TÊN NÔM NA CỦA 12 CON GIÁP: CON HỢI LÀ CON HOI, CON HỦI, CON CÙI, CON CÚI.

.*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài.
.Phải tuân thủ luật Tác quyền Copyright.

TÊN NÔM NA MÁCH QUÉ CỦA 12 CON GIÁP.

CON HỢI LÀ CON HOI, CON HỦI, CON CÙI, CON CÚI.

Nguyễn Xuân Quang

Xuân lại về, chúng ta lại tìm hiểu tên con Hợi của năm Kỷ Hợi năm nay. Trong các bài viết trước đây, chúng ta đã biết tên 12 con giáp không phải là do người Trung Hoa phát kiến ra. Chúng ta là Người Việt Mặt Trời rạng ngời, có một nền văn minh Hừng Việt chói chang, dựa trên nòng nọc, âm dương, Chim-Rắn, Tiên Rồng, Việt Dịch Nòng Nọc, thờ Vũ Trụ, thờ Mặt Trời còn ghi khắc lại trong sử đồng Đông Sơn, có nền văn minh sông biển giỏi về thủy vận nên rất rành về niên lịch, năm tháng, thiên văn. Cổ sử đã ghi Việt Thường đã có Việt Dịch nòng nọc ghi trên lưng rùa về thời Đạo Đường, vua nhà Chu sai chép lại gọi là lịch rùa. Vì thế người Việt cổ có niên lịch, năm tháng mang tên bằng tiếng Việt là một chuyện có thật. Thật vậy, tác giả Bùi Huy Hồng trong bài “Mấy Nét Về Thiên Văn Học Thời Hùng Vương” đã viết “Ở Cam-pu-chia còn lưu lại đến ngày nay một cuốn lịch cổ nhất là lịch Bầu Ràn (634 AD) dùng 12 tên con giống tiếng Việt và tiếng Mường…” (Hùng Vương Dựng Nước, 1972, t. III, tr. 299).

Nếu tên 12 con giáp này của Việt Nam thì chúng bắt buộc phải có nghĩa thuần Việt, nghĩa là phải hiểu theo kiểu nôm na mách qué của những người Việt dân dã chứ không phải hiểu theo nghĩa bác học. Để chứng minh tên của 12 con giáp đều là tên thuần Việt, có nguồn gốc Việt Nam, ta không phải chỉ dựa vào Hán ngữ, mà ta phải dựa vào tất cả ngôn ngữ loài người trong đó có Ấn-Âu ngữ (Anh, Pháp ngữ…) vốn ruột thịt với các từ thuần Việt.

Qua các bài viết vào những mùa xuân trước đây, chúng ta đã biết:

.là con chuột.

Tí là tí ti, nhỏ, bé, lắt, nhắt, Tí là con bé tí, con tí, con chút, con chuột, con lắt. Con tí là con tiny,  con lắt là con rat (thep l=r).

.Sửu là con trâu.

Sửu liên hệ với Việt ngữ sẩu là sừng (xin khúc đầu những xương cùng sẩu…), sậu (cứng), cứng liên hệ với sừng (c=s). Con trâu là con châu, con sẩu, sậu con sừng (ch =s như chữa = sửa). Con trâu là con châu, con câu, con cow (nghĩa lệch) giống như buffalo (trâu) có bu- = bò.  Sửu, trâu là con sẩu, con sậu, con sừng.

.Dần là con cọp.

Dần biến âm với dằn, vằn. Con Dần là con dằn, con vằn. Con cọp có lông vằn. Tôm vằn gọi là tôm cọp… Tiger có ti- biến âm với “tie” /tai/ (dải, đai, cà vạt) liên hệ với Việt ngữ tau, tao (dải, dây, tua), đai (dải dây cột), Pháp ngữ tigre có ti- biến âm với ty, tơ (dải dây)… Tiger, tigre là con có sọc hình dải dây, con vằn, con dần.

.Mão, mẹo là mèo.

Mão, mẹo biến âm với Việt ngữ mấu, bấu, vấu, với Anh ngữ maul (cào xé bằng móng vuốt). Con mão, con mẹo, con mèo là con mấu, con maul, con cấu, con quào:

        Tuổi mẹo là con mèo ngao,

        Hay cấu hay quào, ăn vụng quá tinh

(vè)

Con mão là con mấu, con mâu, con maul…

.Thìn:

Thìn biến âm với thắn, Mường ngữ có nghĩa là con rắn, với thận (con rắn nước lớn, con trăn nước anaconda). Con Thìn là con thắn (rắn), con thận, con thằn (có gốc thằn lằn, cá sấu), thìu (rắn nước), con thuồng (luồng)…

.Tỵ

Tỵ là con ty, con tơ, con tie/tai/ (Anh ngữ), con dải, con rắn.

.Ngọ

Con ngọ là con nguậy, con chậy.

.Mùi

Con Mùi là con Mũi nhọn, sừng nhọn. Con Mùi là con Bùi, con Bòi, con Buồi… mang tính sinh tạo, mắn sinh.

.Thân

Thân là Dộc là Vọc.

.Dậu

Dậu là con Diều (chim).

.Tuất

Con Tuất là con Tu, con Tru (con Hú).

*

Và năm nay là năm Kỷ Hợi.

Bây giờ ta đi tìm nguồn cội nôm na của Hợi.

.Hợi

Hợi là chi cuối cùng của 12 địa chi chỉ năm Lợn, Heo.

1. Các Từ chỉ Hợi Trong Việt Ngữ.

Việt ngữ có những từ chỉ con Hợi là:

-Cúi (cổ ngữ Việt).

Từ cổ Việt cúi còn thấy qua nhiều dấu tích như cá cúi (cá heo) (Paulus Của, Đại Nam Quốc Âm Tự Vị). Mường ngữ củi là lợn, chính là cúi (1).

-Cun

Theo Nguyễn Hy Vọng trong Từ Điển Nguồn Gốc Tiếng Việt: cun, cún, kul, kui là heo.

Lưu ý

Cún cũng có một nghĩa là chó con (xem Tuất Là Con Tu, Con Tru), cún (lợn) và cún (chó con) là hai từ đồng âm dị nghĩa. Cun, cún với nghĩa heo là dạng biến âm của cúi, heo khác với cún, chó con.

Lợn

Từ lợn dùng nhiều ở miền Bắc.

-Heo

Heo dùng nhiều ở Trung Nam. Miền Bắc chỉ thấy dùng từ heo qua nhóm từ ‘nói toạc móng heo’.

Từ heo thấy trong ngôn ngữ Ahom: k-heo, Lokai (bắc Vân nam): hoe, hue là heo (2).

-Sề

Lợn, heo cái đã sinh con: nái sề, dùng chung cả toàn quốc: ‘Ba bà đi bán lợn sề’.

-Hợi

Chỉ năm, tuổi lợn, tuổi heo trong 12 con giáp.

-Trư

Hán Việt trư là lợn, heo như thấy qua tên nhân vật Trư bát Giới trong Tây Du Ký.

2. Liên Hệ Với Các Ngôn Ngữ Khác.

Tiếng Việt đa dạng là một mạng ngôn ngữ hay một tộc ngôn ngữ ở gốc cây ngôn ngữ loài người nên liên hệ với nhiều đại tộc ngôn ngữ loài người như Nam Á, Tầy Thái, Nam-Đảo, Ấn-Âu ngữ…

-Cúi

Cổ ngữ cúi liên hệ với:

.Ngôn ngữ Nam Á.

-Campuchia (Khmer): Kun, kur, heo. Chnăm kun: năm hợi, tuổi hợi (2).

-Sedang: kuur (2) (Sedang ngữ thuộc nhánh Mon Khmer).

.Tầy Thái

Thái ngữ kun, heo, pi kun năm hợi, tuổi hợi (pi là năm) (2).

.Ngôn ngữ Nam-Đa Đảo.

Gia rai (Jarai, Jrai): kuaj (2) [ngôn ngữ Jarai thuộc nhóm Chăm chi Mã-Đa đảo (Malay-Polynesia)]. Kuaj = kuai = kui = cúi.

.Ấn-Âu ngữ.

Cúi, lợn, heo bụng sệ (potbellied pig) Việt Nam là dòng con cháu trực tiếp của lợn hoang Suids ở cổ thế giới thuộc gia tộc heo rừng Suidea, giống Sus scrofa [the potbellied pig is a direct descendent of the old world wild pig family (Suidae), genus (Sus scrofa)] (https://petpigs.com/history-of-the-potbellied-pigs). Ta thấy rõ theo c=s, cúi = sui(dea).

Cúi liên hệ với Phạn ngữ sukara, lợn, heo, Latin sus, cổ ngữ Anh sù (lợn sề), Anh ngữ kiện kim swine, heo cái. Theo c=s (cắt củ cải = sắt củ cải), ta có súi = Latin sùs, swine (thay w =uu ta có swine = suu- = cúi) và rõ  hơn nữa  là cúi = Latin suillus, ham ăn, dơ dáy như heo, lợn (có sui- = cúi). Cúi liên hệ với Pháp ngữ cochon có cổ ngữ Pháp là coche, phát gốc từ Latin cutio.

-Lợn

Lợn liên hệ với Pháp ngữ laie, heo rừng cái, Ladin Selvano luia, Venice luja, Corse lofia, Sardinia Lóvia, phương ngữ Milan logia (‘sow’)

(https://forum.wordreference.com/…/roman-languages-etymology-luia-luja-lofia-lóvia….).

-Heo

Heo liên hệ với Hy Lạp hus, heo, gốc Hy Lạp hys- = heo, hợi như thấy qua từ hyena chó hoang lông heo có gốc từ Trung cổ Anh hiena, Trung cổ Latin hyèna, Latin hyaena và cổ Hy Lạp húaina và liên hệ với Anh ngữ hog, heo.

-Sề

Sề là heo nái liên hệ với Phạn ngữ sukara, lợn, heo, Latin sus, cổ ngữ Anh sù (lợn sề), Anh ngữ kiện kim sow (lợn nái) swine, (cổ ngữ Anh swīn, Proto-Germanic *sweina- pig, hog, wild boar”), heo cái.

-Hợi

Hợi biến âm ruột thịt với heo. Giống từ heo như đã nói ở trên.

-Trư

Hán Việt trư liên hệ với Pháp ngữ truie, Ý troia, heo cái. Theo tr = l (trèo = leo), trư = Pháp ngữ truie, Ý ngữ troia = luia, laie (lợn cái) = lợn.

3. Các Từ Liên Hệ với Cúi/Lợn/Heo/Sề.

-Sề, sồ sề.

Sồ sề: người phát phì, mập ra không còn thon gọn giống như con lợn sề. Béo mập như con sow, con sề. Thái ngữ sề sề: béo mập.
-Sệ, xệ.
Sệ, xệ là trệ, sa xuống có gốc sề có một nghĩa là có nhiều mỡ, nhất là ở bụng trệ xuống: bụng sệ, bụng xệ. Ông có bụng mỡ sệ xuống, bụng sệ là ông xã sệ, xã xệ.

-Hốc

Cổ ngữ Việt hốc là ăn tạp như heo, ăn như heo. Ví dụ: không làm thì đừng có hòng mà hốc, hốc lấy hốc để. Hốc là ăn như con heo, con hog. Nghĩa hốc ăn như heo thấy rõ qua Latin suillus, ham ăn như heo, như lợn Suillus ruột thịt với  suidea (tộc heo), gốc Phạn ngữ sukara, với Latin sus.

-Mỡ

Mỡ là chất béo, lợn là con vật có nhiều mỡ. Mập như heo. Thái ngữ mo, moo, lợn. Mo chính là Việt ngữ mỡ. Anh ngữ pork, Pháp ngữ porc thịt lợn, heo có po- = mo, mỡ (theo p = m như Mường ngữ páng nà = mảnh ruộng).

-Mồ

Cổ ngữ Việt mồmỡ như mồ hôi là chất mỡ (dầu) tiết ra ở da. Anh ngữ sweat (mồ hôi) ruột thịt với swine (heo cái), Gothic swein (heo cái). Latin sùdor, Pháp ngữ sueur, Tây Ban Nha sudor… (mồ hôi) liên hệ với Việt ngữ sề (lợn nái), Latin sùs, Cổ ngữ Anh sù (lợn sề)…

Mồ hôi có mồ ruột thịt với Thái ngữ moo, lợn, chính là Việt ngữ mỡ. Ta thấy rõ mồ (hôi) là chất mỡ dầu (hôi) qua Phạn Ngữ svid, to perspire, to sweat, to be greasy, toát mồ hôi, xuất hãn, nhầy nhụa như dầu mỡ (v=u, svid = suid).

Mồ là biến âm của mỡ và hôi biến âm của hoi. Mồ hôi là “mỡ hoi”. Mồ hôi là chất nhờn như dầu mỡ có mùi hoi, mùi hôi. Có người có mồ hôi rất nhờn gọi là mồ hôi dầu. Chất “dầu mỡ” trong mồ hôi khi ra ngoài bị oxid hóa hay bị vấy nhiễm vi sinh vật trở thành hoi thành hôi. Hoi liên hệ với Pháp ngữ huile (dầu, mỡ). Việt ngữ có nhóm từ láy ‘bồ hôi bồ kê’ (vã ra như tắm). Mồ hôi mồ kê có thể hiểu theo nghĩa nguyên thủy “mỡ hợi, mỡ sề”‘ hay với nghĩa ngày nay kê là khê (khê với h câm là kê). Khê có mùi khét. Mồ hôi mồ kê là: mỡ hôi, mỡ khê, mỡ khét. Ta cũng có từ mồ hôi nhễ nhại, nhầy nhụa. Nhại, nhụa liên hệ với Phạn Ngữ snaigdhya, oiliness (có dầu, nhờn nhớt). Ta cũng nói mồ hôi dính nhem nhép. Hai từ này liên hệ với Phạn Ngữ sneha, oil (dầu, nhớt).

Tương tự ta có mồ hóng là chất dầu mỡ mầu đen ở bếp do khói có dầu mỡ hong khô đọng keo lại.

-Bồ

Bồ là dạng cổ của mồ: bồ hôi = mồ hôi, bồ hóng = mồ hóng. Do đó bồ cũng có nghĩa là mỡ. Bồ ruột thịt với bở. Ở đây bởbéo thấy qua từ đôi béo bở (theo qui luật từ đôi đồng nghĩa Nguyễn Xuân Quang ta có béo = bở) không phải bở là không chắc, dễ rời, dễ vỡ ra.
Bồ liên hệ với beurre (Pháp ngữ), burro (Ý ngữ) là bơ.
Vì thế bồ liên hệ với con vật có chất béo, chất mỡ: bồ liên hệ với boar (heo đực) (phát xuất từ Germanic *bairaz, Old Saxon ber, Dutch beer, Old High German ber) và với Malay babi, heo. Bồ liên hệ với pork, porc (thịt heo) (b = p).

-Bơ

Phiên âm Pháp ngữ beurre, như đã nói ở trên ruột thịt với bồ, bở, boar. Anh ngữ butter, Ý burro có bu- biến âm với bồ, bơ.

-Béo

Như đã nói ở trên béo = bở, beurre, butter. Béo liên hệ với Malay babi, heo, Anh ngữ boar, heo đực, với Anh ngữ bacon, thịt mỡ có gốc từ buttock, mông (bacon derives originally from the Old High German “bacho”, meaning “buttock”) (Wikipedia). Mông là một chỗ đọng nhiều mỡ: hút mỡ bụng, mỡ mông. Thịt mông có nhiều mỡ.

-Mập, mập mạp.

Nhiều mỡ, béo. Theo biến âm kiểu mấp mô, ta có mập = mỡ. Theo m = ph = f như mường (chỗ ở) = phường = fường, ta có mập = mạp = Anh ngữ fat.

Mập, mạp ruột thịt với mỡ, Thái ngữ moo (heo).

-Phịch, phục phịch.

Béo phục phịch, béo phục, béo phịch.  Theo ph = p, ta có phịch = pig (lợn, heo) = Phạn Ngữ piv, to be fat.

Con pig là con phịch, con phục phịch, con fat giống như con heo, con hợi là con huile, con hoi, con oi, con oil. Con lợn là con lờn con nhờn. Con porc là con mỡ, con boar là con bồ (mỡ), con bơ.

-Phì (béo phì, phì lũ, phát phì), phị (béo phì, béo phị), phính (má), phinh phính.

Cũng liên hệ với pig, Phạn ngữ piv, fat.

-Phi

Phi hành, hành phi dùng dầu mỡ. Phi ruột thịt với Anh ngữ fry, rán, chiên, với pig, piv, fat.

-Phệ

Phệ biến âm với phị, phì.

Phệ cùng nghĩa với sệ, xệ: bụng phệ = bụng sệ.

-Lạc, dầu lạc.

Đỗ lạc làm dầu đốt (dầu lạc). Trung Nam gọi là đậu phụng. Phụng ruột thịt với phượng có một nghĩa là lửa (chim phượng là chim lửa, hoa phượng màu lửa đỏ) là đậu lửa (phụng, phượng biến âm với phỏng, bỏng do lửa). Lạc có nghĩa là nước dương, nước lửa thấy qua Lạc Long Quân có một khuôn mặt là Mặt Trời Nước.

Lạc liên hệ với Anh, Pháp lard, mỡ. Theo biến âm theo kiểu lí lắc ta có lard = gốc Hy Lạp lipo-, mỡ. Lard, lipo- liên hệ với lợn, lờn, nhờn.

Chi

Hán Việt chi 脂, mỡ tảng, mỡ dón lại thành từng tảng ruột thịt với Anh ngữ cheese (/chi/), grease, mỡ dầu, Ấn ngữ ghee, phát gốc từ ghī, bơ lỏng.

Chi liên hệ với chúi, cúi với Malay celeng, cheleng, heo.
-Lờn, nhờn.

Lờn, nhờn liên hệ với dầu mỡ.  Nhờn biến âm với nhớt (nhơn nhớt) ruột thịt với dầu (dầu nhớt). Con lợn là còn lờn, con nhờn, con nhớt, con dầu, con mỡ, con moo (Thái ngữ).

-Ụt ịt

Béo ụt ịt. Ụt ịt ruột thịt với ủn ỉn, tiếng kêu của lợn, ủn à ủn ỉn liên hệ với gốc Tiền Ấn-Âu ngữ uaràjá, boar.

-Cùi, Hủi.

Cúi cũng biến âm với cùi chỉ bệnh hủi. Theo quan niệm của dân gian cổ Việt, bệnh cùi là bệnh do ở bẩn như con cúi hay là một thứ bệnh bẩn thỉu như con cúi. Bệnh cùi còn gọi là bệnh hủi (c = h). Hủi cùng nghĩa với cùi. Tục ngữ có câu bẩn như hủi (= bẩn như heo), thằng hủi, đồ hủi (đồ heo), không dính với hủi, lười như hủi…

Theo truyện cổ tích nước ta, con heo là một con vật rất lười biếng chỉ xin được ăn rồi nằm vì thế nên có câu ăn như heo, lười như heo và ăn rồi nằm trở thành mập như heo.

-Syphilis, bệnh giang mai.

Một chứng bệnh lan truyền tình dục Tây phương gọi là syphilis, dịch qua Việt ngữ là giang mai. Có nhiều giải nghĩa về từ này. Có một số nhà tầm nguyên ngữ học giải thích là sy- có gốc Latin sus, heo nái và cho rằng chứng bệnh này theo dân dã Tây phương cổ cho rằng do giao hợp với heo cái mà mắc bệnh.

4. Ý Nghĩa Của Các Từ Chỉ Con Hợi.

.Nghĩa theo tiếng kêu.

Người Việt nghe lợn kêu ủn ỉn, ụt ịt: ‘con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi’ nên gọi lợn là con ủn. Lãnh tụ Bắc Hàn Kim Young Un mập như heo nên được đặt tên là Cậu Ủn theo tên Un. Như đã nói ở trên ta cũng thấy ủn à ủn ỉn gần âm u, a của Tiền Ấn-Âu ngữ uaràjá, boar.

.Nghĩa theo đặc tính kiếm ăn.

Lợn, heo kiếm ăn bằng cách ủi (cùng nghĩa với dũi), dũi (dế dũi, húng dũi), chũi (dế chũi) đào, xới, cầy đất lên. Vì thế có giải thích cho rằng con cúi được gọi theo các sinh sống này, cho rằng cúi có nghĩa là cắm cúi, lúi cúi, cặm cụi, lui cui, lúi chúi, chúi mũi kiếm thức ăn (giống như gọi con cọp là gọi theo cách sinh sống chộp, vồ mồi. Con cọp là con chộp). Ta có Mường ngữ củi (lợn) = chũi. Con cúi, con củi, con chũi, con dũi, con ủi đất kiếm ăn. Theo Nguyễn Hy Vọng: cụi, cạy cụi: cạy, đào bới, moi, móc, xới, Thái ngữ t-kụi: cạy lên, cạy ra (2) như vậy con cúi là con cụi đào bới, xới đất kiếm ăn.

Kiểm chứng thêm, ta cũng thấy cúi biến âm với húi, hủi (cùi = hủi). Với h câm, húi, hủi = ủi.

Có một điểm thú vị dù có đúng hay chỉ là trùng hợp đi nữa là ủn biến âm mẹ con với ùn, đùn có một nghĩa là đẩy lên, đào lên như con giun đùn đất, ăn khớp với ủi, đào, xới đất lên kiếm ăn của con cúi, lợn, heo. Phải chăng tổ tiên ta đã gọi tiếng kêu ủn ỉn vì bị ảnh hưởng bởi lối sống của chúng? (trong khi Anh Mỹ lại nghe là oink oink).

.Nghĩa theo đặc tính nhiều mỡ.

Cúi:

Như đã nói ở trên cúi biến âm với sề,  suids, suidea, Phạn ngữ su(kara), Latin sus, Cổ ngữ Anh sù, Anh ngữ hiện kim sow, swine, lợn, heo, với cese (cheese /chi/), Hán Việt chi (mỡ cục), Hindi ghee (bơ lỏng)…

Lợn:
Như đã nói ở trên lợn liên hệ với Pháp ngữ laie, heo rừng cái, Ladin Selvano luia, Venice luja, Corse lofia, Sardinia Lóvia, phương ngữ Milan logia (‘sow’). Lợn là con lờn, con nhờn, con nhớt (dầu xe hơi), theo kiểu biến âm nhộn nhịp, ta có lợn, lờn liên hệ với Hy Lạp ngữ lipos, gốc leipo-, lipo-: fat.
Lờn, nhờn biến âm với trơn (dầu mỡ rất trơn trượt) nên lợn liên hệ với gốc lio-, leio-: smooth, trơn ví dụ leiomyoma bướu cơ trơn.
Lợn là con có nhiều mỡ, là con mỡ (như đã biết Thái ngữ mo, moo, lợn chính là Việt ngữ mỡ) nên cũng liên hệ với Anh, Pháp lard, mỡ với Việt ngữ lạc, dầu đốt lửa.

Heo

Có cùng nghĩa với hợi (xem dưới).

Sề:

Sề là con lợn nái đã sinh con hay hết sinh con có nhiều mỡ thụng xuống ở thân người.
Như đã nói ở trên sề ruột thịt với sow (lợn cái), sus (lợn), swine (lợn nái).

Hợi:

Hợi liên hệ với Hy Lạp hus, heo, hyena, heo hoang lông heo là con hoi, biến âm với Pháp ngữ huile (dầu). Với h câm, hoi = oi (miệng còn oi sữa). Oi ruột thịt với Anh ngữ oil (có gốc từ Cổ ngữ Pháp ngữ oile, Latin oleum. Hy Lạp elation. Cây olive là cây dầu oil, ole-).

Con hợi là con hoi, con huile, con oi, con oil.

.Theo nghĩa biểu tượng bẩn thỉu.

-Bẩn về mặt thể chất.

Cúi hiểu theo nghĩa bẩn là con vật ở bẩn biểu tượng cho dơ bẩn, lười biếng như đã nói ở trên thấy rõ qua tên bệnh cùi, hủi đặt theo tên cúi, hợi và thấy cả qua Latin suillus, ham ăn, dơ dáy như heo có gốc suids,  sus, heo.

-Bẩn về mặt tinh thần.

Dơ bẩn nhìn theo diện tinh thần, đạo lý thì con heo biểu tượng cho nhục dục như thấy qua từ ‘con heo porno’, con lợn lòng, rửng mỡ, hửng mỡ. Người Pháp chửi cu xoong (cochon, lợn, heo), ‘mẹc xà lù cu xoong’.

Nhiều tôn giáo như Hồi, Phật giáo nhất là ở phái Mật Tông Tây Tạng coi con heo biểu tượng cho nhục dục, ham muốn, sa đọa, tội lỗi. Trung tâm của Bánh Xe Đời Sống (Wheel of Life) diễn tả luân hồi của Phật giáo Tây Tạng diễn tả ba con vật : chim ác độc thần thoại (thượng thế, cõi trời), rắn độc (hạ thế, cõi âm nước) và con heo (trung thế, cõi đất) biểu tượng cho vô thức, vô minh, đần độn (ignorance), tức giận (anger) và ham muốn (desire).

clip_image002Trung tâm Bánh Xe Đời Sống Tây Tạng (nguồn: http://www.rigpawiki.org).

Người Hồi không ăn thịt heo…

Có một điểm rất lý thú dù cho là có cùng gốc hay không hay chỉ là hai từ đồng âm là Anh ngữ cunt, bộ phận sinh dục nữ cùng âm với Việt ngữ cun, cún, kul, Thái ngữ kun, heo, hợi như đã nói ở trên. Nguồn gốc của Anh ngữ cunt hiện nay chưa rõ nên có nhiều cách giải nghĩa khác nhau. Khi hiểu theo nghĩa nhục dục porno, không rõ cunt có liên hệ gì với Việt ngữ kun biến âm của cúi, heo hay không? Có một hỗ trợ là cổ ngữ Việt có từ củng là váy phụ nữ (củng biến âm với xống, sarong, váy). Váy củng để che cunt?

Trong khi đó cúi cùng âm với cui. Việt ngữ cui chỉ bộ phận sinh dục nam. Ta có từ đôi dùi cui (gậy, cọc, cảnh sát thường dùng). Theo qui luật từ đôi đồng nghĩa ta có dùi = cui. Dùi có một nghĩa là cây, cọc một đầu tròn giống đầu dương vật dùng đánh trống: dùi trống. Như thế cui có một nghĩa là cọc, cược, cặc. Cui là cặc cũng được xác thực bằng Việt ngữ cùi: khi văng tục người Việt thường nói cái cùi của tao đây này và nhiều khi đưa cùi chỏ ra (sở dĩ đưa cùi chỏ ra vì hiểu lầm cùi dương vật với cùi là cuối (như cùi vé là cuống vé, chim giải cùi là chim có đuôi như dải dây) trong từ cùi chỏ. Ngày xưa có một đơn vị chiều dài đo từ đầu ngón chỏ cho tới cuối ngón chỏ tức chỗ cùi chỏ (cuối chỏ, cuối ngón chỏ). Nếu hiểu theo chữ nòng nọc vòng tròn-que thì cùi chỏ có hình từ nọc mũi mác > có một nghĩa dương, bộ phận sinh dục nam. Rõ nhất là cùi là cặc được xác thực bởi Thái ngữ kùi, Khmer Kùi, con cặc (2). Cui, cùi, cặc liên hệ với Phạn ngữ कपृथ् kaprth, penis.

Như thế ta thấy rõ theo duy âm Việt ngữ cun (lợn, heo nái) cùng âm với Anh ngữ cunt, âm hộ, Việt ngữ củng là váy phụ nữ. Theo duy dương Việt ngữ cúi (heo cui, heo nọc) cùng âm với Việt ngữ cui (dùi cui), cùi, Thái, Khmer kùi, cọc, cược, cặc. Dù cho có khác gốc ngữ đi nữa nhưng nhìn theo diện nghĩa nhục dục cũng rất là thú vị. Trong phim con heo porno hai tài tử chính: nam diễn viên heo nọc cúi dương vật và nữ diên viên là heo nái cun, cunt âm hộ.

Ngược lại nhìn theo mặt tích cực thì tình dục không hằn là ‘con heo’. Điều này thấy rõ trong quan niệm nòng nọc (âm dương) Chim-Rắn, Tiên Rồng cốt lõi của văn hóa Việt qua bức tranh Lợn Tết dân gian Đông Hồ của Việt Nam.

clip_image003Lợn nọc. (Tranh dân gian Đồng Hồ).

Trên ngưởi lợn có hình đĩa thái cực: nòng nọc (âm dương) chuyển động mang tính sinh động nhưng còn quyện vào nhau ở dạng nhất thể, thái cực. Nòng nọc (âm dương) giao hòa, nõ nường giao hợp, là căn bản của vũ trụ, muôn sinh, sinh sản, sự sống, sinh tạo, sản xuất…, hiểu theo nghĩa duy tục suy diễn ra là sung túc, dư ăn dư mặc, giầu có [như thấy rõ qua các con heo đất (piggy bank) dùng bỏ tiền để dành và đánh bài như đánh chắn ‘nuôi con heo’], ấm no, hạnh phúc.

Trên thế giới chỉ có con lợn, heo Việt Nam nhìn theo khía cạnh nhục dục nghiêng hẳn về phía tích cực là tình dục, sinh sản, mắn sinh dựa theo vũ trụ tạo sinh có căn bản dựa trên nguyên lý nòng nọc (âm dương) nên mới có hình đĩa thái cực vẽ trên người. Heo Trung Quốc chỉ nghiêng hẳn về duy tục nhiều tiền bạc, ăn nhiều, no say, hạnh phúc thể xác:

heo 2019 Xuân Kỷ Hợi, Khách sạn Bellagio, Las Vegas, 2019 (ảnh Amy Nguyễn).

Lưu ý có nhiều thỏi tiền bạc, vàng ở dưới cho thấy con heo làm theo con Huì (Hợi) Trung Quốc. Con heo làm bởi các tay thợ ‘Tẫu’ này trông lo âu và buồn vì đang có chiến tranh thương mại giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ.

Rõ hơn là con heo vàng biểu tượng cho vàng bạc, phú qui, giầu sang.

heo 2019  2

(ảnh Amy Nguyễn).

Con lượn vàng này mang ý nghĩa biểu tượng về  vật chất  nên trông rất “heo”!  (xem thêm chi tiết ở bài viết Ý Nghĩa Bức Tranh Lợn Dân Gian Đông Hồ ở số tới).

Tóm lại con Hợi là con hoi (mỡ, dầu), con hủi, con cùi (dơ bẩn), con cúi, con cụi (cắm cúi, lúi cúi đào bới kiếm ăn), con ủi, con ủn ỉn (tiếng kêu).

5. Cúi Chính Là Hợi.

Theo biến âm c = h như cùi = hủi, cái (cả, lớn như thợ cái, thợ cả) = hai (tiếng trung Nam và Chăm gọi anh/chị cả, lớn, trưởng là anh/chị hai), cúc = hook, móc (cúc là một thứ móc để cài áo. Nguyên thủy cúc, hook là cái que, cọng cỏ, cái móc để cài áo), kết = hết…, ta có: Cúi = Hợi, Heo. Như đã nói ở trên cúi = suids = sow, sus, sù, swine, sudara, sề.

Như thế ta thấy rõ như ban ngày tiếng nôm na cổ của Hợi là Cúi.

6. Khảo cứu DNA.

Có nhiều nghiên cứu di truyền học gần đây cho thấy vài loài heo ở Đa Đảo có nguồn gốc ở Việt Nam, rồi từ Thái Bình Dương lan truyền qua bờ Đại Tây Dương và tới khắp nơi trên thế giới.

DNA của lợn, heo củng cố thêm nguồn gốc của tên 12 con giáp ruột thịt với tiếng nôm na Việt.

Kết Luận

Hợi là con heo, con Cúi.

Cúi cổ hơn từ heo bằng chứng ngày nay gần như không còn dùng nữa vì thế ta có thể coi như là Hợi có nguồn cội nguyên thủy là Cúi. Hợi là hủi là cùi là Cúi.

Một lần nữa cho thấy từ Hợi có gốc nôm na, thuần Việt.

Tổng Kết về 12 Con Giáp.

Ta đã thấy tên của 12 con giáp đều có gốc là từ nôm, nôm na mách qué liên hệ với các đại tộc lớn của ngôn ngữ loài người, nhất là với Ấn-Âu ngữ ruột thịt với Phạn ngữ, một ngôn ngữ tối cổ của loài người cho biết rõ là nguồn gốc của 12 con giáp Việt Nam tối cổ, tuyệt nhiên Việt Nam không lấy của Trung Hoa.

Các khảo cứu của nhiều tác giả khác từ trước tới nay cho thấy 12 con giáp có thể là có nguồn gốc Việt. Sự khám phá ra tên 12 con giáp là thuần Việt của tôi bổ túc thêm vào đó cho thấy rõ nguồn gốc của 12 con giáp có thể là của Bách Việt hay cũng có thể từ một nguồn gốc Á châu cổ đại nào khác nhưng chúng ta giữ chính huyết, chính thống.

Tài Liệu Tham Khảo

1. Nguyễn Văn Khang, Từ Điển Mường Việt, NXB văn hóa Hà Nội, 2002.

2. Nguyễn Hy Vọng, Từ Điển Nguồn Gốc Tiếng Việt.
.Tiếng Việt Huyền Diệu (Hừng Việt, 2004).

3. Nguyễn Xuân Quang

.Tiếng Việt Huyền Diệu (Hừng Việt, 2004).

.Sự Liên Hệ Giữa Việt và Ấn Âu Ngữ (đã đăng một phần trên bacsinguyenxuanquang.wordpress.com).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: