữ này có yoni hình chữ nhật.

Bánh Chưng Vuông Việt Nam.

Cũng xin nói thêm về hình dạng chiếc bánh chưng của Việt Nam. Miền Bắc làm bánh chưng vuông, nhìn theo diện nòng nọc (âm dương) thì bánh chưng vuông có một khuôn mặt nường, yoni đất âm thái dương [Đất nòng yoni âm thái dương Âu Cơ lưỡng hợp với bánh dầy tròn Trời (dạng nõ, linga nọc chấm đặc nguyên tạo) dương thái âm Lạc Long Quân]. Trong khi Trung Nam làm bánh tét hình trụ tròn có một khuôn mặt biểu tượng nõ, linga nọc que (lưỡng hợp với bánh tổ nường yoni nòng vòng tròn O). Bánh Ú là bánh U (u phồng là nghĩa của vú), bánh có một khuôn mặt là bánh Vú.

-Yoni Hình Thoi.

Hình thoi đứng coi như là một dạng hình vuông đứng trên một đỉnh nhưng chuyển động nhiều hơn nên góc không còn vuông nữa vì vậy có hoạt tính, hoạt động (active) hơn, năng động (dynamic) hơn  hình vuông tĩnh.

clip_image055

Giống hình vuông, hình thoi mang tính âm thái dương bậc bốn của nòng vòng tròn O.

Hình thoi Anh ngữ gọi là lozenge, rhombus, diamond. Motif hình thoi ở Đông Âu thấy từ thời Cổ và Tân Thạch diễn tả cánh đồng đã gieo hạt giống và mắn sinh nữ. Cánh đồng đã gieo hạt giống mang tính sinh tạo, sản xuất mang hình ảnh của yoni vuông chữ điền (như thấy trong chữ đồ/bỉ ở trên).

Ta cũng thấy Hán ngữ điền (ruộng) hàm ý sinh tạo của nường yoni qua từ chỉ gái đẹp có chữ điền trong chữ miêu 苗 (cây mạ, mầm sinh tạo):

clip_image057

(Jennifer Ball, Origin of Alphabet).

clip_image059

Từ chỉ gái điếm này cũng có chữ miêu có chữ điền, chỉ khác có bộ nhân thay cho bộ nữ.

Điểm này ăn khớp với Việt ngữ đồng là mẹ (đồng áng là mẹ cha, bà đồng là mẹ bóng, Mã Nam Dương indong là mẹ).

Rõ ràng đồng, điền hình vuông chữ điền mang tính sinh tạo, sản xuất mang hình bóng của yoni vuông như yoni vuông của Ấn giáo. Yoni hình thoi là dạng chuyển động của yoni hình vuông vì thế mà motif hình thoi ở Đông Âu thấy từ thời Cổ và Tân Thạch đã diễn tả cánh đồng đã gieo hạt giống (tương tự đồng mạ, miêu) và mắn sinh nữ.

Trong thảm Berber hình thoi là yếu tố âm duy nhất biểu tượng nữ. Theo Hentze (cit. Eliade, 17) hình thoi biểu trưng (emblematic) cho bộ phận sinh dục nữ (Cirlot, A Dictionary of Symbols).clip_image060clip_image061

clip_image062Trong các biểu tượng yoni có hình thoi, hình quả trám và hình hạnh nhân dạng con thoi dệt vải  (nguồn: pixshark.com).

Các dụng cụ dùng trong khung cửi Việt Nam hình quả trám, hạt hạnh nhân mang hình ảnh của yoni hình thoi thon tròn vì thế mới có tên gọi là lồn xa lá tre, lồn xa lá vông…

Tóm Lược.

Nường yoni có hình dạng khác nhau mang nghĩa sinh tạo, tính nòng nọc (âm dương)  khác nhau và ứng với các phần cơ thể học khác nhau của bộ phận sinh dục nữ.

Trong Việt ngữ những từ chỉ nường cũng vậy.

-Lồn với nghĩa lồng chỉ chung toàn thể bộ phận sinh dục nữ: lồng là vật chứa, đựng thường có mái vòm (lồng chim, nhà lồng, lưới trời lồng lộng) ứng với dạ con ( tử cung), âm đạo và dùng rộng ra chỉ cả phần bên ngoài: âm hộ, cửa mình. Lồn biến âm với yoni. Yoni cũng chỉ toàn thể bộ phận sinh dục nữ.

-Nường (nõ nường) có gốc nang là túi bao cũng có nghĩa là dạ con, âm đạo.  Nường biến âm với nòng, vòng (tròn) cũng chỉ lỗ tròn sinh dục nữ.

-Vê (Vú Vê) có một nghĩa chỉ âm hộ hình chữ V.

-Ke, Khe chỉ âm hộ hình nọc que âm, hình kẽ, khe.

-Ghe chỉ âm hộ hình khe hay hình con thoi (có loại thuyền, ghe gọi là thuyền thoi).

-Dánh (Rãnh) giống như khe (khe rãnh, khe nước).

-Lá đa chỉ hình âm hộ và lỗ bộ phận sinh dục nữ.

-Hang hùm chỉ lỗ, khe âm hộ, âm đạo.

-Đồ/bỉ ruột thịt với Hán Việt bi (lồn) chỉ hang, khe, lỗ âm hộ.

-Cửa mình chỉ cửa, lỗ, khe, âm hộ (hộ là cửa).

-Quạt tam giác ngược chỉ âm hộ.

-Ngã ba đời hình Y chỉ phần ở giao điểm của thân và hai chân. Nhìn bên ngoài là âm hộ. Nhìn theo cơ thể học bên trong là dạ con và âm đạo.

……..

(còn nữa).

Đón xem Những Hình Dạng Khác Nhau Của Nõ Trong Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que sẽ đăng trong các số tới, sau khi tác giả đi chơi xa về).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: