LỊCH ĐỒNG ĐÔNG SƠN (1): LỊCH ĐỒNG NGỌC LŨ I.

*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài.

.Phải tuân thủ luật Tác quyền Copyright.

LỊCH ĐỒNG ĐÔNG SƠN.

(THE ĐÔNG SƠN BRONZE CALENDARS)

(1)

LỊCH ĐỒNG NGỌC LŨ I, LỊCH NGÀNH MẶT TRỜI DƯƠNG THÁI DƯƠNG.

 (NGỌC LŨ I BRONZE CALENDARS, CALENDARS OF THE YANG T’AI YANG SUN BRANCH)

(Nguyễn Xuân Quang.

Trống Đồng Nòng Nọc (Âm Dương) của đại tộc Đông Sơn là trống diễn đạt vũ trụ thuyết, trống biểu vũ trụ giáo, mặt trời giáo, dịch học, là trống biểu của Hùng Vương Mặt Trời của Người Việt Mặt Trời Thái Dương nên tất nhiên có những khuôn mặt diễn tả về truyền thuyết, cổ sử việt, văn hóa Việt, dịch đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn… và thêm nữa về cả thiên văn học (astronomy), chiêm tinh học (astrology), lịch học, toán học, số học (numerology)…. Người Mặt Trời Aztec và Maya liên hệ ruột thịt với người Việt Mặt Trời Thái Dương cũng thờ vũ trụ giáo, mặt trời (xem Sự Tương Đồng Giữa Aztec, Maya và Cổ Việt) họ có các loại Lịch Mặt Trời Maya và Aztec thì tất nhiên Người Việt Mặt Trời Thái Dương thờ vũ trụ giáo, mặt trời giáo cũng phải có các loại lịch mặt trời ghi khắc lại trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn. Bắt buộc. Bắt buộc. Và bắt buộc. Một trăm phần trăm phải có. Bằng chứng cụ thể là trên một trống  đồng Đông Sơn Nam Trung Quốc  có cảnh Múa Tế Người Bay giống hệt cảnh Múa Tế Người Bay của Maya và một số tộc Trung Mỷ. Họ cũng dùng Múa Tế này diễn tả một thứ Lịch Tròn (xem dưới).

Trước đây đã có một vài tác giả Việt Nam truy tìm lịch trên trống đồng nòng nọc nhưng nhìn theo một diện nào đó khác với tôi.

Trước khi nói về Lịch Đông Sơn Ngọc Lũ I xin nhắc sơ lại vài điểm chính của trống Ngọc Lũ I, nhất là các điểm liên quan tới lịch (các chi tiết khác xem thêm ở trống Ngọc Lũ I).

Trống Ngọc Lũ I trống thuộc nhóm mặt trời thái dương 14 nọc tia sáng là trống biểu ngành mặt trời thái dương, Càn thế gian của người mặt trời thái dương thuộc họ mặt trời thế gian. Trống diễn tả trọn vẹn vũ trụ thuyết của cả nhánh nọc Càn ngành thái dương.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt trống Ngọc Lũ I có hai tộc người: nhóm 7 người nhẩy múa ở bán viên dương và nhóm 6 người nhẩy múa ở bán viên âm. Người cuối cùng của nhóm 7 người nhẩy múa có trang phục đầu bầu nậm, nhìn theo lưỡng cực diễn tả người vũ trụ. Nhìn theo duy dương là người mặt trời lưỡng tính tạo hóa. Còn lại 12 người đều có trang phục đầu chim Rìu, chim Việt Cắt Lửa (Great Hornbill), chim biểu của thần mặt trời Viêm Đế thái dương. Đây là Người Việt Mặt Trời Thái Dương của chủng người vũ trụ (có trang phục đầu bầu nậm vũ trụ).

Trống Ngọc Lũ I là trống biểu của nhánh Chim Rìu Lửa, Chim Việt Lửa, Chim Cắt Lửa Hồng hoàng (tên Hán Việt của chim cắt), chim biểu của Viêm Đế, thần mặt trời thái dương.

Trong khi trống Hoàng Hạ là trống biểu của nhánh Chim Rìu, Chim Việt Nước, chim Việt Lạc Bổ Nông (xem trống này). Trống Ngọc Lũ I và trống Hoàng Hạ gộp lại là hai trống biểu toàn hệ tộc Người Việt Mặt Trời Thái Dương gồm hai ngành: ngành Chim Rìu, Chim Việt Lửa, Chim Hồng Hoàng và ngành Chim Rìu Nước, Chim Việt Nước, Chim Lạc Nông của hệ, họ Chim Hồng Lạc.

Về cơ thể học trống thuộc loại Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I) có hình cây nấm vũ trụ (cây nấm tam thế, cây nấm đời sống) diễn tả trọn vẹn ý nghĩa vũ trụ tạo sinh của vũ trụ giáo, dịch học.

clip_image068_thumb

Trống chia ra tam thế gồm: 1. Thượng Thế là vùng mặt trời-không gian ở tâm trống, 2. Trung thế là phần còn lại của mặt trống và tang trống 3. Hạ thế là chân trống 4. Trục thế giới là thân trống nối liền và thông thương tam thế.

Mặt Trống trống Ngọc Lũ I có 16 vành. Xin nhắc lại số vành trống cho biết bản tính, bản thể của trống. Tính nòng nọc (âm dương) của vành thường diễn bản tính của trống ở dạng trực tiếp hay lưỡng hợp. Ta thấy rõ 16 vành với số 16 là số Khôn tầng 3 thế gian (0, 8, 16) lưỡng hợp với bản thể Càn tầng 2 thế gian (7, 15) của trống. Vành 16 Khôn cho biết trống là trống Càn (trong khi trống Hoàng Hạ là trống dương thái âm Chấn có mặt trời 16 nọc tia sáng mũi mác có 15 vành. Số 15 là số Càn lưỡng hợp với số 16 Khôn nọc tia sáng mũi mác, bản thể dương thái âm Chấn của trống. 15 vành Càn cho biết trống là trống Khôn thái âm mang tính dương ngành thái dương tức dương I thái âm OO, Chấn IOO).

Ở trống Ngọc Lũ I ba vành quan trọng nhất là vành 6, 8, 10.

-Vành số 6 là vành sinh hoạt nhân sinh, có chủ thể là Người, là vành chủ yếu của trống. Số 6 là số Tốn tầng 1 cùng số Tốn 14 tầng 2 của nọc tia sáng mũi mác mặt trời. Vành này cho biết rõ người, chim thuộc nhánh Tốn-Càn và các sinh hoạt trên vành này liên hệ với mặt trời. Người  là người mặt trời dương thái dương, là Người Việt Mặt Trời Thái Dương và xác thực trống này là trống biểu của nhánh dương thái dương Càn thuộc nhóm trống Càn.

Ta suy ra ngay vành này diễn tả ít nhất một thứ dương lịch Người mặt trời dùng vào đời sống con người, vào sinh hoạt nhân sinh hàng ngày. Con người là chủ thể của quả đất nên đây là lịch quả đất. Hai nhóm 6 và 7 người nhẩy múa quanh mặt trời diễn tả một thứ lịch Người-quả đất, một thứ dương lịch quả đất quay quanh mặt trời có 365 ngày.

-Vành 8 là vành chim nông bay và hươu nai. Số 8 là số Khôn tầng 2 thế gian (0, 8) như thế vành này là vành Khôn-Càn thế gian. Vành cho biết chim nông, loài chim nước và hươu, loài thú lửa vì có sừng trên vành Càn Khôn này phải mang tính Càn Khôn. Điều này giải thích cho thấy rõ tại sao ở bán viên dương có 6 con nông. Số 6 là số Tốn-Càn. Ở bán viên âm có 8 con nông, số 8 là số Khôn, ở đây trên trống dương mang tính Khôn  âm thái dương Chấn . Tương tự hươu nai cũng có tính Càn-Khôn. Điều này giải thích tại sao có hươu đực và nai cái đi cùng chung. Hươu đực là dương có một khuôn mặt  là Càn (có nhiều con có sừng 3 mấu nhọn là ba nọc tức Càn III). Nai cái là âm, Khôn. Ở trên trống Càn có một khuôn mặt là Khôn (O) thái dương (II), Tốn (OII).

Nông Khôn và Hươu Càn đi cùng vành diễn tả lưỡng hợp Khôn-Càn mang tính sinh tạo đại vũ trụ.

Lịch diễn tả lấy hai yếu tố Nông Khôn Hươu Càn là lịch mang tính Khôn-Càn tạo hóa đại vũ trụ.

-Vành số 10 là vành 18 cò bay thiếu âm gió diễn tả bầu Trời cõi người và 18 chim đứng trên đất diễn tả bầu trời Đất thiếu dương cõi người. Vành 10 diễn tả lưỡng hợp thiếu âm với thiếu dương tức Trời Đất, tiểu vũ trụ.

Lịch lấy hai yếu tố cò và chim đất là lịch mang tính Trời Đất cõi người.

 LỊCH ĐỒNG TRÊN TRỐNG NGỌC LŨ I.

clip_image002

Trống Ngọc Lũ I.

Qua các vành như vừa nói ở trên ta thấy trên trống Ngọc Lũ I có ít nhất 3 loại lịch: Lịch Người Mặt Trời-quả đất quay quanh mặt trời, Lịch Càn Khôn đại vũ trụ và Lịch Trời Đất tiểu vũ trụ.

1. Dương Lịch Người Mặt Trời hay Lịch Quả Đất Quay Quanh Mặt Trời Ngọc Lũ I có 365 Ngày.

Đây là loại dịch dựa theo sự vận hành của quả đất quanh mặt trời. Một chu kỳ quả đất quay hết một vòng quanh mặt trời dài 365 ngày. Tổng quát lịch này cùng chung một loại dương lịch với lịch Gregory của Âu châu hiện nay.

Như đã biết trống Ngọc Lũ I là trống biểu của ngành mặt trời dương Càn gồm hai đại tộc: a. Dương (I) thái dương (II) Càn (Càn dương) ở bán viên dương nhóm 7 người nhẩy múa và b. Âm (O) thái dương (II) Tốn tức Càn âm ở bán viên âm nhóm 6 người nhẩy múa (số 6 là số Tốn, âm thái dương, Càn âm).

Như vậy nhìn chung cả ngành thì cả trống có một loại lịch và mỗi đại tộc ở mỗi bán viên có một loại lịch mặt trời thái dương khác nhau về tính nòng nọc (âm dương). Ta có ít nhất ba thứ dương lịch: a. Lịch Người-quả đất là Lịch Mặt Trời Dương Thái Dương Càn Dương-Âm 365 Ngày chung cho cả ngành, nhánh Càn, b. Lịch Mặt Trời Dương Thái Dương Càn Dương 365 Ngày riêng cho Đại tộc Càn dương ở bán viên dương nhóm 7 người nhẩy múa và c. Lịch Mặt Trời Dương Thái Dương Càn Âm 365 Ngày riêng cho Đại tộc Càn âm ở bán viên âm nhóm 6 người nhẩy múa.

a. Lịch Mặt Trời Dương Thái Dương Càn Dương Âm 365 Ngày Chung Cho Ngành Càn.

Tiêu Chuẩn Để Chọn Yếu Tố Lịch.

. Yếu tố nào trên trống đồng có thể là một yếu tố lịch?

Lịch dựa vào sự chuyển vận theo chu kỳ của vũ trụ, các tinh cầu, thiên thể vì vậy các thứ chuyển động được quanh mặt trời nói chung trên trống đồng như người, thú, chim và các vật biểu tượng mặt trời như trống, cồng… có thể là một yếu tố lịch (trống với cồng khi đánh lên coi như những vật chuyển động và trống có một khuôn mặt biểu tượng cho đực, dương, mặt trời. Cồng là một thứ trống âm. Vì thế trống, cồng có thể dùng làm một yếu tố lịch).

. Ở đây đang nói về lịch mặt trời dương thái dương Càn chung cho cả nhánh dương và âm, chung cho cả ngành Càn ta phải chọn các yếu tố lịch mang tính mặt trời, Càn dương ở cả hai bán viên dương và âm.

.Các yếu tố lịch dương, Càn có đặc tính gì? Yếu tố lịch dương, Càn liên hệ với mặt trời, chuyển động được và quay quanh mặt trời theo chu kỳ. Ví dụ như người, chim, thú, trống, cồng… chuyển động vòng quanh mặt trời theo chiều ngược chiều kim đồng hồ tức chiều mặt trời, chiều dương trên mặt trống.

.Yếu tố lịch trên trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn diễn tả bằng con số. Điều này giải thích tại sao trên trống đồng những yếu tố cùng một loại lại có các con số khác nhau, mang tính nòng nọc khác nhau. Ví dụ như ở trống Ngọc Lũ I có nhóm 7 người nhẩy múa ở bán viên dương trong khi chỉ có 6 người nhẩy múa ở bán viên âm; có ba người ở nhà nọc dương, chỉ có 1 người ở nhà nòng âm; có 4 người ở dàn trống nhưng chỉ có 3 người ở khu giã chầy cối… Ngay cả cùng một con số nhưng được diễn tả khác nhau, mang tính dịch và lịch học khác nhau. Ví dụ ở dàn trống tại bán viên dương có 4 người ngồi mang âm tính đánh trống trong khi ở bán viên âm cũng có bốn người nhưng chỉ có ó 3 người ngồi và 1 người đứng mang dương tính…

Vì trống đồng diễn tả dịch đồng nên các con số có thể hiểu theo dịch học nghĩa là theo hệ thống nhị nguyên, nhị phân (binary), theo các tầng 2, 4, 8, 16, 32, 64 (64 là tổng số quẻ của dịch).  Nhị nguyên có thể chuyển qua hệ thập phân (decimal) và nhị thập phân (vigesimal). Ví dụ như 20 con hươu đực và nai cái có thể dùng theo hệ nhị nguyên đực cái, 10 con cho mỗi bán viên theo hệ thập phân và 20 con theo hệ thập nhị phân (cho cả trống)…

Ta lấy các con số làm yếu tố lịch để tìm số ngày, tuần lễ, tháng, năm…. cho mỗi loại lịch.

.Đây là dương lịch người mặt trời sống trên quả đất liên hệ tới trái đất quay quanh mặt trời nên ta phải lấy các yếu tố lịch là người và chim ở cùng vành số 6 thái dương mà thôi. Đó là người mặt trời, chim mặt trời ở vành chủ yếu số 6 của trống Ngọc Lũ I. Như đã nói ở trên vành này diễn tả cảnh sinh hoạt nhân sinh.

clip_image004Vành số 6 sinh hoạt nhân sinh.

Số 6 là số Tốn (OII) âm O thái dương II, Tốn lưỡng hợp với Càn theo Hậu Thiên bát quái, một thứ Càn-Tốn, Càn âm thế gian đi cặp với Càn dương, khuôn mặt của trống và của lịch Càn. Ta có thể coi vành số 6 sinh hoạt nhân sinh là vành đất nhân gian dương biểu tượng cho cả quả đất quay quanh mặt trời ở tâm trống. Như thế vành số 6 nhân gian có một khuôn mặt diễn tả một thứ lịch-quả đất 365 ngày.

.Ta chọn các yếu tố lịch cùng chung một thể loại như người với người, chim với chim, trống với cồng…

Lịch-quả đất quay quanh mặt trời là một thứ dương lịch giống như dương lịch Gregory của Âu châu và lịch Haab của Maya có 365 ngày.

Bây giờ ta đi vào chi tiết vành sinh hoạt nhân sinh số 6.

. Một Năm 365 ngày gồm 13 Tháng.

Theo dương lịch Âu châu Gregory hiện nay ta có một năm 365 ngày (trung bình 365.2425 ngày) chia ra làm 12 tháng. Vì vậy thường mỗi tháng có 30 ngày, nhiều tháng thừa có 31 ngày và có tháng thiếu có 28 ngày (như tháng 2) và cứ 4 năm có một năm nhuần tức có tháng hai 29 ngày.

Lịch đồng của đại tộc Đông Sơn giản dị hơn chia 1 năm 365 ngày ra làm 13 tháng. Nói dương lịch Đông Sơn 365 ngày có 13 tháng chắc có nhiều người còn ngờ vực. Hỏi tôi dựa vào đâu mà nói như vậy? Tại sao có 13 tháng? Trước hết số 13 là số lẻ số dương thích hợp với lịch mặt trời thái dương, dương lịch [dương lịch Gregory của Âu châu có 12 tháng. Nhìn theo nguyên lý nòng nọc (âm dương) của văn hóa Chim-Rắn, Tiên Rồng số 12 là số âm không thích hợp với lịch mang tính dương mặt trời]. Thứ đến con số 13 là số Li tầng 2 (5, 13) có một khuôn mặt là trục thế giới, núi trụ thế gian, biểu tượng cho cõi đất thế gian, cho quả đất. Ví dụ như trong thuyết sáng thế của Maya, Aztec thượng thế có 13 tầng (hạ thế có 9 tầng).

clip_image002[1]

Tháp Lớn Tenochtilan cùa Aztec có bốn  hướng và được tưởng là tâm điểm ở giữa 13 tầng thượng thế và 9 bậc đi xuống Hạ Thế (Mictlan) (nguồn: Mary Miller và Karl Taube, The Illustrated Dictionary of Ancient Mexico and the Maya).

 Trong Phật giáo các chỏm tháp Phật (stupa) thường có 13 bậc, 13 khấc, hiểu theo giáo lý Phật giáo là đường lên niết bàn ở trên đỉnh trục thế giới (Phật giáo cũng có 9 tầng địa ngục). Con số 13 là một con số quan trọng trong Phật giáo. Điều này dễ hiểu Phật giáo có vũ trụ quan theo vũ trụ tạo sinh của Vũ Trụ Giáo giống như tất cả các tôn giáo lớn khác và  giống vũ trụ quan của Việt Nam, Maya… cũng theo vũ trụ giáo dựa trên nguyên lý Chim-Rắn, Tiên Rồng  (Ý Nghĩa Tháp Phật).

Thêm nữa trong ma phương Lạc Thư 5/15 có số trục ở tâm hình vuông là số 5 (số 5 và 13 đều là số Li chỉ khác tầng: số 5 tầng 1 thuộc cõi tạo hóa còn số 13 tầng 2 thuộc thế gian) và các chi cộng lại là 15. Số 5 Li là trục thế giới (phần chính ở cõi tạo hóa) biểu tượng đất thế gian. Người Trung Hoa lấy số 5 trục ma phương làm hành Thổ. Ở hình trên tháp có 4 hướng hình vuông, tháp có 5 tầng nằm ở tâm hình vuông mang hình ảnh ma phương 5/15.

Lịch 365 ngày là lịch quả đất quay quanh trục của nó và quay quanh mặt trời. Mặt Trời sáng chói nhất là mặt trời chính ngọ, mặt trời ở thượng đỉnh Zenith ở trên đỉnh trục thế giới. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là Mặt Trời Li chính ngọ Kì Dương Vương, thần tổ đất thế gian, địa cầu của Người Việt Mặt Trời Thái Dương. Đây chính là mặt trời ở tâm trống đồng Đông Sơn ở trên đỉnh trục thế giới là trục thân trống (Cơ Thể Trống Đồng). Hình tháp ở hình trên cũng mường tượng giống hình một trống đồng có thân choãi ra, đáy lớn vững chãi thuộc loại trống Núi Tháp Đất Li Nguyễn Xuân Quang V (Heger II) biểu tượng cho tượng Đất thiếu dương.

Đối chiếu với lịch Âu châu Gregory hiện nay chúng ta đang dùng nếu tính theo tuần lễ 7 ngày thì 1 năm 365 ngày có 52 tuần cộng thêm gần 6 giờ nữa (7 x 52 = 364, kém hơn 1 ngày nên 4 năm phải cộng thêm một ngày nhuận tháng 2 có 29 ngày) thì một năm cũng chia ra làm 13 tháng-4 tuần. Ta có 13 tháng x 4 tuần = 52 tuần (trong khi 12 tháng x 4 tuần chỉ bằng 48 tuần thôi).

Cuối cùng bằng chứng xác thực nhất và không còn tranh cãi nữa là thấy qua hai nhóm 7 và 6 người-chim cắt lửa mặt trời nhẩy múa quanh mặt trời trên trống Ngọc Lũ I:

clip_image01413 người nhẩy múa ở hai bán viên trên trống Ngọc Lũ I.

13 người này diễn tả 13 tháng. Hai nhóm có 12 người có trang phục đầu chim cắt lửa giống nhau diễn tả 12 tháng dài. Người sau cùng ở nhóm 7 người nhẩy múa trông nhỏ bé hơn có trang phục đầu bầu nậm diễn tả tháng ngắn thứ 13 (xem dưới).

Vì thế lịch dương thái dương Đông Sơn dùng 13 tháng cho tròn hữu lý, giản tiện và có ý nghĩa.

Tóm lại dương lịch mặt trời Càn thái dương của văn hóa Đông Sơn dựa trên nguyên lý Chim-Rắn, Tiên Rồng một năm có 13 tháng có cơ sở vững chắc.

Sắp xếp từ ngày lên năm ta có:

-Ngày

Trong hai nhóm người nhẩy múa ở hai bán viên chỉ có người cuối cùng của nhóm 7 người nhẩy múa có trang phục đầu bầu nậm.

clip_image006Người nhẩy múa cuối cùng của nhóm 7 người nhẩy múa có trang phục đầu bầu nậm.

Như đã biết theo duy dương có một khuôn mặt là mặt trời lưỡng tính vũ trụ, tạo hóa. Một người mặt trời là một ngày.

-Tuần

1 tuần bằng 7 ngày diễn tả bằng 7 người ngồi đánh trống ở hai dàn trống (người thứ 8 đứng không kể).

clip_image008Hai dàn trống ở hai bán viên nòng nọc (âm dương) ở trống Ngọc Lũ I có 7 người ngồi và 1 người đứng.

Ta cũng thấy ở bán viên dương 4 người ngồi đánh trống ở trong 4 ô còn ở bán viên âm 4 người ngồi và đứng chỉ ở trong 3 ô. Tổng cộng 7 ô có người.

(Lưu ý ta không lấy con số 7 ở nhóm 7 người nhẩy múa ở bán viên dương  vì phải lấy yếu tố lịch cho lịch toàn ngành này phải ở cả hai bán viên).

-Tháng.

Tháng dài có 30 ngày.

Hai cánh cửa ở hai ngôi nhà nòng ở hai bán viên có 30 chiếc cồng hay gồng.

2 nha nong

Hai ngôi nhà nòng ở hai bán viên. Hai bên cửa hai nhà có 30 chiếc cồng.

Cồng diễn tả theo chữ nòng nọc vòng tròn-que là từ chấm-vòng tròn  clip_image012 có một nghĩa là mặt trời. Cồng là một thứ trống âm vì thế mới để ở trước cửa nhà nòng, âm. Ở đây trên trống cồng clip_image012[1] theo duy dương diễn tả mặt trời âm của nhánh dương thái dương. Một mặt trời là một ngày, 30 cồng mặt trời là 30 ngày mang tính âm diễn tả 1 tháng (tháng mang âm tính).

Con số 30 diễn tả 30 ngày của một tháng dài.

-Năm 13 Tháng.

Như đã nói ở trên  ta có  13 người ở hai nhóm người nhẩy múa là biểu tượng cho 13 tháng  gồm 12 tháng dài diễn tả bằng 12 người-chim cắt lửa và tháng ngắn thứ 13 diễn tả bằng người có trang phục đầu bầu nậm.  

a. 12 Tháng Dài-30 Ngày.

Ta có 6 người trong hai nhà nọc và 2 người trong hai nhà nòng. Tất cả trông nhỏ bé và như là ở trần mang âm tính thích hợp với tháng. Ta có 6 x 2 = 12.

Con số 12 này diễn tả 12 tháng dài, như đã nói ở trên diễn tả bằng 12 người chim cắt lửa mặt trời.

Mỗi tháng dài có 30 ngày:

Như đã nói ở trên 1 tháng 30 ngày diễn tả bằng 30 chiếc cồng ở hai nhà nòng.

b. 1 Tháng Ngắn-5 Ngày.

Ta có 3 con chim trĩ, chim biểu tượng mặt trời thế gian ở trên nóc hai ngôi nhà nọc mặt trời và hai con chim nông bay hay bổ nông (theo duy âm có một khuôn mặt là Chim Rìu, Chim Việt Nước biểu tượng mặt trời âm thái dương) ở hai khu giã chầy cối bên hai nhà nòng.

5

3 chim trĩ trên nóc hai nhà nọc và 2 chim nông bay trên hai khu giã chầy cối.

Tổng cộng là 5.

Số 5 diễn tả 5 ngày tức tháng ngắn thứ 13, như đã nói ở trên  diễn tả bằng người có trang phục đầu bầu nậm nhỏ bé hơn 12 người chim cắt lửa mặt trời . Ta thấy rất rõ tháng ngắn thứ 13 người có trang phục đầu bầu nậm có tính nòng nọc (âm dương) được biểu tượng 5 con chim cũng gồm hai nhóm nòng nọc (âm dương): 3 chim trĩ lửa mang dương tính (số 3 là số lẻ cũng mang dương tính) và 2 chim nông nước mang âm tính (số 2 là số chẵn củng mang âm tính).  Sự diễn đạt tuyệt vời tới độ… nổi da gà!

Như thế tóm tắt lại ta thấy rất rõ trống Ngọc Lũ I có một loại dương dịch Càn Dương-Âm 365 ngày cho toàn cả nhánh diễn tả:

-Ngày

1 ngày bằng người mặt trời tạo hóa có trang phục đầu bầu nậm.

-Tuần

1 tuần bằng 7 ngày bằng người ngồi đánh trống ở hai dàn trống (người thứ 8 đứng không kể).

-Tháng Dài.

1 tháng 30 ngày bằng 30 chiếc cồng ở hai nhà nòng.

-1 Năm 13 Tháng

1 năm 13 tháng bằng 13 người nhẩy múa.  Mười 13 tháng gồm 12 tháng dài 30 ngày ( 12 = 8 người đánh trống + 4 giã chầy cối) và 1 tháng ngắn-5 ngày bằng 5 con chim ở hai nhà nọc và hai nhà nòng.

Tất cả các yếu tố lịch mang tính mặt trời thái dương của cả toàn ngành Càn thái dương đều lấy ở vành số 6 sinh hoạt nhân sinh cõi đất trung thế, thế gian. Đây là một thứ lịch quả đất quay quanh mặt trời 365 ngày. Đây là lịch ‘người mặt trời’, dương lịch dùng trong sinh hoạt nhân sinh thường ngày khác với lịch tế thiêng liêng hay lịch thuần thiên văn học được diễn tả bằng các vật tổ khác ở các vành 8 và 10 của trống.

b. Lịch Mặt Trời Dương Thái Dương Càn Dương 365 Ngày ở Bán Viên Dương Nhóm 7 Người Nhẩy múa.

Vì là lịch mặt trời dương thái dương Càn dương ta phải chọn các yếu tố diễn tả bằng con số mang tính lịch Càn dương chỉ ở bán viên dương nhóm 7 người nhẩy múa.

. Một Ngày.

Trên nóc ngôi nhà nọc mặt trời ở bán viên dương này có một con chim trĩ, chim biểu của mặt trời thế gian (chim trĩ là chim lửa thần thoại hóa thành chim phượng Trung Quốc là chim biểu tượng mặt trời nhưng chim trĩ thuộc loài gà sống trên mặt đất nên là chim biểu tượng mặt trời đất thế gian. vì vậy mới đậu trên nóc nhà nọc mặt trời biểu tượng cõi trên thế gian cùa con người mặt trời thế gian).

Một chim trĩ là một mặt trời, một ngày.

. Một Tuần 7 Ngày.

Nhóm 7 người chim-cắt-mặt trời nhẩy múa ở bán viên dương mang tính chuyển động, chuyển hành quanh mặt trời ở tâm trống có một khuôn mặt diễn tả 7 ngày tức 1 tuần.

. Một Năm 365 ngày gồm 13 Tháng.

Ta có ở khu nhà nọc mặt trời ở bán viên dương có 1 chim trĩ trên nóc nhà + 3 người trong nhà + 4 người đánh trống và ở khu nhà nòng ở khu bán viên dương có 1 người trong nhà + 3 người ở chỗ giã chầy cối + 1 chim nông bay ở trên, tổng cộng: 1 +3 + 4 +1 + 3 + 1 = 13. Số 13 diễn tả 13 tháng ở bán viên dương.

Như đã biết 13 tháng gồm 12 tháng dài-30 ngày và 1 tháng ngắn-5 ngày:

-12 Tháng 30 ngày.

Ta lấy 4 người đánh trống x 3 người chỗ giã chầy cối = 12.

Con số 12 này diễn tả 12 tháng dài.

. Một Tháng Dài 30 Ngày.

Ta chỉ chọn các yếu tố lịch ở bán viên dương mà thôi.

Ở ngôi nhà nọc ở bán viên dương này chỉ có 2 chiếc trống (một trống để không và một trống một người đang đánh) ở hai góc dưới nhà (trong khi ở bán viên âm nhà nọc mặt trời có 3 chiếc trống). Trống mang dương tính biểu tượng mặt trời dương, ngày dương. Trống đi cặp đôi với cồng, một thứ trống âm biểu tượng mặt trời âm, ngày âm. Hai trống ở nhà nọc đi cặp với 15 cồng ở nhà nòng cùng ở bán viên dương này (trong khi ở lịch Càn Dương-Âm nói ở trên ta lấy 2 trống ở nhà nọc ở bán viên dương và 15 cồng ở bán viên âm để có cả dương âm của toàn ngành). Ta có 15 x 2 = 30 mặt trời, 30 ngày.

Con số 30 diễn tả 30 ngày tức 1 tháng dài.

b. 1 Tháng Ngắn-5 Ngày.

Ở khu nhà nòng tại bán viên dương ta có 1 người trong nhà +3 người khu giã chầy cối + 1 con nông bay trên khu giã chầy cối. Tổng cộng là 5.

Lưu ý tháng ngắn 5 ngày là phần ngày thừa còn lại coi như mang tính ‘nhuận’ thường được cho là xui xẻo nên ta lấy ở khu nhà nòng âm. Hơn nữa tháng ngắn được diễn tả bằng người có trang phục đầu bầu nậm mang tinh nòng nọc (âm dương) , ở đây lấy tại khu nhà nòng ứng với phía âm bầu của bầu nậm.

….

Như thế ta thấy rất rõ trống Ngọc Lũ I cũng có một loại dương dịch Càn Dương 365 ngày diễn tả:

-1 ngày bằng một con chim trĩ mặt trời trên nóc ngôi nhà nọc mặt trời ở bán viên dương.

-1 tuần bằng nhóm 7 người nhẩy múa ở bán viên dương.

-1 tháng dài-30 ngày bằng hai trống ở nhà nọc đi với 15 cồng ở nhà nòng cùng ở bán viên dương này. Ta có 15 x 2 = 30 mặt trời, 30 ngày.

-1 năm 13 tháng bằng 1 chim trĩ trên nóc nhà + 3 người trong nhà + 4 người đánh trống và ở khu nhà nòng ở khu bán viên dương có 1 người trong nhà + 3 người ở chỗ giã chầy cối + 1 chim nông bay ở trên, tổng cộng: 1 +3 + 4 +1 + 3 + 1 = 13. Số 13 diễn tả 13 tháng ở bán viên dương.

Mười ba tháng gồm:

. 12 tháng dài-30 ngày diễn tả bằng 4 người đánh trống x 3 người chỗ giã chầy cối = 12.

. 1 tháng ngắn-5 ngày diễn tả bằng 1 người  trong nhà nòng cộng với 3 người chỗ giã chầy cối và 1 con chim bay ở trên.

Tất cả các yếu tố lịch mang tính thái dương của Đại tộc Càn Dương đều lấy ở bán viên dương của vành sinh hoạt nhân sinh cõi đất trung thế thế gian. Đây là một thứ lịch quả đất quay quanh mặt trời 365 ngày của nhánh dương nhóm 7 người nhẩy múa.

c. Lịch Mặt Trời Dương Thái Dương Càn Âm 365 Ngày ở Bán Viên Âm Nhóm 6 Người Nhẩy Múa.

Vì là lịch mặt trời dương thái dương mang âm tính Càn âm ta phải chọn các yếu tố lịch qua các con số mang tính lịch Càn âm ở bán viên âm nhóm 6 người nhẩy múa.

. Một Tuần 7 Ngày.

Trống là đực, là dương, là mặt trời, là ngày.

Ta có hai nhóm 8 người đánh trống ở hai bên nhà nọc. Ở bán viên âm có 1 người đánh trống đứng mang dương tính (3 người còn lại ngồi). Tổng cộng còn lại 7 người ngồi. Số 7 là số Càn, Mặt Trời diễn tả 7 ngày. Ngồi mang tính âm. Bẩy ngưởi ngồi là Càn âm diễn tả 7 ngày phía Càn âm. Ta cũng thấy người đứng mang dương tính. Người này quay mặt về phía tay trái, chiều âm. Người đứng quay về phía tay trái dùng như một chỉ định tố cho biết những người đánh trống ở bán viên âm thuộc phía Càn âm.

Người đứng được tạo ra như vậy là có chủ đích không phải là sai lệch. Ngữ pháp chữ nòng nọc vòng tròn-que trên trống Ngọc Lũ I thật siêu việt.

. Nửa tháng 15 ngày.

Vì là lịch Càn âm có một khuôn mặt họ hàng với âm lịch ngành thái dương, nhánh dương thái âm Chấn (có một khuôn mặt là ông trăng thái dương) nên ta lấy tháng theo tuần trăng 15 ngày (tính đến ngày rằm 15), nửa tháng.

Hai cánh cửa ngôi nhà nòng ở bán viên âm này cũng có 15 chiếc cồng hay gồng diễn tả 15 ngày, nửa tháng (mang âm tính).

. Một Năm 365 ngày gồm 13 Tháng.

Ở bán viên âm tháng mang âm tính ta chọn các người mang yếu tố lịch âm. Ta thấy ngay trong 2 nhà nọc có 6 người ngồi (ngồi là âm, đứng là dương) đang làm lễ cung nghinh mặt trời

2 nha noc

6 người ngồi mang âm tính trong 2 nhà nọc ở hai bán viên.

và 7 người ngồi ở hai dàn trống 8 người (7 ngồi mang âm tính và 1 đứng mang dương tính). Tổng cộng ta có 13 người ngồi. Con số 13 người ngồi âm này diễn tả 13 tháng.

Như đã biết 1 năm 365 ngày có 13 tháng gồm 12 tháng dài-30 ngày và 1 tháng ngắn 5 ngày.

a. 12 Tháng Dài-30 Ngày.

Ở bán viên âm ta có nhóm 4 người đánh trống và 3 người ở chỗ giã chầy cối: 4 x 3 = 12.

Con số 12 này diễn tả 12 tháng dài mỗi tháng có 30 ngày.

. Một Tháng Dài-30 Ngày.

Ở khu ngôi nhà nọc mặt trời ở bán viên âm có 3 người ngồi trong nhà, 3 người ngồi đánh trống (và 1 người đứng đánh trống mang dương tính không kể) gộp lại là 6 người ngồi . Ở khu nhà nòng ở bán viên âm có 1 người đứng trong nhà và 3 người đứng ở chỗ giã chầy cối cộng  với người đứng đánh trống ta có 5 người đứng. Ta có 6 người ngồi x 5 người đứng = 30.

Con số 30 diễn tả 30 ngày tức 1 tháng dài.

b. 1 Tháng Ngắn-5 Ngày.

Như đã nói ở trên tháng ngắn-5 ngày được coi là tháng xui xẻo (ở lịch Càn âm này lại càng xui xẻo hơn) nên ta phải chọn các yếu tố lịch ở khu nhà nòng. Như đã biết khu nhà nòng, âm ở bán viên âm có 1 người đứng trong nhà, 3 người ở chỗ giã chấy cối và 1 con chim bay ở trên, tổng cộng là 5.

Tên Ngày, Tháng, Năm.

Câu hỏi được đặt ra là ngày, tháng, năm trong lịch đồng Đông Sơn có tên hay không? Dĩ nhiên là có mà ngày nay chúng ta không còn biết. Tương tự ngày, tháng, năm trong lịch Maya, Aztec đều có tên, có con số và được diễn tả bằng muông thú, cây cỏ hoặc nhân cách hóa thành các vị thần. Các yếu tố lịch đồng Đông Sơn diễn tả theo dịch nòng nọc Đông Sơn,  ví dụ nhóm 7 người nhẩy múa  có 6 người trang phục đầu chim-cắt lửa lớn với hai người dẫn đầu diễn tả hai đại tộc Càn Li , 4 người còn lại diễn tả 4 tộc ứng với tứ tượng. Người cuối cùng trang phục đầu bầu nậm diễn tả thái cực khi  nhìn theo dạng nhất thể và lưỡng nghi khi nhìn theo diện lưỡng cực. Như thế tên, tháng, năm của lịch đồng Đông Sơn được gọi theo tên dựa theo dịch và mang tính dịch nòng nọc của đại tộc Đông Sơn.

….

Tóm lại ta thấy rất rõ trống Ngọc Lũ I diễn tả ba loại dương lịch Càn: Lịch Càn Dương-Âm của toàn ngành Càn, Lịch Càn Dương của nhánh Càn Dương nhóm 7 người nhẩy múa và Lịch Càn Âm của nhánh Càn Âm nhóm 6 người nhẩy múa.

Mỗi loại có 365 ngày chia ra 13 tháng gồm 12 tháng dài mỗi tháng 30 ngày và một tháng ngắn có 5 ngày có tính nòng nọc (âm dương) khác nhau ở các ngành, đại tộc mặt trời dương thái dương Càn khác nhau.

(còn nữa).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: