LỊCH ĐỒNG ĐÔNG SƠN (4): LỊCH MAYA TRÊN TRỐNG NGỌC LŨ I (Phần a).

LỊCH ĐỒNG ĐÔNG SƠN.

(4)

LỊCH MAYA TRÊN TRỐNG NGỌC LŨ I.

(Phần a).

Nguyễn Xuân Quang.

Qua bài viết Sự Tương Đồng Giữa Maya và Cổ Việt và nhiều bài viết khác, ta đã biết có một sự tương đồng, liên hệ mật thiết gần như ruột thịt giữa Maya và Cổ Việt. Chỉ xin nhắc lại vài ba điểm chính ở đây:

1. Di truyền học.

Về di truyền học, người Maya và người Việt Nam có cùng nhóm DNA [người Việt và Maya đều có haplogroups A, B, C, D và sự thất thoát cặp căn bản số 9 giữa 2 di thể (gene) COII/tRNALYS (“9bp deletion between COII/tRNALYS genes”, bp = base pair). Người Trung Quốc không có B]. Họ từ vùng duyên hải Đông Nam Á di cư qua Trung Mỹ châu. Họ là một thứ Nòng Việt, Lạc Việt Trung Mỹ châu.

2. Văn hóa.

Văn hóa Maya theo vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo, thờ mặt trời dựa trên nguyên lý nòng nọc (âm dương) Chim-Rắn Itzam-Yeh

clip_image002Chim-Rắn Itzam-Yeh siêu nhiên Maya ở dạng nhất thể.

giống như văn hóa Việt Nam cũng theo vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo, thờ mặt trời dựa trên nòng nọc (âm dương) Chim-Rắn, Tiên Rồng.

Họ cũng có dịch Maya giống Việt Nam có dịch đồng nòng nọc Đông Sơn.clip_image004(Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

3. Ngôn ngữ học.

Tiếng Maya liên hệ mật thiết với Việt ngữ (Đức Chúa Jesus Nói Tiếng Việt). Xin đưa ra một vài ví dụ thấy qua tên vật tổ, thần tổ:

-Rắn Lông Chim Kukulcan có Kuk- là Chim ruột thịt với Việt ngữ Cọc, Chóc là chim như thấy qua từ đôi đồng nghĩa chim chóc. Chim = Chóc = Cọc = Kuk (Thái ngữ nok là chim = Việt ngữ nọc = cọc = chóc). Còn -can là chăn, trăn (rắn lớn). Kukkulcan là Chim-Rắn.

-Hai thần tổ sáng thế anh em sinh đôi là Hunahpu và Xbalanque. Tên hai vị thần được giải thích theo nhiều cách, nhiều nghĩa (điểm này dễ hiểu vì liên hệ với dịch học). Nhưng về ngôn ngữ học, ta thấy Hunahpu có Maya ngữ Hun có một nghĩa là Một nên thường viết là Hun-ahpub ‘One-Blowgunner’ (Số 1, Người Săn Chim Bằng Ống Xì Đồng) liên hệ với Chim, vì vậy thường dịch sang Anh ngữ là One Hunahpu. Một (1) có một nghĩa là mặt trời. Hun chính là Việt ngữ Hùng có một nghĩa là Mặt Trời. Hùng Vương là Vua Mặt Trời (hiện nay ở Việt Nam hiểu Hùng theo nghĩa số 1 của Maya Hun là người số 1, đứng đầu một bộ lạc, tù trưởng). Hunahpu có một khuôn mặt là Mặt Trời vì thế Hun-ahpu có Ahpu có một nghĩa là Ahau (Vua, Chúa, Lãnh Tụ). Vua Maya thường xuyên đồng hóa với thần mặt trời [the Maya king is repeatedly assimilated to the sun deity) (wikipedia)]. Hun-Ahau là Vua Mặt Trời. Hình ngữ đầu Hunahpu được dùng làm dấu hiệu biến thiên cho ngày thứ 20 trong lịch đếm ngày tzolkin (xem dưới) (The head of Hunahpu is used as a variant sign for the 20th day in the day count or tzolkin).

Xbalanque có –balan– chính là cổ ngữ Việt blăng và của Việt ngữ hiện kim trăng (giống như blời = trời). Tiếp đầu ngữ X- có nghĩa là ix- chỉ âm, giống cái, nữ như Ixchel là nữ thần mặt trăng, đất (điểm lý thú dù cho là có trùng hợp đi nữa là nhiễm sắc thể X thuộc phái nữ còn nhiễm sắc thể Y phái nam). Đầu của Xbalanque được dùng là dấu hiệu biến thể (biến tố) cho số 9 (balan tương đồng với ‘bolon’, chín) (The head of Xbalanque is used as a variant for the number nine (balan being similar to bolon ‘nine’).

Số 9 là số Chấn tầng 2 (1, 9). Chấn có những khuôn mặt là mặt trời lặn, lạc dương, ông trăng thái dương. Lạc Long Quân Chấn là mặt trời hoàng hôn, mặt trời lặn và cũng là ông trăng thái dương. Ta thấy rõ ràng Trăng Xbalanque được diễn tả bằng số 9 Chấn có một khuôn mặt Trăng là diễn tả theo dịch học. Nữ thần mặt trăng Ixchel có trang phục đầu hình rắn giống ông trăng Lạc Long Quân có một khuôn mặt là Rắn, Rồng.

Ở đây cũng có một điểm lý thú dù cho có là trùng hợp đi nữa là X chính là số 10 La Mã. Xbalanque = 10balanque. Số 10 nhìn theo diện nòng nọc (âm dương) đối ngược có một khuôn mặt là số bù = 0 (zero). Số không 0 là số nòng, khôn, theo duy âm có một khuôn mặt là mặt trăng. Như vậy ta có Xbalanque = 10balanque = 0balanque = mặt trăng. Rõ như ban ngày Xbalanque là mặt trăng. Hai vị thần sáng thế anh em sinh đôi Mặt Trời Hunapu số 1 và Mặt Trăng Balanque số 0 gộp lại là mặt trời-mặt trăng, là số 10 là vũ trụ, nhìn dưới diện nhất thể (khi còn trong một trứng sinh đôi) là trứng vũ trụ. Đây chính là Bọc Trứng Thế Gian 100 Lang Hùng đội lốt bọc trứng vũ trụ Viêm Đế-Thần Nông nhất thể.

Rõ ràng văn hóa Maya dựa trên lưỡng tính, lưỡng hợp nòng nọc (âm dương) Chim-Rắn… như chúng ta.

Qua vài ba ví dụ trên, rõ như ban ngày cho thấy ngôn ngữ Maya ruột thịt với Việt ngữ…

4. Văn hóa Maya cũng thấy nhiều trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn.

Xin đưa ra vài ba ví dụ:

-Người chim-mặt trời.

Những loài chim có mỏ to (như rìu), sắc, nhọn mang dương tính như chim rìu cắt, ưng, ó… là chim biểu tượng của mặt trời (chim Rìu Cắt Lửa, Chim Việt Lửa, Chim Mũ Sừng là chim biểu của thần mặt trời Viêm Đế).

Người Việt Mặt Trời Thái Dương và người Maya, Người Mặt Trời (People of the Sun), Con Ánh Sáng Mặt Trời (Children of Light) đều hóa trang thành người chim-mặt trời.

Người chim mặt trời thấy rất nhiều trong văn hóa Maya.

clip_image005Người chim ó-mặt trời nhẩy múa tế lễ trước đền thờ mặt trời (ảnh của tác giả chụp tại Costa Maya, Mexico).

Người chim-mặt trời thấy rất nhiều trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn, hầu như tất cả người trên trống đồng đều hóa trang thành một loại người chim-mặt trời tùy theo tính nòng nọc (âm dương) của trống đó. Điều này là chuyện tất nhiên vì người Việt là Người Việt Mặt Trời Thái Dương, con cháu của Hùng Vương Mặt Trời và trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn là trống biểu tượng của Hùng Vương Mặt Trời.

clip_image007Người Chim Rìu Lửa, Chim Việt Lửa, Chim Cắt Mũ Sừng (Hornbill) trên trống Ngọc Lũ I.

Mũ sừng thể điệu hóa thành hình trụ nọc đứng diễn tả dương, thái dương, mặt trời. Trống Ngọc Lũ I đã là trống muộn, không phải là trống cổ nhất vì chim Rìu Lửa đã ở dạng thể điệu hóa.

clip_image009Người Chim Rìu Lửa, Chim Việt Lửa, Chim Cắt Mũ Sừng trên trống Quảng Xương. Chim Rìu Lửa ở đây còn thấy nhiều nét ở dạng thiên nhiên (naturalistic).

clip_image011Người Chim Rìu Nước, Chim Việt Nước, Chim Nông (Pelican) trên trống Hoàng Hạ.

Và còn nhiều nữa…

-Chim-Rắn, Tiên Rồng và Rắn-Lông Chim Kukulcan.

Chim-Rắn Maya có thể ở dưới dạng nhất thể:

clip_image013Rắn-Chim nhất thể Maya (ảnh của tác giả chụp tại Guatemala).

Thuyền trên nhiều trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn có đầu thuyền ở dạng Chim-Rắn, Tiên Rồng nhất thể như thấy trên trống Miếu Môn I:

clip_image014Đầu thuyền ở dạng Chim Rìu Việt Lửa-Rắn Nước, Tiên Rồng nhất thể trên trống Miếu Môn I.  Hàm trên của Rắn nước là chim Rìu Lửa bổ cắt lửa.

Hoặc ở dạng nhất thể Rắn Bờm Lông Chim, Rắn Lông Chim Kukulcan.

clip_image016Rắn-Lông Chim (ảnh của tác giả chụp tại một Bảo Tàng Viện ở Pháp).

Rắn Bờm Lông Chim này thấy trên trống Quảng Xương, trống Hữu Chung và nhiều trống Nam Dương.

clip_image018Đầu thuyền hình đầu Rắn-Bờm Chim trên trống Quảng Xương.

-Tế Vũ Người Bay (Danza de los Voladores, Dance of the Flyers) hay Người Bay Quanh Cột (Palo Voladores).

Múa Tế Người Bay do các Người-Chim (Bird-men) thực hiện (người hóa trang thành chim ưng, ó…, chim biểu tượng của mặt trời đã thấy ở trên).

Người Chim Mặt Trời bay quanh một trụ cột cao trồng ở tâm một mặt trời trên mặt sân.

clip_image020Múa Người Bay tại Costa Maya, Mexico.

Điệu múa này thấy trong các tế lễ ở Trung Mỹ châu (Maya, Aztec), ngày nay còn thấy. Múa tế này gồm có 4 hay 5 người leo lên đỉnh một cột cao chừng 30 mét. Người thứ 5 đứng trên đỉnh trụ cột múa thổi sáo và đánh trống. Theo giải thích hiện nay thì tục tế lễ này tạo ra để xin thần thánh chấm dứt hạn hán, để cầu mưa. Tuy nhiên nhìn theo diện cầu mưa là nhìn theo diện ‘duy thực’ theo tiếng gọi của bao tử, dạ dầy đã rất muộn ngày nay. Ta phải nhìn theo diện duy linh. Theo thần thoại sáng thế Maya Vũ Trụ, muôn sinh do Thần Điểu Itzam-Yeh dạng chim-rắn nhất thể tạo ra. Chim Thần này ở trên ngọn Cây Thế Giới (Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống). Thần điểu Itzam-Yeh là tiền thần của thần Rắn-Lông Chim Kukulcan.

Năm người chim trên đỉnh trục diễn tả 5 vị thần sáng tạo. Bốn người ở bốn góc biểu tượng bốn vị thần tứ phương bay quay trục vũ trụ diễn tả sự sinh tạo ra thế gian và sự sống.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, truyền thuyết tế bay này ăn khớp hoàn hảo với truyền thuyết sáng thế của Việt Nam. Nhìn theo diện chim như truyền thuyết Maya thì là Chim Rìu Việt Lửa Cắt và Chim Rìu Việt Nước Nông, chim biểu của Viêm Đế-Thần Nông ở cõi tạo hóa tạo ra vũ trụ thế giới, thấy qua bài đồng dao Bồ Nông là Ông Cắt. Nhìn theo nhất thể thì thấy ở đầu mũi thuyền Miếu Môn I, theo lưỡng cực thì thấy ở đầu thuyền trống Ngọc Lũ I, trống Hoàng Hạ. Ở cõi thế gian là Chim-Rắn, Tiên Rồng thấy ở trống Quảng Xương.

Năm người diễn tả ‘ngũ đế”. Người đứng giữa là Đấng Tạo hóa Viêm Đế-Thần Nông nhất thể. Bốn người ở tứ phương ở cõi đại vũ trụ là bốn đế: Đế Viêm, Đế Đế, Đế Thần và Đế Nông. Ở cõi tiểu vũ trụ là Đế Minh, Kì Dương Vương, Lạc Long Quân và Hùng Lang. Ở cõi nhân gian là bốn Tổ Hùng Vương Lịch sử của bốn đại tộc Minh Việt dòng Đế Minh, Kì Việt dòng Kì Dương Vương, Lạc Việt dòng Lạc Long Quân và Lang Việt dòng Hùng Lang.

Cảnh Tế Người Bay diễn tả truyền thuyết sáng thế của Maya, Aztec này giống hệt cảnh Tế Người Mặt Trời Bay thấy trên một trống đồng Đông Sơn tìm thấy ở Nam Trung Quốc. Trên thân trống này có hình diễn tả Tục Tế Vũ Người Chim Mặt Trời Bay Quanh Trục Vũ Trụ trên có mặt trời. Bốn người hóa trang chim có trang phục đầu lông chim tỏa sáng như mặt trời. Khố đuôi chim tung bay trong gió.

clip_image022Tục Tế Người Bay quanh trục vũ trụ ở một thân trống đồng (ảnh của tác giả chụp hình vẽ chi tiết tại Viện Bảo Tàng Tỉnh Vân Nam).

Bốn người-chim mặt trời bay quanh mặt trời trên đỉnh trục vũ trụ. Tay cầm mặt trời sinh tạo chấm-vòng tròn. Người thứ 5 đứng dưới chân trụ cầm, múa ở tay cây trượng đầu rắn:clip_image023Người đứng dưới đất cầm cây trượng đầu rắn mang hình ảnh thần “mang năm tháng” (\yearbearer) của Maya.

Cây trượng đầu rắn này chính là cây gậy thủy tinh núi lửa (flint) của thần gọi là ‘người mang năm” “yearbearer” trong hệ thống lịch Maya:

clip_image024Thần Toltec cầm gậy flint đầu rắn. Hình diễn đạt năm 11 flint, Tula, thời Tiền-Cổ điển. Thần mang, cõng thời gian (năm) trên lưng (nguồn: Mary Miller and Karl Taube, An illustrated Dictionary of The Gods and Symbols of Ancient Mexico and the Maya).

Lưu ý con rắn ở đây có hai sừng là loại Rắn Việt, rắn biểu tượng của Lạc Long Quân có một khuôn mặt là mặt trời Nước thái dương.

Ở đây ta thấy rất rõ Múa Tế Người Bay cũng diễn tả lịch và hệ thống yearbearers của Maya. Bốn người bay quay quanh trụ từ đỉnh xuống tới mặt đất 13 vòng. Bốn người là 13 x 4 = 52 vòng.

Con số 52 này chính là số năm trong Lịch Vũ Trụ, Trời Đất Ngọc Lũ I và trong Lịch Tròn (Calendar Round) của Maya và Aztec. Ta thấy rõ hiển nhiên Tế Người Bay không hoàn toàn là lễ cầu mưa như hiện nay cho là như vậy.

Cảnh Tế Người Bay trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn với người đứng dưới đất cầm gậy đầu rắn “yearbearers” cho thấy có hệ thống Lịch Maya trên trống đồng (xem Lịch Maya Trên trống Ngọc Lũ I).

Qua vài ví dụ trên ta thấy rõ văn hóa Maya và Việt Nam tương đồng với nhau, liên hệ như ruột thịt với nhau. Vì thế lịch Maya thấy trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn là chuyện hữu lý, tất nhiên.

Lịch Maya là một hệ thống lịch và niên giám được sử dụng trong nền văn minh Maya tiền Columbus hiện còn thấy trong vài cộng đồng Maya và một số tộc khác ở vùng Trung Mỹ.

Lịch Maya cũng như các tộc khác ở Trung Mỹ theo dấu chân năm mặt trời, năm mặt trăng, chu kỳ Sao Đỏ Venus và các hiện tượng khác có thể lý giải được cũng như siêu nhiên và các chu kỳ tế lễ còn chưa biết rõ. Điểm thiết yếu của lịch là dùng để tiên đoán ngày, tháng, năm, dùng bói toán cũng như dùng vào việc cử hành tế lễ tôn giáo. Các tài liệu viết cho thấy người Maya đã dùng lịch từ thế kỷ thứ 6 Trước Dương Lịch.

Tùy theo nhu cầu, người Maya dùng những loại lịch khác nhau hoặc kết hợp hai loại lịch để ghi chép thời gian. Có hai loại ghi lưu lại thời gian: 1): Hệ Vòng Tròn Sao Đỏ gồm lịch Tzolkin, Haab và Chu Kỳ Sao Đỏ và 2) Lịch Tính Toán Lâu (Long Count).

Trong đó bốn loại thường nói tới nhiều nhất là: 1. Lịch Mặt Trời gọi là Haab, 2. Lịch Tế Lễ, một thứ lịch thiêng liêng ghi những ngày lễ, tết và dùng để bói toán gọi là lịch Tzolk’in, 3. Hệ Lịch Tròn Calendar Round và 4. Lịch theo thiên văn tính theo chu kỳ vũ trụ vận hành về lâu về dài gọi là Lịch Tính Toán Lâu Dài (có người dịch theo từng chữ là Đếm Dài).

Hãy khởi đầu với lịch mặt trời phổ thông dân dụng Haab.

1. Lịch Haab 365 Ngày, Lịch Quả Đất Quay Quanh Mặt Trời.

clip_image026Lịch Haab (nguồn: wikihow.com).

Đây là lịch 365 ngày dựa theo thời gian trái đất tự quay và quay hết một vòng quanh mặt trời.

Người Maya tính ra mỗi năm có 18 tháng:

haab-calendar_winal-names_657x234

18 tháng-20 ngày và 5 ngày không tên Wayeb của lịch Haab (https://mayan-calendar.org/haab.html).

Mỗi tháng có 20 ngày không thay đổi. Như thế một năm có 360 ngày, cộng thêm 5 ngày gọi là “5 ngày không tên” Wayeb, họ không đưa vào tháng nào cả.

Có người gọi 5 ngày này là tháng ngắn (tháng thiếu) thứ 19 (19th short month).

Vì vậy để nói cho tiện lợi và dễ nhớ ta có thể nói lịch Haab một năm có 19 tháng gồm 18 tháng dài, đủ mỗi tháng 20 ngày và 1 tháng thiếu, ngắn chỉ có 5 ngày.

Nhờ vậy số ngày thực sự trong một năm là 365 ngày.

Năm ngày không tên này được cho là khoảng thời gian nguy hiểm, được cho là 5 ngày “xui xẻo” phải kiêng kỵ. Bởi vì người Maya cho rằng đây là khoảng thời gian các vị thánh thần nghỉ ngơi bồi dưỡng sau một năm dài làm việc cực nhọc. Lúc này con người không còn có sự che chở của thánh thần nên rất nguy hiểm.

Trong thời gian xui xẻo Wayeb này, để tránh và trừ khử các điều xấu, tai họa người Maya có tục lệ như tránh ra khỏi nhà, tắm gội hay chải tóc và tế lễ để cầu khẩn thánh thần, tổ tiên trở lại làm công việc phù hộ (giống người Việt trong ngày mồng 1 Tết).

Lịch Haab này chính xác hơn rất nhiều so với dương lịch Gregory của Âu châu.

Mỗi ngày trong lịch Haab được nhận diện bằng một con số trong tháng theo sau là tên tháng bằng ký tự.

Các tháp Maya ngoài việc dùng chuyên chở  vũ trụ quan, nhân sinh quan, thờ phượng tín ngưỡng, diễn tả truyền thuyết và cổ sử đôi khi còn diễn đạt lịch tương tự như trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn. Ví dụ như tháp EL Castillo ở Chichen Itzá , Yucatan, Mexico diễn đạt lịch Haab 365 ngày.

clip_image002[1]

El Castillo, Chichen Itza, Yucatan, Mexico diễn đạt lịch Haab 365 ngày.

Một mặt tháp có cầu thang 91 bậc. Bốn mặt tổng cộng là 364 bậc cộng với 1 mặt nền trên mặt tháp là 365 diễn đạt lịch Haab 365 ngày .

Lịch Haab Trên Trống Ngọc Lũ I.

Lịch Haab này  cũng thấy trên trống Ngọc Lũ I.

Như đã nói ở trên lịch Haab là lịch quả đất quay quanh mặt trời 365 ngày. Haab gồm 18 tháng mỗi tháng 20 ngày và một tháng thứ 19 là tháng ngắn 5 ngày.

.18 Tháng

Vì là lịch  mặt trời dân dụng cõi nhân gian ta lấy 18 chim đứng trên mặt đất, chim biểu thiếu dương Li đất ở vành số 10. Số 10 là số Khảm tầng 2 thế gian (2, 10) lưỡng hợp với Li (Long Nữ Khảm hôn phối với Li Kì Dương Vương).

vanh co

18 chim đứng ở vành số 10 trên trống Ngọc Lũ I.

.20 ngày, một Tháng.

Vì là lịch mặt trời dân dụng ta chỉ lấy các yếu tố lịch mang dương tính ở bán viên dương nhóm 7 người nhẩy múa tại vành sinh hoạt nhân sinh số 6.

clip_image002[5]

Bán viên dương ở vành số 6 có cảnh sinh hoạt nhân sinh.

Ta có 7 người nhẩy múa  + phía nhà nòng có 1 người trong nhà + 3 người ở chỗ giã chầy cối + 1 chim bay trên chỗ giã chầy cối, vị chi là 12. Phía nhà nọc có 3 người trong nhà + 4 người đánh trống + 1 chim trĩ trên nóc nhà nọc mặt trời, vị chi là 8. Tổng cộng tất cả là 20. Cả bán viên dương ở vành số 6 có 20 người và chim cho thấy con số 20 là có chủ ý không phải là tính cờ. Con số 20 này cũng cho thấy trên trống Ngọc Lũ I cũng có thể có hệ thống nhị thập phân.

.365 ngày, một Năm.

Gồm  có:

-/18 tháng

18 tháng chim đứng x 20 ngày gồm tất cả người và chim ở vành nhân sinh = 360. Số 360 diễn tả 360 ngày của 1 năm 18 tháng, mỗi tháng 20 ngày.

-/Phần Còn Lại 5 Ngày Không Tên Wayeb.

-Theo duy âm, như đã nói ở trên một vài tộc người Trung Mỹ châu coi 5 ngày không tên là 5 ngày xui xẻo. Với nghĩa tiêu cực âm ma này ta chọn các yếu tố lịch ở khu nhà nòng âm. Ta có 1 người đứng trong nhà 3 người chỗ giã chầy cối và 1 con nông bay ở trên. Tổng cộng là 5.

-Theo duy dương, ta lấy 5 con chim ở hai khu nhà nòng nọc ở vành sinh hoạt nhân sinh: 3 trĩ (nhà nọc ở bán viên âm có hai con và nhà nọc ở bán viên dương 1 con) cộng với hai chim nông bay ở hai khu giã chầy cối (mỗi khu một con) là 5 con.

Như thế ta có lịch Haab trên trống Ngọc Lũ I. Đây chính là lịch mặt trời dương thái dương, Càn Đông Sơn như đã nói ở trên.

Lịch Haab là lịch đặc biệt không dựa vào căn bản tôn giáo hay tâm linh mà chỉ dựa vào mặt trời vì thế thấy rất rõ trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn bởi  vì trống đồng chỉ diễn tả dịch theo vũ trụ tạo sinh, không diễn tả dịch theo bói toán, phong thủy.

(còn nữa).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: