LỊCH ĐỒNG ĐÔNG SƠN (2): LỊCH ÂM NGỌC LŨ I.

*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài.

.Phải tuân thủ luật Tác quyền Copyright.

 

LỊCH ĐỒNG ĐÔNG SƠN.

(2)

LỊCH ÂM NGỌC LŨ I.

Nguyễn Xuân Quang.

Trước hết xin nói ngay là lịch âm (yin calendar) khác với âm lịch (lunar calendar). Lịch âm là lịch mang âm tính có thể là lịch dựa theo chu kỳ mặt trời âm thái dương, mặt trời lặn, mặt trời nước Chấn và lịch âm dựa theo chu kỳ mặt trăng tức thường gọi là âm lịch.

Như đã biết Chấn (IOO) có hai khuôn mặt: một là mặt trời của nhánh âm Khôn ngành thái dương, là mặt trời lặn, mặt trời nước dương (I) thái âm (OO) và khuôn mặt thứ hai là ông trăng lưỡi liềm thái dương, một thứ mặt trời lặn, tức mặt trời đêm. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là Chấn Lạc Long Quân có hai khuôn mặt là mặt trời lạc dương, mặt trời lặn dương thái âm và ông trăng lưỡi liềm thái dương.

Như thế lịch âm trên trống đồng nòng nọc (âm dương) có hai loại: lịch âm theo mặt trời dương thái âm và âm lịch theo mặt trăng thái dương.

 A. LỊCH ÂM MẶT TRỜI DƯƠNG THÁI ÂM (SOLAR YANG T’AI YIN CALENDAR) NGỌC LŨ I.

Lịch đồng mặt trời dương (I) thái âm (OO) Chấn (IOO) trên trống Ngọc Lũ I gần cận với lịch dương thái dương Càn âm 365 ngày ở bán viên âm nhóm 6 người nhẩy múa đã nói ở trên và là khuôn mặt dương thái dương của âm lịch ông trăng thái dương dưới đây.

 B. LỊCH TRĂNG (ÂM LỊCH) (LUNAR CALENDAR) NGỌC LŨ I.

Lịch trăng (âm lịch) đã có từ ngàn xưa, lịch trăng cổ nhất tìm thấy ở Cánh Đồng Warren tại Scotland có tuổi tới 8.000 năm Trước Dương Lịch, ở vào thời kỳ Trung Thạch.

Lịch trăng (âm lịch) là loại lịch dựa trên các chu kỳ của tuần trăng ngược với dương lịch (mặt trời) có chu kỳ hàng năm chỉ dựa trực tiếp lên năm mặt trời.

Lưu ý: để khỏi lẫm lẫn với lịch âm và cho rõ nghĩa hơn tôi dùng từ lịch trăng (lunar year) đi kèm theo từ (âm lịch): lịch trăng (âm lịch).

Có hai loại lịch trăng (âm lịch) chính: lịch trăng thuần túy (purely lunar calendar) và lịch trăng kết hợp với dương lịch (mặt trời) gọi là lịch trăng-mặt trời (Lunisolar calendar) (trong Wikipedia tiếng Việt dịch là lịch âm-dương. Tôi dùng từ lịch trăng-mặt trời thay cho lịch âm dương cho khỏi lầm lẫn vì âm dương nghĩa quá rộng gây ra ngộ nhận với nghĩa khác).

Lịch Trăng (âm lịch) Thuần Túy Thuần Âm (Purely Luna Calender).

Lịch trăng (âm lịch) thuần túy thuần âm hoàn toàn dựa theo tuần trăng, không điều chỉnh sai biệt với dương lịch (mặt trời).

Loại lịch trăng (âm lịch) thuần túy duy nhất trên thực tế ngày nay còn thấy là lịch trăng Hồi giáo. Lịch này được sử dụng chủ yếu cho các mục đích tôn giáo. Ví dụ mùa lễ Ramadan được tính theo lịch trăng (âm lịch) thuần túy.

Xin nhắc lại Hồi giáo là một tôn giáo mang âm tính nghiêng về phía vũ của vũ trụ [các cơ sở kiến trúc thờ phượng, đền đài, các nhà mồ có mái vòm củ hành tây mang hình ảnh bầu vũ trụ, bầu trời, Hồi giáo có cờ hình trăng lưỡi liềm và ngôi sao là các thiên thể sáng về đêm mang âm tính, các trang trí ở các đền thờ Hồi giáo chỉ dùng hoa lá thực vật (và các motifs hình học) không dùng động vật]. Vì thế họ dùng lịch theo lịch trăng (âm lịch) thuần âm.

Lịch trăng (âm lịch) Hồi giáo thuần âm hoàn toàn dựa theo tuần trăng, không điều chỉnh sai biệt với dương lịch.

Lịch trăng (âm lịch) Thuần Túy Trên Trống Ngọc Lũ I. 

Như đã biết trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn không có mặt trăng thuần âm nữ (chị Hằng) mà chỉ có ông trăng, hình bóng của mặt trời đêm, mặt trời âm. Vì thế theo chính thống, nhất là trên trống Càn Ngọc Lũ I thuộc nhóm trống dương thái dương không có âm lịch thuần âm nữ (nếu có thì là của ngành thái dương, mang tính thái dương) mà thường chỉ có âm lịch ông trăng thái dương tức một thứ âm lịch mặt trời âm thái dương hay lịch ông trăng thái dương đại diện cho âm lịch trăng thuần âm, nữ (đi với chu kỳ kinh nguyệt phái nữ).

Ông trăng thái dương là ông trăng lưỡi liềm hình sừng có hai đầu nhọn nọc mũi mác (>) mang tính thái dương. Điểm này thấy rõ trong nhiều loại lịch trăng (âm lịch) lấy theo chu kỳ trăng lưỡi liềm như lịch Do Thái thay vì lấy theo trăng tròn như lịch Ấn Độ.

Vì là lịch âm theo chu kỳ mặt trăng, trên trống Ngọc Lũ I ta phải lấy các yếu tố lịch đồng loại càng mang tính âm càng nhiều càng tốt như chim nông nước ở vành số 8 Khôn và càng ở khu nhà nòng âm Khôn càng thích hợp.

Xin nhắc lại trên một trống đồng thế gian có nhà thì mỗi bán viên có một ngôi nhà nọc, nhà thờ hay đền thờ mặt trời dương thái dương, Càn

clip_image002Ngôi nhà nọc, Càn ở bán viên âm trên trống Ngọc Lũ I có 3 người trong nhà và 4 người ở dàn trống sát bên. Tổng cộng 7 người. Số 7 là số Càn.

và một ngôi nhà nòng, Khôn mái vòm, mái mu rùa hình bầu vũ trụ, bầu trời là nhà thờ không gian hay ở ngành mặt trời thái dương là nhà hay đền thờ mặt trời âm thái dương.

clip_image004Ngôi nhà nòng Khôn ở bán viên âm trên trống Ngọc Lũ I với cảnh giã chầy cối kế bên. Tổng cộng có 4 người. Số 4 là số Cấn lưỡng hợp với Khôn theo Hậu Thiên Bát Quái.

Kiểm chứng lại ta thấy rõ số người trong mỗi khu nhà cũng xác thực là nhà Nọc Càn hay nhà Nòng Khôn. Nhà nọc, Càn trong nhà có 3 người cộng với 4 người ở dàn trống vị chi là 7 người. Số 7 là số Càn. Như thế trăm phần trăm là Nhà Nọc là Nhà Càn, Nhà Mặt Trời. Nhà nòng, Khôn trong nhà có 1 người cộng với 3 người ở chỗ giã chầy cối vị chi là 4 người. Số 4 là số Cấn. Theo Hậu Thiên bát quái Cấn hôn phối với Khôn (vì trống Ngọc Lũ I là trống thế gian nên phải diễn tả theo Hậu Thiên Bát Quái). Hiển nhiên Nhà Nòng là Nhà Khôn.

Đây là lý do ta phải lấy các yếu tố lịch mang tính âm ở khu nhà nòng, âm Khôn.

.Một năm 12 Tháng mang âm tính.

Ta chọn những yếu tố lịch mang tính âm ở hai khu nhà nòng âm. Ở hai nhà này có 2 người trong nhà và 6 người ở chỗ giã chầy cối. Ta có 2 x 6 = 12.

Con số 12 nầy diễn tả 1 năm 12 tháng âm lịch.

.Tháng trăng, âm lịch 29 hay 30 ngày.

Chiều dài thời gian của chu kỳ mặt trăng không nhất định, thay đổi ít nhiều. Tính trung bình dài 29.530588… ngày. Vì thế lịch trăng (âm lịch) có tháng 29 (thiếu) và tháng 30 ngày (đủ) xen kẽ.

Vì tháng theo trăng mang âm tính nên ta chọn yếu tố âm lịch ở khu nhà nòng âm. Như đã biết ta thấy ngay ở hai căn nhà nòng âm trước cửa có treo 30 chiếc cồng, một thứ trống âm diễn tả mặt trời âm có một khuôn mặt là ông trăng. Trong 30 chiếc cồng, có một chiếc đứng riêng rẽ ngoài khung cửa dùng như một chỉ định tố.

clip_image006

Trong 30 chiếc cồng, có một chiếc đứng riêng rẽ ngoài khung cửa dùng như một chỉ định tố. 

Hai ngôi nhà gộp lại có 30 chiếc cồng. Như thế làm sao biết được khi nào diễn tả tháng 29 ngày khi nào diễn tả 30 ngày? Xin thưa, để ý ta thấy ở căn nhà nòng ở bán viên dương, ở cánh cửa bên trái của nhà có 8 chiếc cồng nhưng một chiếc treo ở ngoài khuôn cửa. Thoạt đầu tôi tưởng là do lỗi kỹ thuật vì thiếu chỗ nên phải khắc ra bên ngoài. Tuy nhiên đây là một cách diễn tả có chủ ý, cố ý để chỉ cho biết hoặc là tháng 29 hay tháng 30 ngày. Chiếc cồng đứng riêng rẽ này trông nhỏ hơn các các cồng khác, có tính cách dùng như một dấu (accent) nếu diễn tả bằng chữ nòng nọc vòng tròn-que hay được dùng như một chỉ định tố (determinative element) dùng để chỉ một ý nghĩa. Trong thực tế nếu dùng làm lịch cồng treo thì khi là tháng đủ 30 ngày, chiếc cồng này được treo vào, còn nếu là tháng thiếu 29 ngày thì lấy cất đi. Còn lại những cồng khác trong khuôn cửa bất di bất dịch, cố định. Đây là cách diễn tả tháng 29 hay 30 ngày. Người Maya cũng có cách diễn tả cho biết tháng 29 và tháng 30 ngày nhưng họ diễn tả bằng hình ngữ (pictogram). Lịch Maya chỉ tháng 29 ngày diễn tả bằng một hình ngữ chính kèm theo sau là một hình ngữ phụ có đuôi chữ (suffix) là số 9 hay chỉ tháng 30 ngày có hình ngữ phụ có đuôi là số 10. Lịch cồng Đông Sơn diễn tả tháng 29 hay tháng 30 ngày tuyệt vời hơn.

Ta thấy rõ hai khu nhà nòng Khôn diễn tả một thứ lịch mặt trời âm thái dương hay âm lịch ông trăng lưỡi liềm ngành thái dương đại diện cho âm lịch thuần âm.

Hồi giáo là tôn giáo âm vũ của vũ trụ nhưng nhưng mang tính âm nam ngự trị. Xã hội Hồi giáo theo phụ quyền cực đoan. Lịch trăng (âm lịch) thuần túy Hồi giáo mang tính âm nam thái dương là lịch ông trăng lưỡi liềm thái dương (như đã nói ở trên cờ Hồi giáo có trăng lưỡi liềm và ngôi sao). Như thế lịch trăng (âm lịch) thuần túy Hồi giáo có mặt trên trống Ngọc Lũ I.

Trống Ngọc Lũ I có tuổi trên dưới 2.500 năm hiển nhiên không lấy theo lịch Hồi giáo mà chỉ có thể ngược lại.

Ta sẽ thấy bất cứ loại lịch nào trên thế giới cũng đều có mặt trong lịch đồng Đông Sơn.

 b. Lịch Kết Hợp Trăng-Mặt Trời (Lunisolar Calendar).

Phần lớn các loại lịch khác, dù được gọi là “âm lịch” (lunar calendars), trên thực tế đều là một thứ lịch kết hợp trăng-mặt trời. Nói một cách khác trong loại lịch này, các tháng được tính theo chu kỳ mặt trăng, nhưng có các tháng nhuận được thêm vào dựa theo một số quy tắc nhất định để điều chỉnh cho các chu kỳ trăng ăn khớp với năm dương lịch (mặt trời). Dương lịch (mặt trời) ‘dân sự’ của Ai Cập cổ cho thấy có các dấu tích bắt nguồn gốc từ lịch trăng (âm lịch) trước đó, được dùng với mục đích tôn giáo và nông nghiệp. Lịch kết hợp trăng-mặt trời hiện nay gồm có lịch Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan…

Vì kết hợp với dương lịch (mặt trời) nên loại lịch kết hợp này có nhiều loại.

 .Lịch Kết Hợp Trăng-Mặt Trời 12 Tháng-29 hay 30 Ngày Có Tháng Nhuần.

Loại lịch này là lịch trăng thuần túy như lịch trăng (âm lịch) Hồi giáo nói ở trên nhưng có điều chỉnh lại sai biệt để ăn khớp với dương lịch (mặt trời). Ví dụ tiêu biểu là lịch trăng Do Thái.

Lịch kết hợp Trăng-Mặt Trời 12 tháng-29 hay 30 ngày có tháng nhuần trên trống Ngọc Lũ I.

Ở trên ta đã có:

-12 tháng

Được diễn tả bằng 2 người trong nhà nòng x 6 người ở hai khu giã chầy cối = 12 tháng mang âm tính.

-Tháng 29 hay 30 ngày

Được diễn tả bằng 29 chiếc cồng trong khung cửa và 1 chiếc ở ngoài.

-Tháng nhuận.

Tháng nhuận có mục đích để san bằng phần thời gian thiếu hụt của lịch trăng (âm lịch) so với dương lịch (mặt trời).

Ta có thể lấy 2 con nông bay mang tính di động, khi có mặt khi không (lúc có nhuận thì có mặt, lúc không thì bay đi!) ở trên hai chỗ giã chầy cối làm 2 chỉ định tố chỉ cho biết cứ hai năm có một tháng nhuận để lịch trăng (âm lịch) ăn khớp với dương lịch (mặt trời).

Lịch loại này thấy rõ nhất ở lịch trăng (âm lịch) Do Thái, cứ 2 hay 3 năm lại có 1 tháng nhuận.

 .Lịch Kết Hợp Trăng-Mặt Trời Việt Nam Hiện Nay Trên Trống Ngọc Lũ I.

Lịch trăng (âm lịch) Việt Nam hiện nay gọi là nông lịch về căn bản gần giống như lịch của Trung Quốc (nông lịch Việt Nam tương tự như nông lịch ở các quốc gia chịu ảnh hưởng của nền văn minh Trung Hoa như Triều Tiên, Nhật Bản, Đài Loan, Singapore). Đây là một loại lịch kết hợp trăng-mặt trời (âm-dương lịch).

Các bằng chứng khảo cổ học cho thấy lịch Trung Quốc xuất hiện sớm nhất trên các giáp cốt (mai rùa và xương) tiên tri, bói toán vào cuối thiên niên kỷ thứ 2 Trước Dương Lịch thời nhà Thương. Các khảo cổ vật này chỉ cho thấy đây là năm kết hợp trăng-mặt trời có 12 tháng và thỉnh thoảng có tháng thứ 13, cũng như thậm chí có cả tháng thứ 14 (nhuận) (Wikipedia, Nông Lịch).

Loại nông lịch này có mặt trên trống Ngọc Lũ I.

Vì mang tính kết hợp nòng nọc (âm dương) nên:

-Theo duy âm ta chọn các yếu tố lịch mang âm tính: ta thấy ở hai bán viên có 8 người đánh trống ở bên hai nhà nọc, Càn và 4 người giã chầy cối mang âm tính ở bên khu nhà nòng, Khôn. Tổng cộng 12 người mang âm tính diễn tả 12 tháng.

Trong 8 người đánh trống có một người đứng mang tính dương của âm. Như đã biết người này còn được dùng như là một chỉ định tố nên có thể giữ thêm vai trò của một tháng nhuận.

Ngoài ra nếu muốn ta cũng có thể coi hai người ở khu giã chầy cối đứng ngửa mặt lên trời tế vũ trụ, trời đất dùng diễn tả hai tháng nhuận.

Theo duy dương năm có tháng dựa theo mặt trời người Trung Quốc gọi là tuế (歲 suì = tuế)  [trong khi năm dựa theo mặt trăng gọi là niên (年 nián = niên)] ta thấy ngay nông lịch 13 tháng này liên hệ với hai nhóm 13 người nhẩy múa.

Trong 13 người có 12 người mặt trời chim rìu, chim Việt cắt lửa diễn tả 12 tháng và người cuối cùng ở nhóm 7 người nhẩy múa có trang phục đầu bầu nậm là người thứ 13 có một khuôn mặt là một chỉ định tố diễn tả tháng nhuận thứ 13.

…..

Cũng nên biết có nhiều tác giả Việt Nam cho rằng nhà Thương liên hệ ruột thịt với đại tộc Việt. Nếu đúng như thế thì nông lịch Trung Hoa thời nhà Thương ruột thịt với nông lịch Ngọc Lũ I là hữu lý. Nông lịch Việt Nam hiện nay được coi là có gốc từ nông lịch Trung Hoa thì cũng ruột thịt với nông lịch trống Ngọc Lũ I.

.Lịch Kết Hợp Trăng-Mặt Trời ‘Một Năm và Một Ngày’ (“a year and a day”) của Cổ Thời Anh Quốc.

Cổ thời Anh Quốc có lịch “một năm và một ngày”còn được sử dụng cho tới thời Tudor. Bằng chứng còn thấy rõ qua bài hát ballade thời Vua Edward (có lẽ là Edward II, cuối thế kỷ XIII hay đầu thế kỷ XIV) về Robin Hood có câu “-How many merry months be in the year? -There are thirteen, I say…” (Có bao nhiêu tháng vui vẻ trong năm? Tôi nói: có mười ba…).

Lịch ‘Một Năm và Một Ngày’ của Cổ Thời Anh Quốc gồm 13 tháng 28 ngày cộng thêm 1 ngày: 13 x 28 = 364 và 364 cộng thêm 1 ngày = 365.

Lịch này là lịch âm dựa vào tuần trăng được cho là 14 ngày. Như thế một tháng có 28 ngày tức 4 tuần, một năm 13 tháng (52 tuần). Ta có 52 x 7 = 364 ngày.

Lịch ‘Một Năm Một Ngày” Trên Trống Ngọc Lũ I.

Vì là âm lịch mặt trăng ta phải chọn các yếu tố lịch mang tính lịch âm nhưng vì là loại kết hợp trăng-mặt trời ta có thể chọn ở trên cả mặt trống.

.Một Tuần 7 Ngày.

Vì tháng 28 ngày gồm 4 tuần ta phải chọn yếu tố đơn vị là tuần lễ 7 ngày.

Ở bán viên âm ta có 4 người đánh trống + 3 người ở khu giã chầy cối, vị chi là 7 người.

7 người diễn tả 1 tuần.

.Một Năm 365 ngày gồm 13 Tháng.

Ở bán viên âm tháng mang âm tính ta chọn các người mang yếu tố lịch âm. Ta thấy ngay trong 2 nhà nọc có 6 người ngồi (ngồi là âm, đứng là dương) đang làm lễ cung nghinh mặt trời

clip_image0076 người ngồi mang âm tính trong 2 nhà nọc ở hai bán viên.

và 7 người ngồi ở hai dàn trống 8 người (7 ngồi mang âm tính và 1 đứng mang dương tính). Tổng cộng ta có 13 người ngồi. Con số 13 người ngồi âm này diễn tả 13 tháng.

.Một Tháng 28 Ngày.

Trên trống Ngọc Lũ I có bốn loài chim ứng với tứ tượng là chim nông, một loài chim nước biểu tượng cho tượng thái âm, nước. Chim trĩ, một loài chim lửa ở trên nóc nhà biểu tượng cho tượng thái dương, lửa. Mười 18 cò bay liệng biểu tượng cho tượng thiếu âm, gió và 18 chim đứng biểu tượng cho tượng thiếu dương, đất.

Vì là âm lịch ta chỉ lấy các yếu tố lịch âm, nhất là ở đây là âm lịch theo trăng, nước (trăng đi với nước, nước thủy triều lên xuống theo tuần trăng). Ta chỉ lấy chim nông nước. Vành số 8 Khôn Càn có 14 con nông nước mang âm tính (8 con ở bán viên âm và 6 con ở bán viên dương).

clip_image0096 chim nông bay ở bán viên dương nhóm 7 người nhẩy múa (Lưu ý người thứ 7 có trang phục đầu bầu nậm rất nhỏ bé có một khuôn mặt là một chỉ định tố).

Ở hai khu giã chầy cối có 2 con chim nông bay. Ta có 14 x 2 = 28.

Con số 28 diễn tả 28 ngày thuần âm, trăng nước tức 1 tháng âm lịch 4 tuần-7 ngày.

-1 ngày.

Còn lại 1 ngày.

Trở lại các con số diễn tả 13 tháng ở trên ta đã thấy 13 tháng là do 6 người ngồi trong hai nhà nọc cộng 7 người ngồi ở hai dàn trống 8 người .Tổng cộng ta có 13 người ngồi. Con số 13 người ngồi âm này diễn tả 13 tháng. Ở dàn trống tại bán viên âm còn có 1 người thứ 8 đứng đánh trống. Chính người này diễn tả 1 ngày mang tính ‘nhuận’ trong âm lịch 13 tháng 28 ngày cộng 1 ngày.

Như đã nói, ta thấy người này cho đứng quay mặt về phía âm là cố ý, có chủ đích chứ không phải là làm sai.

Như vậy lịch “một năm và một ngày” (364 +1 ngày) này cũng là một thứ lịch kết hợp vì cần phải điều chỉnh thêm 1 để ăn khớp với dương lịch 365 ngày.

Lịch cổ Anh quốc ‘một năm và một ngày’ 13 tháng mỗi tháng 28 ngày cộng thêm 1 ngày cũng có mặt trên trống Ngọc Lũ I.

 3. Lịch Trời Đất, Vũ Trụ.

Chúng ta vừa nói ở trên về các loại lịch mặt trời dương thái dương Càn 365 ngày cõi Người ở vành nhân sinh số 6) và các loại lịch đối ngược tính nòng nọc (âm dương) của các loại dương lịch đó, là âm lịch mặt trời, mặt trăng dương thái âm. Bây giờ chúng ta nói tới một loại lịch dựa theo chu kỳ của vũ trụ, trời đất ở các vành số 8 Khôn Càn chim nông-hươu nai (như đã nói ở trên vành số 8 Khôn-Càn có thể diễn tả một loại lịch tạo hóa Càn Khôn Đại Vũ Trụ)

clip_image011

Vành số 6 Tốn-Càn sinh hoạt nhân sinh và vành số 8 Khôn Càn chim nông bay và hươu nai trên trống Ngọc Lũ I.

và vành số 10 Đoài vũ trụ khí gió-Li, vành Trời Đất 18 cò bay và 18 chim đứng (vành số 10 có thể diễn tả một thứ lịch Trời Đất tiểu vũ trụ).

clip_image013

Năm con cò bay và năm chim đứng trong số 18 con cò và 18 chim đứng ở vành số 10.

Hai vành này diễn tả cõi tạo hóa càn khôn, trời đất của cõi người thế gian thì hiển nhiên đây là một loại lịch vũ trụ, trời đất nghiêng về thiên văn học dựa theo chu kỳ chuyển vận của vũ trụ, trời đất.

Vì trống Ngọc Lũ I là trống thái dương thế gian nên ta phải nhìn vũ trụ, trời đất theo diện ba cõi thế gian: cõi trời, cõi đất, cõi nước. Bây giờ ta lấy các yếu tố lịch ở vành số 8 Khôn Càn và vành số 10 Trời Đất. Ở vành số 8 Khôn Càn ta lấy 14 con nông càn khôn. Theo duy âm là Khôn âm, Nước biểu tượng cõi nước và 20 hươu nai Càn Khôn, nhìn theo diện duy dương hươu là con thú 4 chân sống trên mặt đất có một khuôn mặt sinh tạo Càn (những con có sừng 3 mấu nhọn Càn), Lửa đất thế gian biểu tượng cõi đất. Ở vành số 10 Trời Đất ta lấy 18 cò bay biểu tượng cõi trời gió. Ta có 14 + 20 + 18 = 52.

Số 52 này diễn tả một chu kỳ vũ trụ trời đất, ba cõi của trung thế nhân gian, liên hệ với lịch người mặt trời nhân gian dương thái dương Càn 365 ngày.

Đây coi như một thứ lịch vũ trụ, trời đất, một chu kỳ 52 lịch quả đất dương thái dương Càn 365 ngày cõi nhân gian.

Ta thấy rất rõ mỗi vành trên mặt trống Ngọc Lũ I diễn tả một thứ lịch.

Tôi gọi là Lịch Trời Đất, Vũ Trụ người Maya gọi là Lịch Vòng Tròn (Calendar Round) (Lịch Vòng Tròn do sự kết hợp của lịch Haab 365 ngày với lịch đếm 260 ngày Tzolkin tạo thành một chu kỳ đồng bộ dài 52 lịch Haab) (xem Lịch Maya Trên trống Ngọc Lũ I).

Ở đây ta thấy Lịch Vũ Trụ Đông Sơn diễn tả bằng các yếu tố lịch của ba tiểu thế cõi người có dương lịch thái dương Càn nhân gian 365 ngày thật hữu lý và minh bạch, dễ hiểu hơn gọi là Lịch Vòng Tròn của người Maya, thật là khó hiểu.

Lịch Vũ Trụ, Trời Đất là một chu kỳ 52 lịch dương thái dương Càn 365 ngày nhân gian.

Lịch vũ trụ, trời đất, lịch Vòng Tròn Maya theo hệ thống 52 này làm liên tưởng tới hệ thống 60 trong nông lịch Trung Quốc gọi là Lục Thập Hoa Giáp, là sự kết hợp 6 chu kỳ hàng can với 5 chu kỳ hàng chi thành hệ thống 60 [lưu ý hệ 52 theo dương lịch (mặt trời), còn hệ 60 theo lịch trăng (âm lịch)]  .

Chúng ta trước đây quan niệm là con người sống hết một chu kỳ vũ trụ trời đất, một lục thập hoa giáp là đủ một đời,  còn sống lâu hơn là có phúc. Vì vậy mới có bài hát ’60 mươi năm cuộc đời’.

(còn nữa).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: