LỊCH ĐỒNG ĐÔNG SƠN (3): LỊCH SAO ĐỎ VENUS NGỌC LŨ I.

*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài.

.Phải tuân thủ luật Tác quyền Copyright.

LỊCH ĐỒNG ĐÔNG SƠN.

(3)

LỊCH SAO ĐỎ VENUS NGỌC LŨ I.

Nguyễn Xuân Quang.

3. LỊCH SAO ĐỎ KIM TINH (SAO KIM, VENUS).
Sao Venus là một hành tinh giống quả đất đôi khi được coi là chị em với quả đất. Venus giống quả đất đi vòng quanh mặt trời chứ không quanh quả đất.
Venus có hai khuôn mặt là Sao Mai là lúc Venus được ánh sáng mặt trời chiếu lên trông sáng đỏ rực trước lúc mặt trời mọc và Sao Hôm là Venus ở vào lúc sau khi mặt trời lặn.

clip_image001

(nguồn: acientamerica.org)
Trong bài Ca Sao, Phạm Duy viết:
Sao Hôm lấp lánh ối a đầu làng,
Sao Mai láp lánh ối a đầu thôn.
(Phạm Duy, Bài Ca Sao).
Trong thực tế Sao Mai, Sao Hôm khác với các sao khác không lấp lánh mà chỉ  có thể le lói:
Sao Hôm le lói ối a đầu hè,
Thương em từ thuở em về là về với ai,
Sao Mai le lói ối a ngọn cây,
Thương em từ thuở về xây ối a tình người.
(Phạm Duy, Bài Ca Sao).
Thật ra le lói cũng chỉ đúng với Sao Hôm thôi còn Sao Mai phải là sao sáng.
Người Maya gọi là Chac ek, Sao Đỏ là gọi theo khuôn mặt Sao Mai mọc vào lúc trước bình minh có ánh mặt trời hồng đỏ chiếu lên và nằm trên nền trời đỏ lúc hừng đông. Chac ek có Chac là Đỏ biến âm với Việt ngữ choét (đỏ choét), gấc (trái ruột đỏ nấu xôi), gạch (đỏ gạch như gạch cua), gắt (đỏ) và ek, sao biến âm với Việt ngữ ánh (sáng). Người Trung Quốc gọi là Kim Tinh (Golden Star) là Sao Vàng cũng gọi theo Sao Mai và cũng còn gọi là sao Thái Bạch. Kim Tinh cũng có nghĩa là Sao thuộc hành Kim (Khí), gọi theo tên ngũ hành (như Mộc Tinh, Hỏa Tinh…). Trung Quốc cho Kim Tinh thuộc hành Kim, khí Gió. Điểm này rất đúng vì trên Sao Đỏ Venus luồng khí chuyển động như bão tố cực mạnh. Sao là vật sáng về đêm mang âm tính nên khí, gió đây là khí, gió âm Tốn. Cho Kim Tinh là hành Kim khí gió âm Tốn là gọi theo khuôn mặt nữ của Kim Tinh.
Tôi dùng từ Sao Đỏ thay cho Kim Tinh vì Việt và Maya liên hệ ruột thịt với nhau. Dân dã Việt Nam gọi sao theo duy âm là Nàng Sáng. Gọi là Nàng sáng chính là gọi theo Sao Mai, đại diện cho tất cả các vì sao. Sao Sáng và Sao Đỏ ruột thịt với nhau. Đỏ biến âm với Tỏ là Sáng, Đỏ là Lửa mang tính thái dương. Sao Đỏ là sao Sáng, Sao Tỏ nhất, Sao Thái Dương. Là một khuôn mặt sáng chói nhất, đứng đầu trong các vì sao đêm mang tính âm, nữ nên Sao Đỏ Venus được dùng làm biểu tượng cho các thần nữ, nữ vương mang tính lửa, đỏ, âm thái dương.
Người Babylon đặt tên Sao Đỏ là thần nữ Ishtar, người Sumer là thần Inanna [tên vị thần nữ này gần cận với thần nữ Thiên Y A Na của Việt Nam (Thánh Mẫu Chúa Ngọc trong Đạo Mẫu) và Po Nagar của Champa (Bà Chúa Xứ thờ ở Tháp Bà Nha Trang)]. Thần Isthar còn là nữ thần chiến tranh, đại diện cho vị thần trông coi sinh và tử (đây là những khuôn mặt của Sao Đỏ Venus). Người Ai Cập cổ cho thần nữ Isis có một khuôn mặt là Sao Đỏ. Tương tự người Hy Lạp cũng tin rằng Sao Đỏ có hai khuôn mặt là sao Mai, Phosphoros (Latin hóa Phosphorus), “Bringer of Light” “Eosphoros (Latin hóa Eosphorus), “Bringer of Dawn” vào buổi tối là sao gọi là Hesperos (Latin hóa Hesperus) (sao Hôm). Người Hy Lạp cổ gọi là Aphrodite, nữ thần Tình Yêu. Người Phoenicia gọi là Astarte. Người La Mã cổ gọi là Venus, nữ thần Tình Yêu.
Nàng Lửa Âu Cơ của Việt Nam có hai khuôn mặt: theo duy dương ngành thái dương là Nữ thần Mặt Trời Tinh Mơ, Nhật Tảo hôn phối với Mặt Trời Hoàng Hôn Lạc Long Quân và theo duy âm là Nàng Sáng, Sao Mai, Sao Đỏ đi cặp với Mặt Trời Đêm, Ông Trăng thái dương Lạc Long Quân.
Biểu tượng clip_image003của Sao Đỏ Venus cũng được dùng trong sinh học chỉ phái nữ.
Vì thế theo hệ thống đặt tên hành tinh của Liên Hiệp Thiên Văn Quốc Tế (International Astronomical Union, IAU) Sao Đỏ Venus là hành tinh duy nhất trong Hệ Mặt Trời được đặt tên theo khuôn mặt nữ.
Người Maya từ ngàn xưa đã theo dõi đường đi nước bước và hiểu biết rất rõ về Sao Đỏ Venus. Venus là tuyệt đỉnh của vũ trụ học và thần thoại học của Maya.  Có rất nhiều tháp, đền thờ Sao Đỏ như ở Chachoben ở Costa Maya, Mexico (Mexico: Phế Tích Chachoben) và nhiều lịch sách Sao Đỏ.
Họ dựa vào Sao Đỏ trong việc trồng ngô, bắp, một thực phẩm chính của người Maya. Vì mang tính lửa đỏ nên liên hệ tới hạn hán và chiến tranh. Người Maya thường khởi sự chiến tranh, khai chiến dựa vào Sao Đỏ. Đây là thời chiến ‘wartime’. Một thứ ‘star war’! Sao Đỏ, Sao Vàng, Kim Tinh Venus có một khuôn mặt biểu tượng cho hiếu chiến, máu lửa, chết chóc (vì sao mọc về đêm có một khuôn mặt mang tính âm ma, nữ quái). Vì thế mà theo lịch sách Trung Quốc khuôn mặt sao Thái Bạch của Kim Tinh Venus là một sao xấu. “Thái Bạch sạch cửa nhà”.
Vì vậy Sao Đỏ cũng là một vị thần với nhiều khuôn mặt như canh nông, mắn sinh, chiến tranh, sinh tử, kể cả là thần sáng thế Quetzal của Maya.
Nhưng quan trọng nhất là dùng để tiên đoán nhật thực. Maya cũng như các tộc thờ mặt trời khác trong đó có cổ Việt rất sợ nhật thực vì cho rằng mặt trời bị quỉ ám, giết hại có thể chết đi luôn. Vì thế phải tính toán, tiên đoán ngày tháng nhật thực để tế lễ, phòng chống lại tà ma, quỉ ám, để giúp mặt trời sống lại. Do đó lịch Venus rất quan trọng.
Hệ Thống Lịch Venus.
Xin tóm lược các điểm chính yếu của lịch Sao Đỏ.
.Hai Chu Kỳ của Sao Đỏ Venus.
Người Babylone đã giải mã được chu kỳ Venus vào năm 1.500 Trước Dương Lịch và khám phá ra Venus có hai chu kỳ hữu dụng có thể dùng để đo thời gian.
Chu kỳ thứ nhất ghi lại sự du hành dài của nó trong bầu trời tạo ra một hình bát giác và chu kỳ thứ hai tạo ra một hình ngũ giác.
clip_image005
Chu kỳ Venus trong 8 năm. Chu kỳ ngũ giác và bát giác (The pentagonal cycle and octagonal cycle) (nguồn: http://israelrockart.com/posts/venus-calendar/).
Chu kỳ bát giác xẩy ra cứ 8 năm một lần khi Venus hoàn tất một chuyến du hành dài quanh mặt trời và trở về cùng một điểm trong bầu trời nơi khởi đầu chu kỳ. Trong chu kỳ sao năm cánh, ngũ đồ (pentagram cycle), quả Đất, Venus và Mặt Trời thẳng hàng 5 lần trong chu kỳ 8 năm. Khoảng cách giữa các đỉnh sao năm cánh là 584 ngày.
Quĩ đạo ngôi sao năm cánh này gọi là Ngũ Đồ Venus (pentagram of Venus).
clip_image007

Ngũ đồ Sao Đỏ Venus.

Vì mang âm tính nên ngôi sao 5 cánh có cánh như cánh hoa vì thế còn có tên là Hoa Hồng Venus (Rose of Venus). Hình sao năm cánh, ngũ đồ, hoa hồng này thường thấy ở nhà thờ Đức Bà vì Đức Mẹ Đồng Trinh có một khuôn mặt là Nữ Vương.
.Một Năm Sao Đỏ Quanh Mặt Trời.
Sao Đỏ Venus quanh mặt trời hết một vòng là 224,65 ngày tính theo Sao Mai nhìn từ quả đất.
Như thế một năm trên Sao Đỏ Venus (thời gian quay quanh Mặt Trời) lại ngắn hơn một năm quả đất quay quanh mặt trời, chỉ bằng 224,65 ngày trên Trái Đất ( ta có 8 x 28 = 224).
.Chu kỳ Sao Đỏ (Venus cycle) 584 ngày.
Khởi đầu chu kỳ Venus được coi như là ngày Sao Mai xuất hiện. Phải cần 584 ngày để cho quả đất, mặt trời và Venus trở về một vị trí thẳng hàng đặc biệt (it takes 584 days for the earth, sun and Venus to return to a specific alignement).
Sự liên hệ giữa chu kỳ quả đất quanh mặt trời và Sao Đỏ khá đơn giản. 5 chu kỳ Sao Đỏ = 8 chu kỳ quả đất quanh mặt trời (tức một năm dương lịch thái dương Càn Đông Sơn hay một Haab 365 ngày: ta có 5 x 584 = 8 x 365 = 2920).
.Chu Kỳ Vòng Tròn Sao Đỏ (Venus Round).
Như đã biết Lịch Vũ Trụ, Trời Đất trên trống Ngọc Lũ I tương ứng với Lịch Chu Kỳ Vòng Tròn (Calendar Round) của Maya có chu kỳ là 52. Ta cũng biết dương lịch thái dương Càn Ngọc Lũ I tương ứng với lịch mặt trời dân sự Maya Haab 365 ngày một năm và lịch tế thiêng liêng Tzolkin 260 ngày đồng bộ với nhau cứ 52 năm một lần. Thời điểm này gọi là Lịch Vòng Tròn (Calendar Round).
Trong lịch Sao Đỏ của Maya cứ hai Lịch Vòng Tròn (52 x 2 = 104) tạo thành một chu kỳ vòng tròn Venus. Như thế lịch Tzolkin, Haab và chu kỳ Venus đồng bộ cứ mỗi 104 Haab (37.960 ngày). Ta có 13 x 8 = 104.
Như vậy trong lịch Maya thời kỳ 13-ngày, 20-ngày cùng với các chu kỳ 260 ngày, 52 năm và 104 năm tất cả tạo thành một hệ thống Lịch Sao Đỏ Venus.
Hệ Thống Lịch Venus Trên Trống Ngọc Lũ I.
Trong dịch học sao sáng về đêm mang âm tính, nữ và chói sáng nhất mang tính thái dương. Sao Đỏ mang tính âm thái dương, nữ thái dương.
Tuy nhiên trên trống đồng Sao Đỏ Venus có thể mang khuôn mặt âm nam giống như trong lịch Maya cũng vậy.
Vì thế ở lịch Venus trên trống đồng nòng nọc ta phải chọn các yếu tố lịch mang tính âm thái dương (kể cả âm nam thái dương, đại diện cho âm nữ thái dương). Trống Ngọc Lũ I thuộc nhóm trống thái dương có mặt trời 14 nọc tia sáng mũi mác Tốn tầng 2 có một khuôn mặt âm thái dương (Tốn OII là âm O thái dương II) nên có lịch Venus là chuyện tất nhiên.
Như đã biết lịch Sao Đỏ Venus liên hệ với các con số tố lịch chính yếu là số 5, 8 (5 chu kỳ Sao Đỏ = 8 chu kỳ quả đất quanh mặt trời). Từ hai số này cho ra số 13 (5 + 8), 52 (13 x 4), 104 (13 x 8).
Ta tìm lịch Sao Đỏ trên trống Ngọc Lũ I dựa và các yếu tố lịch có các con số này ở các vành diễn tả Càn Khôn, Trời Đất mang âm tính và cũng có thể ở bán viên âm của vành sinh hoạt nhân sinh số 6, Tốn-Càn (vì quả đất có liên hệ với Venus như đã nói ở trên).
.Liên Hệ Giữa Chu Kỳ Bát Giác và Ngũ Giác của Venus.
Như đã nói ở trên chu kỳ bát giác xẩy ra cứ 8 năm một lần khi Venus hoàn tất một chuyến du hành dài quanh mặt trời và trở về cùng một điểm trong bầu trời nơi khởi đầu chu kỳ. Trong chu kỳ ngũ đồ (pentagram cycle), quả Đất, Venus và Mặt Trời thẳng hàng 5 lần trong chu kỳ 8 năm. Khoảng cách giữa các đỉnh sao năm cánh là 584 ngày.
Bởi vì Sao Đỏ là vật sáng về đêm mang âm tính, ta phải lấy những yếu tố lịch mang âm tính. Sao đỏ không có người ở là một thiên thể nên trước hết ta chọn các yếu tố lịch Venus ở vành số 8 Khôn-Càn Chim Nông-Hươu Nai. Ta chỉ lấy ở bán viên âm. Ta có 8 con nông bay và 10 con hươu nai ở vành số 8 Khôn Càn, đất trời ở bán viên âm. Trong 10 hươu nai, theo chính thống, có 5 con hươu đực và 5 con nai cái. Ở đây áp dụng cho Venus, âm, nữ, ta chỉ lấy 5 con nai cái (Âu Cơ có một khuôn mặt là Sao Mai Venus có thú biểu là con nai sao cái).
Như vậy trên cùng một vành số 8 Khôn Càn, đất trời ta có 8 nông nước âm đi cặp với 5 nai cái lửa âm, ăn khớp với khuôn mặt âm, nữ của Venus, quay quanh mặt trời có một khuôn mặt diễn tả chu kỳ dài bát giác 8 và chu kỳ ngũ giác 5.
Vì chu kỳ Sao Đỏ liên hệ với dương lịch quả đất nên nhìn theo diện này ta cũng có thể lấy các yếu tố lịch ở vành nhân sinh số 6. Ta thấy ở cõi trời nhân gian vành số 6 có 3 chim trĩ trên hai nóc nhà nọc và 2 chim bay ở hai khu giả chầy cối, tổng cộng là 5 ứng với 5 chu kỳ Sao Đỏ. Ở hai khu nhà nòng mỗi nhà có 1 người trong nhà và 3 người ở chỗ giã chầy cối. Tổng cộng cả hai khu nhà nòng là 8 người, ứng với chu kỳ 8  năm dương lịch cõi thế gian phía âm.
Lưu ý ta thấy tại khu nhà nòng ở bán viên âm có một người trong nhà đứng ở cửa ngửa mặt lên trời:
clip_image002
Tại nhà nòng ở bán viên âm, một người đứng ở cửa ngửa mặt lên trời.
Ở hai khu giã chầy cối, có hai ông mo (pháp sư, giáo sĩ) đứng ngửa mặt lên trời.
clip_image002[5]
Ông mo, pháp sư ngửa mặt lên trời ở một khu giã chầy cối.
Những người này có thể là đang tế trời đất, tế sao hay đang quan sát các hiện tượng thiên văn, chiêm tinh.
Hai người ở chỗ  giã chầy cối tay cầm một vật có phần hình thanh que, hình cây thước để đứng nghiêng có thể là sớ tế lễ hay là một dụng cụ dùng trong thiên văn, chiêm tinh học. Hai người này đứng ở chỗ giã chầy cối, ở hai khu nhà nòng mang âm tính và đứng quay mặt nhìn trời về phía trái, chiều âm (cùng chiều kim đồng hồ) nên nghiêng nhiều về phía sao, mặt trăng hơn mặt trời (chiều dương mặt trời là chiều ngược kim đồng hồ). Từ chấm-vòng tròn trên người có một nghĩa là dương, thái dương. Ở đây là âm thái dương thích hợp với Sao Đỏ.
Như vậy vành số 8 và vành số 6 là hai vành căn bản của lịch Venus vì có hai chu kỳ hữu dụng của Venus có thể dùng để đo thời gian. Chu kỳ thứ nhất ghi lại sự du hành của nó trong bầu trời tạo ra một hình bát giác và chu kỳ thứ hai tạo ra một hình ngũ giác như đã nói ở trên.
Ta thấy rõ số 5 và số 8 là hai con số căn bản của lịch Venus diễn tả còn  ghi khắc lại trên trống Ngọc Lũ I.
.Lịch 1 năm Sao Đỏ quay quanh mặt trời 224, 7 ngày.
Ta  thấy 28 x 8 = 224.
Ta chỉ lấy ở bán viên âm (vì Venus mang âm tính). Ta có 8 con nông bay và 10 con hươu nai ở vành số 8 và 9 con cò bay + 9 con chim đứng ở vành số 10. Ta thấy 8 con nông Khôn biểu tượng tầng trời Khôn Càn cõi âm thái âm, nữ ăn khớp với khuôn mặt âm nữ của Venus, biểu tượng cho Venus. Còn 10  hươu nai biểu tượng tầng trời cõi lửa trời. Chín cò bay biểu tượng tầng  trời cõi gió và 9 chim đứng biểu tượng tầng trời cõi đất. Vì trống Ngọc Lũ I là trống thế gian ta lấy ba cõi trời lửa 10 hươu nai + cõi trời gió 9 cò bay + cõi trời đất 9 chim đứng. Tổng cộng 10 + 9 + 9 = 28.
Ta có 8 (con nông) x 28 (hươu nai + cò bay + chim đứng) = 224 ngày.
Đây là lịch Sao Đỏ Venus quay quanh mặt trời. Lịch chỉ có 8 tháng-28 ngày.
.Chu kỳ Sao Đỏ (Venus cycle) 584 ngày.
Như đã nói ở trên chu kỳ sao đỏ là 584 ngày để cho quả đất, mặt trời và Venus trở về một vị trí thẳng hàng đặc biệt. 5 chu kỳ Sao Đỏ 584 ngày = 8 chu kỳ quả đất quanh mặt trời 365 ngày.
Qua số 5 và 8 (và 5 + 8 =13) chu kỳ Sao Đỏ 584 này liên hệ với dương lịch thái dương Càn Đông Sơn hay Haab 365 ngày (13 x 28 = 364 +1) và lịch 260 ngày (Tzolkin của Maya) (13 x 20 = 260). Các loại lịch này thấy trên trống Ngọc Lũ I như đã nói ở trên.
.Lịch Vòng Tròn Sao Đỏ (Venus Round).
Lịch Venus có chu kỳ 52. Đây cũng là một thứ lịch vũ trụ càn khôn, trời đất Đông Sơn đã nói ở trên.
Ta cũng thấy 52 = 13 x 4.
Ta có bán viên âm nhóm 6 người nhẩy múa + 3 người trong nhà nọc + 4 người đáng trống (có một người đứng chỉ cho biết rõ là dương của âm), gộp lại là 13. Khu nhà nòng có 1 người trong nhà và 3 người ở chỗ giã chầy cối, gộp lại là 4. Ta có 13 x 4 = 52.
Con số 52 này diễn tả một loại lịch Sao Đỏ Đông Sơn ngày này không còn biết tên. Trong lịch Venus Maya như đã nói ở trên gọi là Lịch Vòng Tròn (Calendar Round).
.Lịch Chu Kỳ Sao Đỏ (Venus Cycle).
Cứ hai Lịch Vòng Tròn (52 x 2 = 104) tạo thành một chu kỳ Venus.
Ta thấy số 104 = 13 x 8.
Ta có 13 người nhầy múa (lấy theo diện âm tính của người có trang phục đầu bầu nậm) x 8 người ở 2 khu nhà nòng [ (một khu nhà có 1 người đứng trong nhà + 3 người ở khu giã chầy cối, là 4) x 2 khu nhà = 8].
Như thế rõ như ban ngày trên trống Ngọc Lũ I có một hệ thống Lịch Venus. Ta có thể dùng Lịch Maya kiểm chứng lại (xem Lịch Maya Trên trống Ngọc Lũ I).
……..
Dĩ nhiên còn có thể có nhiều loại lịch nữa ở trống Ngọc Lũ I hay trên các trống khác (xem Lịch Đồng Hoàng Hạ).
Kết Luận.
Lịch, nhất là lịch vũ trụ, dựa vào chu kỳ chuyển vận của vũ trụ trời đất nên liên hệ với vũ trụ tạo sinh, dịch học. Điểm này thất rõ qua sự kiện là dịch học được dùng trong bói toán, tiên liệu mối liên hệ giữa đại vũ trụ và  con người, tiểu vũ trụ, điểm này cũng giống như lịch vậy. Trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn diễn tả vũ trụ tạo sinh, dịch học vì thế có lịch đồng Đông Sơn là chuyện tất nhiên.
Nhìn tổng lược, rõ như các con số, rõ như hai năm là mười, rõ như “con cua tám cẳng hai càng, một mai hai mắt rõ ràng con cua” chúng ta có Lịch Đồng Đông Sơn.
Mỗi trống diễn tả ngành, nhánh mang trọn vẹn ý nghĩa vũ trụ tạo sinh có thể có những loại lịch riêng của nhóm trống, của ngành, đại tộc đó. Ta có ít nhất 4 nhóm trống: nhóm trống thái dương Càn như trống Ngọc Lũ I, nhóm trống dương thái âm Chấn như trống Hoàng Hạ, nhóm trống thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió như trống Làng Vạc II và nhóm trống thiếu dương Li đất như trống Vienna (Khai Hóa) nên có ít nhất 4 thứ lịch dương và 4 thứ lịch âm.
Lịch Đồng Đông Sơn dựa theo sự vận chuyển của vũ trụ, trời đất, thiên thể qua thiên văn học, chiêm tinh học và toán học, diễn tả bằng các con số mang nghĩa dịch học rất minh bạch như toán học.
Ở đây trên trống Ngọc Lũ I dương thái dương Càn thuộc nhóm trống thái dương mặt trời 14 nọc tia sáng mũi mác ta thấy rõ có những loại lịch đồng Đông Sơn mang tính thái dương.
Ta có:
-Dương lịch Đông Sơn Người Mặt Trời, lịch-quả đất quay quanh mặt trời 365 ngày của ngành dương thái dương Càn. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là Lịch Người Việt Mặt Trời Thái Dương Càn 365 ngày.
Loại lịch đồng này được xác thực, kiểm chứng bằng dương lịch Âu châu Gregrory.
-Các loại lịch khác như lịch tế, lịch vũ trụ, trời đất, lịch Sao Đỏ Venus.
Vì chúng ta không còn dấu tích của cổ lịch Việt Nam nên ta có thể xác thực và kiểm chứng lại bằng các lịch của các nền văn minh khác nhất là của Maya, vì Việt Nam và Maya liên hệ mật thiết với nhau (Xem Lịch Maya Trên Trống Ngọc Lũ I ở số blog tới).
Lịch đồng Đông Sơn diễn tả bằng các con số theo nghĩa dịch và diễn tả bằng hình người, chim thú, vật chuyển động quanh trục vũ trụ thân trống, quanh mặt trời ở tâm trống theo những chu kỳ vô cùng tận như ngày, tháng, năm của lịch.
Qua các yếu tố lịch ở mỗi vành mang tính nòng nọc (âm dương) như thế nào, diễn tả cõi tạo hóa đại vũ trụ hay cõi càn khôn tiểu vũ trụ hoặc cõi trời đất nhân gian, ta biết ngay loại lịch đó là lịch gì.
Các yếu tố, các con số lịch viết theo ngữ pháp chữ nòng nọc vòng tròn-que chuẩn xác tuyệt hảo.
(Xem  Lịch Maya Trên Trống Ngọc Lũ I).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: