Ý NGHĨA NGÀY 8 THÁNG 4 PHẬT ĐẢN SINH.

.*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài.

.Phải tuân thủ luật Tác quyền Copyright.

Ý NGHĨA NGÀY 8 THÁNG 4 PHẬT ĐẢN SINH.

Nguyễn Xuân Quang.

Trước đây Phật giáo chọn ngày 8 tháng 4 âm lịch làm ngày Phật đản, gần đây Phật giáo thế giới đổi qua ngày 15 tháng 4 và gọi là ngày Vesak. Dĩ nhiên cũng giống như ngày Chúa Giáng Sinh, ngày Phật đản không thật sự là ngày đích thực Phật ra đời (bằng chứng là đã đổi từ ngày này sang ngày khác được). Vì thế tháng tư âm lịch được cho là mùa Phật đản, các chùa có thể chọn các ngày khác nhau trong tháng tư làm ngày Phật đản.

clip_image001clip_image002Cảnh Hoàng hậu Maya sinh ra Đức Phật ở vườn Lâm Tỳ Ni tại hang số 2, cũng được gọi là Hang Phật Sinh trong quần thể Hang Động Phật Ajanta ở Aurangabad, Ấn Độ (xem bài viết cùng tên này) (ảnh lớn của tác giả mờ vì không được dùng flash. Ảnh nhỏ của Wikipedia).

Hiển nhiên ngày 8 tháng 4 nguyên thủy phải mang một ý nghĩa gì liên hệ với Phật và Phật giáo. Ngày này phải hiểu theo ý nghĩa tín ngưỡng, tôn giáo. Con số 8 và 4 phải hiểu theo tín ngưỡng thờ phượng giống như các con số ngày tháng giỗ kỵ của Hùng Vương, Thánh Dóng Phù Đổng Thiên Vương, Hai Bà Trưng… (xem các bài viết này). Các con số này phải hiểu theo vũ trụ thuyết dựa trên nguyên lý nòng nọc (âm dương) của dịch học.

Vậy trước hết ta phải tìm hiểu xem số 8 và 4 có ý nghĩa gì theo dịch học, rồi sau đó xem chúng có phải là các con số diễn tả bản thể của Phật, của triết thuyết Phật giáo hay không.

1. Con số 8.

Theo dịch số 8 là số Khôn tầng 2 thế gian (0, 8) có một nghĩa là bầu trời. Số Khôn 8 thế gian tiểu vũ trụ nhiều khi kiêm nhiệm cả khuôn mặt Khôn 0 cõi tạo hóa đại vũ trụ có một nghĩa là hư không, hư vô như thấy trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn . Ta cũng thấy mặt trời 8 nọc tia sáng trong nhiều trường hợp đại diện chung cho cả mặt trời Khôn thế gian tiểu vũ trụ và mặt trời đĩa tròn Khôn 0 tia sáng cõi tạo hóa đại vũ trụ. Khôn (OOO) là siêu nòng, âm, không gian (O) thái âm (OO)… lưỡng hợp với Càn (III) siêu nọc, dương, mặt trời (I) thái dương (II) (Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que và Các Con Số).

2. Con số 4.

Theo dịch học, số 4 là số Cấn tầng 1 cõi tạo hóa có một nghĩa là thiên thạc (Đất vũ trụ) âm, có Li Đất Lửa, Đất dương đại diện. Theo Tiên Thiên Bát Quái Cấn lưỡng hợp với Đoài khí vũ trụ, theo Hậu Thiên Bát Quái Cấn lưỡng hợp với Khôn (có một khuôn mặt không gian, không khí, gió).

Như thế ta có ngày 8 là ngày Khôn-Càn và tháng 4 là tháng Cấn-Khôn, Đất-Trời (Trời hiểu theo khí, gió là bầu Trời) phía nòng âm của Phật (Phật giáo mang âm tính, xem dưới).

Hai số 8 và 4 liên hệ gì với Phật? với triết thuyết Phật giáo?

-Trước hết số 8 và 4 đều là số chẵn, số âm thích hợp với bản chất âm của Phật giáo. Phật giáo là một thứ tôn giáo Vũ Trụ mang tính Tĩnh nghiêng nhiều về phía Vũ hơn Trụ (Vũ Trụ có Vũ là Vỏ, Bao, Bọc, Nang mang tính Nòng âm, Tĩnh và Trụ là Nọc mang tính Nọc, dương, Động).

Ta thấy ngày Phật đản lấy theo lịch trăng âm lịch cũng thích hợp với tính Tĩnh, Vũ của Vũ Trụ.

Xin nhắc lại một vài ví dụ sau đây cho thấy rõ Phật giáo mang tính Tĩnh, âm là:

.Ở thủ ấn Chuyển Bánh Xe Pháp, Phật quay bánh xe bằng ngón tay út trái.

.Chữ vạn trên ngực Phật có cánh tay (của chữ vạn) phía trên hướng về phía tay trái.

.Các kiến trúc thờ phượng Phật giáo được xếp đặt theo cùng chiều kim đồng hồ tức chiều âm. Khi đi vào một kiến trúc thờ phượng Phật giáo ta phải khởi sự đi từ phía bên trái, phía âm, đi theo chiều kim đồng hồ tức chiều âm.

.Khi hành lễ ta phải đi theo chiều âm cùng chiều kim đồng hồ.

.Hoa sen mọc dưới nước mang âm tính là hoa biểu của Phật giáo.

.Nhang vòng đốt cháy theo chiều âm kim đồng hồ…

…..

Ta thấy ngày 8 Khôn-Càn liên hệ với Càn Khôn, Đại Vũ Trụ và tháng 4 Cấn-Khôn liên hệ với Đất Trời Tiểu Vũ Trụ. Như thế ngày Phật đản có một nghĩa bao gồm cả đại và tiểu vũ trụ?

Phật giáo là một thứ tôn giáo có chủ thuyết bao gồm cả đại vũ trụ và tiểu vũ trụ của con người (con người là tiểu vũ trụ con của đại vũ trụ)?

-Phật giáo là một thứ tôn giáo đại vũ trụ.

Tôi đã viết nhiều lần Phật giáo có vũ trụ quan liên hệ với vũ trụ thuyết, vũ trụ giáo. Cũng giống như các tín ngưỡng nguyên sơ và các tôn giáo lớn hiện nay, Phật giáo là con cháu của vũ trụ giáo nên có vũ trụ quan giống vũ trụ giáo.

Vũ Trụ giáo dựa trên nguyên lý nòng nọc (âm dương) nõ nường thấy rõ nhất trong Phật giáo Mật Tông (Tây Tạng, Nepal, Butal…). Ví dụ chầy (chùy) kim cương (dorje, vajra) của Phật giáo Lama Tây Tạng biểu tượng cho Từ Bi có một khuôn mặt là nõ phái nam và chuông biểu tượng Trí Tuệ có một khuôn mặt là nường phái nữ… Chầy và chuông biểu tượng nòng nọc (âm dương), nõ nường. Trong Phật giáo Tây Tạng chuông cầm tay làm lễ ở dạng nõ nường giao phối nhất thể gọi là chuông càn (kiền) trùy ghanta (càn của càn chùy là phiên âm của ghan-) có cán nõ chầy kim cương. Chuông này nên gọi là chuông càn khôn thì đúng hơn.

clip_image004Chuông cầu nguyện có cán càn khôn Tây Tạng (kỷ vật của tác giả mua ở Tây Tạng).

Khi làm lễ lắc chuông này là khơi động qui trình giao hòa sinh tạo nòng nọc (âm dương), nường nõ, khôn càn sinh ra đại và tiểu vũ trụ…

clip_image005Đức Dalai Lama dùng chùy kim cương và chuông nhỏ càn khôn Tây Tạng trong nghi thức tụng niệm Phật giáo Tây Tạng (ảnh của tác giả chụp tại Chùa Điều Ngự ngày18 tháng 6, 2016 khi Đức Dalai Lama tới thăm Little Saigon, Quận Cam, Nam Cali).

Để chứng minh điểm Phật giáo là tôn giáo vũ trụ, vì giới hạn bài viết, chỉ xin đưa ra một ví dụ tiêu biểu là Phật Vũ Trụ (Universal Buddha).

Vị Phật chính biểu tượng vũ trụ là Phật Vũ Trụ thường gọi là Đức Nhật Như Lai Vairocana hay Đại Nhật Như Lai Mahavairocana. Phật Vũ Trụ Vairocana sinh ra, đại diện cho tất cả các chư Phật khác. Phật Thích Ca cũng được coi là một với Đức Đại Nhật Như Lai.

Tượng Đức Phật Vũ Trụ thường có thủ ấn Lục Đại (Lục Hành, Mudra of Six Elements).

clip_image007Tem và tượng Đại Nhật Như Lai của Nhật Bản và Đài Loan với thủ ấn Đại Trí Quyền (nguồn: Lê Thanh Lý, Lịch Sử Phật Giáo Qua Tem Bưu Chính).

hay còn gọi là thủ ấn Đại Trí Quyền (Fist of Wisdom mudra).

clip_image009

Thủ ấn tạo thành bởi 5 ngón bàn tay phải nắm lại bao giữ chỏm ngón tay trỏ của bàn tay trái để dựng đứng ở trước ngực. Đầu ngón trỏ tay phải đụng đầu ngón tay trỏ trái (hay cong lại ôm đầu ngón trỏ trái).

Năm ngón tay phải là Ngũ Đại: Địa (Đất), Thủy (Nước), Hỏa (Lửa), Phong (Gió), Khí hay Không (Hư Không) và ngón tay trỏ trái chỉ lên trời biểu tượng cho tri thức tâm linh (spiritual consciousness) tức Thức Đại tượng trưng cho hành giả. Lục Đại là ngũ đại bao bọc, che chở cho Đại Trí của hành giả.

Quan niệm Ngũ Đại này giống quan niệm Ngũ Hành của một vài phái Ấn giáo và của Trung Quốc. Cho Ngũ Đại là ngũ hành không hoàn chỉnh. Cho Không là Khí (Ether) là một hành trong ngũ hành không chỉnh. Thật ra hành Khí, Không này ứng với hư không, hư vô là nguồn cội nguyên thủy, khởi đầu của qui trình vũ trụ tạo sinh, sinh ra tứ tượng, tứ hành, không thể là một tượng, một hành được. Tương tự ngũ hành Trung Hoa ngoài tứ hành vật thể (Lửa, Nước, Khí, Đất) còn có thêm hành Mộc. Hành mộc chính là Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) là kết quả của qui trình vũ trụ tạo sinh, không thể là một tượng, một hành được. Quan niệm ngũ hành là sai chỉ có tứ hành (Nước, Lửa, Gió, Đất) và hư Không sinh ra tứ tượng hay tứ hành và Mộc là cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) là kết quả của tứ tượng, tứ hành. Khí Ether và Mộc không thể là một hành được.

Nhìn theo vũ trụ học, vũ trụ giáo thì 5 ngón tay phải Ngũ Đại gồm Đất, Nước, Lửa, Gió ứng với tứ tượng, tứ hành và Khí (Ether) ứng với Không, hư không, hư vô.

Đại thứ 6 ngón tay trỏ dựng đứng hình nọc que, trụ cột có một khuôn mặt diễn tả cho dóng sấm, búa thiên lôi (thunderbolt, vajra), Phật giáo Mật Tông gọi là kim cương chùy. Bàn tay phải nắm lại là đầu trên của dóng, chùy, bốn ngón tay trái nắm lại ở dưới là đầu dưới và ngón trỏ trái là thân. Vì thế thủ ấn này có một khuôn mặt diễn tả dóng sấm vajra.

Như đã biết dóng sấm biểu tượng nước, lửa nguyên khởi, nòng nọc (âm dương) và kim cương chùy có một khuôn mặt là nòng nọc (âm dương), nõ nường. Nòng nọc (âm dương) nguyên khởi liên tác tạo ra tiếng sấm khai thiên lập địa Big Bang. Dóng sấm nhìn dưới dạng nhất thể là thái cực và nhìn dưới dạng lưỡng cực là lưỡng nghi.  Ta thấy rõ thủ ấn Lục Đại hay Đại Trí Quyền biểu tượng cho trọn vẹn qui trình của vũ trụ tạo sinh (hư vô, thái cực, lưỡng nghi, tứ tượng) đích thực là dấu ấn biểu tượng cho Phật Vũ Trụ, Đại Nhật Như Lai.

Như thế thủ ấn Lục Đại diễn tả đại vũ trụ và cả tiểu vũ trụ con người (hành giả), con của đại vũ trụ. Lục Đại gồm đại vũ trụ bao bọc che chở cho con người, cho hành giả, tiểu vũ trụ là vậy.

Như vậy thủ ấn Lục Đại cho biết bản thể Đức Phật Vairocana là Vũ Trụ. Phật Vairocana là Phật Vũ Trụ.

Trong quan niệm Năm Pháp Trí Như Lai, ‘Người đến từ chân như’ (Tathagatas) (Lai là đến và Như là chân như, Như Lai là ‘đã đi tới’), Phật Vairocana ngự tại tâm vũ trụ và được coi như là Phật Nguyên Khởi (Primordial Buddha), Phật Tối Cao (Supreme Buddha) nên có một khuôn mặt đấng tạo hóa tối cao. Phật Vũ Trụ Vairocana là Phật Vũ Trụ Tạo Hóa ở tâm vũ trụ.

Vì thế Thai Tạng Mạn Đà La có hình hoa sen 8 cánh, Đại Nhật Như Lai là nhụy sen ở tâm hoa. Con số 8 như đã nói ở trên là số Khôn lưỡng hợp với Càn là càn khôn, vũ trụ. Ngài là Phật Vũ Trụ, Càn Khôn ở tâm vũ trụ.

Trong Phật giáo Tây Tạng Phật Vairocana được nhân cách hóa thành vị Phật có 4 mặt nhìn ra tứ phương nhận biết khắp vũ trụ trời đất (he Tibetan Book of the Dead, Freemantle and Trungpa translation, pp. 15-16).

Phật Vũ Trụ Vairocana có cốt hư Không nguồn cội của vũ trụ có một khuôn mặt là Không Phật Shantipura (Shanti- biến âm mẹ con với Pháp ngữ sans, Việt ngữ chẳng có nghĩa là Không như chẳng sao = không sao) sinh ra 4 vị Phật Tứ Phương ứng với tứ tượng Nước, Lửa, Gió Đất.

Ví dụ điển hình thấy:

-Ở Đền Borobudur, trong số hàng ngàn tượng Phật có năm vị đặt ở năm phương trời (bốn phương và thiên đỉnh), biểu thị những Định Thiền Phật Dhyani, khác biệt thấy qua tư thế thủ ấn.

Lưu Ý:

Dhyani hiện dịch là Thiền Na Phật. Ta thấy Dhyani phiên âm qua Hán Việt là Định (thiền định) (dịch là Định Thiền hay Thiền Định sát âm Dhyani và dễ nhớ tên Phạn ngữ hơn là Thiền Na). Định thiền Phật là những vị Phật chỉ có trong kinh điển không thực sự giáng thế, xuống làm người trước khi thành Phật.

Ở thiên đỉnh, đức Đại Nhật Như Lai Vairochana làm thủ ấn chuyển pháp luân dharmachakra.

(Lưu ý ở đây Đức Đại Nhật Như Lai thay vì có thủ ấn Lục Đại lại có thủ ấn chuyển bánh xe pháp giống Phật Lịch sử Thích Ca là cố ý cho biết Đức Đại Nhật Như Lai là tiền thân của Phật Thích Ca). Ở phía đông, đức Vô Động Phật Akshobhya làm thủ ấn lấy Đất làm chứng cho những công đức đã qua bhumishparsha. Ở phía nam, đức Bảo Sinh Phật Ratnasambhava làm thủ ấn ban cho toại nguyện, thí nguyện (varada) (varada có var- = ban). Ở phía bắc, đức Bất Công Thành Tựu Phật Amoghasiddi làm thủ ấn vô úy, không sợ (abhaya) (abhaya có ab- là không và –haya là hãi). Ở phía tây, đức A Di Đà Phật Amithabha làm thủ ấn hai tay liền nhau theo thế ngồi định thiền dhyana. Mỗi Định Thiền Phật ở cõi cực lạc có một đại diện ở thế gian là một đức Phật Nhân Thế, Nhân Gian Phật (Người tu thành Phật: Manushi) kèm theo một vị Bồ tát.

Lưu Ý:

Con người tu thành Phật gọi là Phật từ cõi người, là Phật Nhân Thế Manushi. Manushi có gốc Phạn ngữ manu-, con người đầu tiên trên mặt đất; manu- h, người, loài người, cha đẻ loài người; gốc tái tạo PIE (Tiền Ấn-Âu Ngữ) *man(u)-, người, đấng, người sinh thành, sinh tạo; con cháu, dòng dõi… liên hệ với Man, Mán, Mường, Môn có một nghĩa là Người, Anh ngữ Man có nghĩa là Người. Phật Manushi là những vị Phật Người thế gian, thực sự sinh ra ở nhân gian rồi tu hành thành Phật, như các vị Cổ Phật và Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni. Manushi khác với các vị Phật Định Thiền Dhyani.

Đức Phật A Di Đà tức Đức Phật Tây Phương có đại diện là Đức Phật Thế Nhân  Thích Ca Mâu Ni kèm theo vị Bồ Tát Quán Thế Âm (Avalokitesvara). Bao quanh những vị nầy có đủ thiên thần kiên đà kinnara, hương âm thần gandharva, nữ thần hạ đẳng apsara, nhạc sĩ nửa người nửa chim…

-Đơn giản hơn thấy qua các tháp như ở Đền Khỉ Swoyambhunath ở Kathmandu, Nepal. Cây tháp chính ở giữa mang hình ảnh tháp cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) có một khuôn mặt biểu tượng cho Phật Vũ Trụ Vairocana:

clip_image011Tháp chính ở Đền Khỉ Swoyambhunath ở Kathmandu, Nepal.

Vòng quanh có bốn cây tháp nhỏ ở bốn hướng diễn tả tứ tượng: tháp nhỏ Vasupura, biểu tượng cho Tượng Đất (Vas- = vách, có một nghĩa là đất, vách đất và pura là búa, bản, buôn, phường, phố, chỗ ở. Vaspura là chỗ ở của Phật Đất), tháp nhỏ Vayupura, biểu tượng cho Tượng Gió (Vay- biến âm với bay, liên hệ với gió, với Phạn ngữ vâta, gió. Vayupura là chỗ ở của Phật Gió), tháp nhỏ Nagapura, biểu tượng cho Tượng Nước (Nag- = Nác, nước. Nagapura là chỗ ở của Phật Nước) và tháp nhỏ Agnipura, biểu tượng cho Tượng Lửa (ag- = ác, có nghĩa là lửa, mặt trời, chim ác là chim biểu của mặt trời như ác tà rồi thỏ ngậm sương, agni phiên âm qua Việt ngữ là ái nghi, tên một nhân vật liên hệ với lửa. Agnipura là chỗ ở của Phật Lửa).

Tứ tượng âm và dương liên tác tạo ra vũ trụ chia ra làm ba cõi gọi là tam thế và được biểu tượng bằng cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống). Hầu hết các tháp Phật hay phần chỏm của tháp Phật đều mang biểu tượng cây vũ trụ.

Bốn Đức Phật ở bốn phương chính ứng với tứ tượng dương. Ngoài ra ở bốn phương phụ còn có các vị Phật phụ, bổ thể nữ tính là Lochana (Akshobhya), Pandara (Amitabha), Mamaki (Ratnasambhava), Tara (Amoghasiddhi). Bốn vị mang âm tính này ứng với tứ tượng âm.

Như vậy có 8 vị gồm 4 vị ứng với tứ tượng dương và 4 vị ứng với tứ tượng âm là 8 tượng, bát quái ở 8 hướng.

Các vị này sinh ra vô lượng Phật (innumerable Buddhas). Tất cả đều là di duệ của Phật Vũ Trụ Vairocana, tương tự như theo dịch lý nòng nọc (âm dương), hư vô, vũ và trụ sinh ra vũ trụ muôn vật, muôn loài, muôn sinh.

Phật Vũ Trụ Vairocana được diễn tả bằng pho tượng Phật mầu trắng ngự ở tâm vũ trụ trên một tòa sen trắng tinh khiết, thanh tịnh có nghìn cánh. Mỗi cánh là một thế giới. Mỗi thế giới có một vị Phật. Có hàng ngàn vị Phật. Thật ra con số một ngàn phải hiểu theo nghĩa là muôn ngàn, hằng hà sa số, vô lượng. Phật Vũ Trụ Vairocana là Phật nguyên khởi ở tâm vũ trụ sinh ra hằng hà sa số vị Phật ngự trị ở vô lượng thế giới. Con số hằng hà sa số này là con số hiểu theo vũ trụ giáo, theo dịch học. Vì thế thông thường chỉ nói tới Phật Tứ Phương đại diện cho muôn ngàn Phật còn lại. Người Phật tử chỉ cần ‘vái tứ phương’ là vái vô lượng Phật trong vũ trụ.

Rõ như ban ngày một lần nữa ta thấy rõ Phật giáo ruột thịt với Vũ Trụ Giáo.

Về ngôn ngữ học Phật Vũ Trụ Càn Khôn Vairocana chuyển âm qua Việt ngữ là Phật Tỳ Lô Cá Na, Tỳ Lô Già Na. Vairocana có nghĩa là ‘đấng soi sáng’ (‘Illuminator’). Theo duy dương nghĩa ‘soi sáng’ hiểu rộng ra là ‘mặt trời’, vì vậy Phật Vũ Trụ có một khuôn mặt là mặt trời mang tính chủ, có nghĩa là “one who comes from the sun” (đấng sinh ra từ mặt trời).

Phật Vũ Trụ Càn Khôn Vairocan là đấng tạo hóa lưỡng tính có khuôn mặt dương là Càn, Mặt Trời, Trụ, Nọc và khuôn mặt âm là Khôn, Không Gian, Nòng, Vũ. Gọi theo mặt trời Nhật Như Lai là gọi theo khuôn mặt Càn, Mặt Trời mang tính chủ của Phật Vũ Trụ Càn Khôn Vairocana. Việt Nam dịch Mahavairocana là Đại Nhật Như Lai và ở Nhật Bản Ngài được gọi là Dainichi Nyorai (Dai là Đại, Ni là Nhật như Nippon là Nhật Bổn, Nyo- là Như và -rai là Lai). Do đó Phật Vairocana thường có hào quang hình tia sáng lưỡi lửa tỏa ra quanh đầu và người.

Lưu Ý

Như đã nói ở trên Vairocana chuyển âm thành Tỳ-Lô-Cà Ná hay Tỳ Lô Già Na với Vai- = Tỳ theo biến âm họ hàng xa lắc v = t. Nếu chuyển âm Vai- = Mai theo biến âm v = m thì ruột thịt hơn và hơn nữa Mai có một nghĩa là sáng (buổi mai = buổi sáng) diễn đạt được nghĩa soi sáng, mặt trời của Vairovana. Phật Vairocana là Mai-Rô Ca Na hoàn chỉnh hơn là Tỳ Lô Cà Ná. Không nhất thiết phải dịch theo âm Trung Quốc ví dụ người Đại Hàn chuyển âm theo v=b, Vairocana thành Birojana. Tại sao ta không chuyển âm các từ Phạn ngữ Phật giáo qua Việt ngữ theo biến âm giữa Phạn ngữ và các từ thuần Việt? Tôi thích giữ nguyên danh từ Phạn và giải thích theo biến âm với Việt ngữ.

Tóm lại ngày 8 là ngày Khôn Càn, Vũ Trụ thích ứng hoàn toàn với vũ trụ quan, nhân sinh quan của Phật giáo.

-Phật giáo là một thứ tôn giáo mang tính “Người” của con người tiểu vũ trụ.

Tháng 4.

Như đã nói ở trên số 4 là số Cấn, Đất âm (Non, núi âm), cõi đất tiểu vũ trụ. Khôn có một khuôn mặt là bầu trời, theo Hậu Thiên Bát Quái  Khôn  bầu trời lưỡng hợp với Đất Cấn.

Như thế tháng 4 có một khuôn mặt là tháng Đất- Trời cõi tiểu vũ trụ.

Không cần phải nói nhiều nữa ta thấy ngay, Phật có bản thể bao trọn cả đại vũ trụ và tiểu vũ trụ. Phật Tổ là Phật Người, là Người thành Phật (Manushi), kết nối đại vũ trụ và tiểu vũ trụ thành một.

Phật giáo có đặc điểm là rất ‘Người’. Phật không phải là Đấng Tạo Hóa. Phật là con người đã giác ngộ. Phật nói ta là người đã thành Phật, còn người là Phật sẽ thành. Phật xuất hiện trên Trái Đất, với nhân trạng, với mục đích cứu độ con người. Phật giáo là tôn giáo của con người tiểu vũ trụ, con của đại vũ trụ.

Như vậy tháng tư mang nghĩa Đất, Đất-Trời, diễn tả khuôn mặt Phật giáo ở cõi người thế gian, tiểu vũ trụ.

Phật Tổ Thích Ca và Phật Vũ Trụ Vairocana là Một.

Như đã nói ở trên Phật Lịch Sử Thích Ca được coi là một với Đại Nhật Như Lai Vairocana. Ngài là hóa thân hay hiện thân của Đức Phật Vũ Trụ Vaitocana. Vì thế Đức Đại Nhật Như Lai Vairocana thường có các thủ ấn khác thủ ấn Lục Đại (thường thấy nhiều ở ngoài nước Nhật Bản và Đại Hàn) như:

-Thủ ấn bánh xe Pháp giống như thấy ở Phật Lịch Sử Thích Ca. Điểm này cho thấy rõ Phật Thích Cá và Đức Đại Nhật Như Lai là Một.

-Thủ ấn với tay trái cầm bình thuốc tay phải là thủ ấn không sợ hãi (vô úy, Abhaya) hay ban cho toại nguyện (thí nguyện, Varada).

clip_image013clip_image015Đức Phật Vũ Trụ, Đại Nhật Như Lai Vairocana của Nhật (Danichi Nyorai) tay trái cầm bình thuốc và tay phải làm thủ ấn giáo hóa (vitarka mudra) bánh xe Pháp thay vì hai tay làm thủ ẩn Lục Đại hay Đại Trí Quyền (tượng sưu tập của tác giả).

Phật cầm ở tay trái một chiếc bình cho là bình thuốc. Nhìn theo vũ trụ học thì chiếc bình này có hình bầu tròn, một dạng bầu nậm, có một khuôn mặt biểu tượng cho bầu vũ trụ. Đây là bầu nòng nọc (âm dương), bầu Càn-Khôn, bầu vũ trụ, trời đất cho biết Phật Vairocana có cốt là bầu vũ trụ, là vũ trụ. Nếu cho là bầu đựng thuốc thì đây là bầu ‘thuốc-Pháp Phật’ càn khôn nhiệm mầu chữa trị cho chúng sinh, con người tiểu vũ trụ giúp giải thoát, thoát ra khỏi ‘khổ đề’, giúp con người giác ngộ thoát ra khỏi vòng vô minh và luân hồi. Ta thấy rõ bầu thuốc Pháp ở tay trái đi đôi với thủ ấn giáo hóa bánh xe Pháp ở tay phải.

Sau đầu tượng Phật có hình thượng thế đại vũ trụ:

clip_image017Phần sau tượng, đế và chân tượng.

Phần này gồm có mặt trời nguyên tạo có khối lửa hình đĩa tròn có 6 tia sáng hình cánh hoa. Mặt Trời có 6 tia sáng thuộc loại mặt trời vũ trụ (mặt trời có số tia sáng dưới hay bằng 7 là mặt trời vũ trụ. Mặt trời có 8 hay hơn 8 tia sáng là mặt trời thế gian hay cõi dưới). Theo dịch số 6 là số âm thái dương Tốn. Tia sáng cong tròn hình cánh hoa mang âm tính. Đây là mặt trời vũ trụ âm thái dương của Phật Vũ Trụ mang tính tĩnh, vũ của vũ trụ. Mặt trời vũ trụ nằm trong bầu vũ trụ vành tròn đỏ mang tính thái âm ngành thái dương (mầu đỏ) có viền cánh hoa sen chỉ thị cho biết tính âm thái âm. Ta có mặt trời vũ trụ âm thái dương nằm trong bầu vũ trụ dương thái âm dưới dạng lưỡng hợp thái dương-thái âm, một thứ càn khôn ngành thái dương. Nhìn dưới dạng nhất thể mặt trời-bầu vũ trụ là mặt trời Vũ Trụ nguyên tạo.

Như vây phần sau đầu này xác thực tượng Phật là Phật Vũ Trụ.

Phật Thích Ca là hiện thân, hóa thân của Đức Đại Nhật Như Lai cũng thấy rất rõ qua truyền thuyết Phật giáng sinh.

Theo một truyền thuyết Phật giáo Tây Tạng, Hoàng hậu Maya nằm mơ thấy có bốn người nhà trời đem bà tới tắm tại một hồ nước thiêng ở Núi Meru nằm giữa rặng Tuyết Sơn ở Himalaya. Núi Meru là trung tâm hay trái tim của vũ trụ, là trung tâm hay trục của một mandala đại vũ trụ và tiểu vũ trụ (Ý Nghĩa Tháp Phật). Khi tắm xong, nghỉ ở bờ hồ, bỗng một con voi trắng sáu ngà từ một đinh núi tuyết trắng trên cao bay xà xuống bên bà. Voi nắm một đóa hoa sen trắng bằng vòi, đi vòng quanh ba vòng rồi nhập vào người bà. Sau đó bà có thai Phật Tổ. Hồ nước thiêng đó là hồ mặt trời Manasanovar và núi tuyết con voi sáu ngà là núi Meru.

Theo tôi, căn cứ vào triết thuyết vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo dựa trên căn bản nòng nọc (âm dương) dịch học, nói vắn gọn vào trọng điểm, thì con voi trắng 6 ngà mang hình ảnh Núi Vũ Trụ Meru, Kailas nhập vào người Hoàng hậu có nghĩa là cả vũ trụ nhập vào người bà, tất cả tinh anh, tinh túy, tinh hoa của vũ trụ, tam thế, muôn sinh nhập vào bà. Con voi trắng là tiền kiếp Phật. Voi sáu ngà là tiền kiếp Phật thấy rõ qua truyện Truyền Kiếp Phật Con Voi Sáu Ngà Saddanta (Phạn ngữ sad- là sáu, -danta là dăng, răng, ngà) tự cắt 6 ngà đem cho đi vì lòng từ bi, độ lượng. Đóa sen trắng là biểu tượng của Phật Vũ Trụ Vairocana (tượng ngài mầu trắng và thường ngồi trên tòa sen trắng như đã nói ở trên). Ngoài ra hoa sen khi còn là búp mọc thẳng từ nước lên cũng mang hình ảnh cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) như thấy rõ qua ví dụ tiêu biểu là Chùa Một Cột có hình hoa sen mọc từ hồ nước lên mang hình ảnh cây vũ trụ. Con voi đi ba vòng là đi trọn tam thế của đại vũ trụ và ba cõi của tiểu vũ trụ.

Như thế cốt Phật là cốt lõi tinh anh, tinh túy, tinh hoa… của vũ trụ. Hoàng hậu Maya đã hấp thu tinh khí thiêng liêng vũ trụ sinh ra Phật Tổ. Phật Tổ là hiện thân của Phật Vũ Trụ Vairocana.  Phật là vũ trụ gồm cả đại và tiểu vũ trụ.

Điểm này cũng thấy rõ qua thuyết Tam Thân (trikaya) Phật là Báo thân (sambhogakaya), Ứng thân (nirmanakaya) và Pháp thân (dharmakaya). Báo thân là thân do công đức và giác ngộ của các Bồ tát hoá hiện cho chúng sinh thấy. Ứng thân hay Hoá thân là thân xuất hiện của Phật trên thế gian này trong nhân dạng con người để cứu độ chúng sanh.

Pháp thân là chân thân của Phật, là thể tính thật sự của Phật, đồng nghĩa với Chân như, là thể tính của vũ trụ.

Phật Tổ là vũ trụ. Phật Vairocana chính là Pháp thân của Phật Thích Ca.

Một truyền thuyết cho rằng khi mới sinh ra đời Phật Thích Ca đã đứng dậy ngay và bước 7 Bước Trên 7 Đóa Hoa Sen. Bẩy Bước thường được giải thích là bước thứ nhất, ngài quay mặt nhìn về hướng đông, bước thứ 2 nhìn về hướng nam, bước thứ 3 về hướng tây, bước thứ 4 về hướng Bắc, bước thứ 5 nhìn xuống chân, bước thứ 6 nhìn lên trời và bước thứ 7 thì đứng lại nhìn tới trước như con người bình thường. Dĩ nhiên mỗi bước chân nhìn về một hướng này được giải thích theo giáo lý nhà Phật và có thể thay đổi tùy theo giáo phái (như hướng đông là hướng mặt trời thị hiện ánh sáng trí tuệ, hướng dưới trừ diệt ma quỉ, hướng bắc: đắc đạo trong kiếp này…).

Nếu nhìn theo vũ trụ thuyết, thì bẩy bước nhìn về 7 hướng gồm bốn hướng đông tây nam bắc là bốn phương ứng với tứ tượng. Đây là bốn phương của trời và đất. Nhìn lên trời là hướng tới thượng đỉnh (zenith) và nhìn xuống đất là hướng xuống rốn đất (nadir). Đây là hai hướng theo trục tung (thẳng đứng) của vũ trụ, trời đất.

Gộp lại ta có 6 hướng của đại và tiểu vũ trụ.

Ta cũng thấy thượng đỉnh dương và rốn đất âm ứng với lưỡng cực, lưỡng nghi và bốn phương là tứ tượng, sinh ra vũ trụ muôn vật, muôn sinh. Bước thứ 7 Phật đứng lại chính là tâm của các trục vũ trụ, là tâm của vũ trụ.

Còn hoa sen thì thường được giảng giải là loài hoa mọc trong bùn nhưng vẫn tỏa ngát hương, thanh tao, thuần khiết, biểu tượng cho vô nhiễm. Do đó, bảy bước chân của đức Phật đã được lấy làm ẩn dụ trên những đóa hoa sen vô nhiễm ấy.

Nhìn theo vũ trụ thuyết, hoa sen là loài hoa mọc dưới nước có một khuôn mặt biểu tượng cho Nước. Việt ngữ có từ con Sen chỉ bé gái hầu Nước. Từ Sen là Nước đẻ ra từ Mari-Sến, gái gánh nước, còn gọi là Mari Phông Ten, Mari-Máy Nước, nhạc Sến là nhạc gái gánh nước hát. Hoa sen biểu tượng cho nước có một khuôn mặt là âm thái âm,  Khôn âm.

Ta có số 7 bước là số Càn, dương thái dương, lửa thái dương. Như thế 7 bước là Càn lưỡng hợp với hoa sen Khôn. Bẩy bước trên 7 hoa sen là Bẩy Bước Càn Khôn, Vũ Trụ. Mới sinh ra Phật đã đi trọn một vòng càn khôn vũ trụ. Phật là vũ trụ, hiện thân, hóa thân của Phật Vũ Trụ Vairocana. Bẩy Bước trên Hoa Sen cho thấy Phật Tổ là vũ trụ.

Một điểm nữa cũng cần nói thêm là trong truyền thuyết bước bẩy bước trên 7 hoa sen nói trên, Phật Tổ một tay chỉ lên trời và một tay chỉ xuống đất và thường cho rằng ngài nói ‘thiên thượng, thiên hạ duy ngã độc tôn’ (‘Trên trời, dưới đất duy có ta là Tôn số một’). Có nhiều người cho rằng qua câu nói này Phật tỏ ra kiêu căng không hợp với cái vô ngã của Phật giáo! Theo tôi, phải nhìn theo vũ trụ thuyết. Có thể Phật Tổ đã nói như vậy nhưng chúng sinh đã hiểu theo nghĩa duy tục câu nói đó, cho nó có nghĩa là như vậy. Ta phải hiểu theo bản thể vũ trụ của ngài. Một tay chỉ lên trời là chỉ lên thượng đỉnh, thượng thế, một tay chỉ xuống dưới là chỉ xuống rốn đất, hạ thế. Phật đứng trên đất hay hoa sen là đứng trên cõi thế gian trung thế. Phật thị hiện tam thế của vũ trụ. Ngài nói ‘duy ngã độc tôn’ ‘chỉ ta là một tôn duy nhất’ thì phải hiểu 1 tôn đây là đấng chí tôn có bản thể là Nhất Thể (Oneness), Hợp Nhất (Unity), Tổng Thể (Totality), Vũ Trụ (Universe) (như đã biết Uni- là Một và –verse là qui về, Universe là qui về 1, nhất thể, tổng thể. Vũ Trụ là hợp thể của nòng âm Vũ và nọc dương Trụ, là Một). Không thể hiểu Phật theo nghĩa duy tục.

Tôi sưu tập được một tượng Phật Đản Sinh, không biết có phải là người làm tượng làm sai hay cố ý làm ngài dùng hai ngón tay chỉ lên trời và xuống đất. Nếu cố ý thì cho thấy Phật rất khiêm nhường chỉ nhận mình là ‘số 2’:

Phật Đản Sinh: ‘Trên trời dưới đất ta là… số hai’ (tượng sưu tập của tác giả).

(xem 49. Hình Tiêu Biểu Tháng 5-2013: Tượng Phật Đản Sinh…).

Như thế Phật Tổ một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất đi 7 bước trên 7 đóa hoa sen diễn tả Phật có cốt là vũ trụ, tam thế, triết lý Phật giáo bao trùm vũ trụ, tam thế.

Tóm lại Phật Tổ Thích Ca và Phật Vũ Trụ, Đại Nhật Như Lai Vairocana là Một. Phật Thích Ca là hóa thân, hiện thân của Phật Vũ Trụ Mai-rô-ca-na (Tỳ Lô Già Na).

.Ngày Phật giáo thế giới Vesak.

Như đã nói ở trên ngày Phật đản thay đổi tùy theo vùng, quốc gia, tông phái. Ngày 8 tháng 4 được Phật giáo Đại thừa (theo âm lịch Trung Hoa) dùng nhiều, còn phái Nguyên Thủy ngày Phật đản được tổ chức vào ngày trăng tròn của tháng Vaisakha của Phật lịch và lịch Hindu, thường rơi vào tháng 4 hoặc tháng 5 của dương lịch Thiên Chúa giáo Gregory phương Tây.

Tại Đại hội Phật giáo Thế giới lần đầu tiên tại Colombo, Tích Lan tổ chức vào tháng 5-6 năm 1950, 26 phái đoàn thành viên đã thống nhất chọn ngày Phật đản quốc tế là ngày rằm tháng tư âm lịch và gọi là ngày Vesak. Từ Vesak có gốc từ ngôn ngữ Sinhala (Ấn-Aryan), một trong hai ngôn ngữ chính ở Tích Lan, cho ra từ Pali Visakha. Visakha/Vaisakha là tên của tháng thứ hai của lịch Ấn Độ. Ngày lễ Phật đản nhằm vào tháng Vesākha theo lịch Ấn giáo, tương ứng vào khoảng tháng 4, tháng 5 dương lịch Tây phương.

Ngày 15 tháng 12 năm 1999, theo đề nghị của 34 quốc gia, để tôn vinh giá trị đạo đức, văn hóa, tư tưởng hòa bình, đoàn kết hữu nghị của Đức Phật, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc tại phiên họp thứ 54, đã chính thức đổi lễ Phật đản Vesak thành Ngày Đại lễ Vesak, một lễ hội văn hóa, Phật giáo quốc tế của Liên Hiệp Quốc, tổ chức vào ngày trăng tròn đầu tiên của tháng 5 dương lịch.

Nhìn theo dịch học ngày 15 tháng 4 có nghĩa không thay đổi với ngày 8 tháng 4, chỉ khác nhau về tính nòng nọc (âm dương). Con số 15 là số lẻ, số dương, là số Càn tầng 2 thế gian (7, 15). Càn hôn phối với Khôn. Trong khi như đã biết số 8 là số Khôn tầng 2 thế gian (0, 8) hôn phối với Càn. Như thế 15 và 8 chỉ ngược nhau về tính nòng nọc (âm dương). Chọn số dương ngày 15 Càn và tháng 4 mang tính Khôn là chọn theo duy dương của xã hội phụ quyền ngự trị ngày nay. Còn ngày 8 tháng 4 nguyên thủy gồm hai số chẵn mang tính thuần âm là chọn theo tính Tĩnh, âm của Phật giáo. Tuy nhiên ý nghĩa nhìn chung không thay đổi.

Kết luận

Như thế rõ ràng theo duy âm ngày 8 tháng 4 và theo duy dương 15 tháng 4 theo dịch học là ngày Khôn-Càn, Càn Khôn đại vũ trụ và là tháng Đất-Trời tiểu vũ trụ, thế gian có ý nghĩa bao trọn cả đại vũ trụ và tiểu vũ trụ con người. Đây là Pháp thân của Phật, Phật tính, vũ trụ quan, giáo lý của Phật giáo. Ngày tháng này thích ứng hoàn toàn với vũ trụ quan, giáo lý của Phật giáo, thích hợp, ăn khớp với ngày Phật đản của Phật Lịch Sử Thích Ca có pháp thân là Đại Nhật Như Lai.

Không còn gì để nói nữa qua ngày 8 tháng 4 ta thấy rõ Phật là Vũ Trụ bao trùm cả Đại Vũ Trụ và Tiểu Vũ Trụ, Phật giáo là tôn giáo của vũ trụ và loài người.

Một lần nữa cho thấy phải đối chiếu hay nhìn Phật và Phật giáo dưới lăng kính vũ trụ thuyết, vũ trụ quan, vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo mới dễ hiểu và quán triệt Phật giáo thấu đáo hơn.

(Mùa Phật Đản 2019).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: