CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE VÀ MẪU TỰ ABC (1).

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

Phải tuân thủ luật Tác quyền Copyright.

CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE

CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE VÀ MẪU TỰ ABC.

(Phần 1).

Nguyễn Xuân Quang.

Tổng Quát.

Như đã biết chữ nòng nọc vòng tròn-que là một thứ chữ của vũ trụ giáo dựa trên vũ trụ tạo sinh có nền móng là lưỡng hợp, nòng nọc, âm dương. Di tích chữ nòng nọc vòng tròn-que còn thấy rõ nhất trong các loại chữ viết theo hình ngữ (pictogram), tượng hình như chữ Naacal, linh tự Ai Cập, chữ Hán cổ, chữ Maya, các biểu tượng của người Dogon (Mali, châu Phi) v.v…

Theo Andrew Robinson trong The Story of Writing một cách căn bản thì lối chúng ta viết vào đầu thiên niên kỷ thứ 3 Sau Dương Lịch không khác gì cách người Ai Cập cổ đã viết (Fundamentally, the way we write at the start of the third millennium AD is not different from the way that the ancient Egyptians wrote). Mà linh tự Ai Cập cổ là di duệ của chữ nòng nọc vòng tròn-que thì cách chúng ta viết ngày nay cũng phải mang các dấu tích của ngữ pháp chữ viết nòng nọc. Ngay cả chữ viết vi tính hiện nay dựa trên 0 và 1 cũng chính là một hình thức tân tiến của chữ viết nòng O và nọc I.

Do đó phần lớn các chữ viết hiện nay kể cả chữ viết theo mẫu tự ABC đều là con cháu, di duệ hay bị ảnh hưởng của chữ nòng nọc vòng tròn-que.

Như thế mỗi mẫu tự ABC có nhiều khuôn mặt mang tính nòng nọc (âm dương) khác nhau. Mỗi chữ viết của các ngôn ngữ khác nhau (của các đại tộc khác nhau) có tính nòng nọc, âm dương mang tính chủ khác nhau, có một khuôn mặt nòng nọc (âm dương) thích ứng của tộc đó. Ví dụ mẫu tự S ở:

1. Tộc thái dương mang tính lửa thái dương chủ, lấy ý nghĩa chủ theo chữ S gẫy hình tia chớp.

clip_image002

Tia chớp chữ S gẫy có góc cạnh mang dương tính lửa.

2. Tộc thái âm mang tính nước thái âm chủ lấy ý nghĩa chủ theo chữ S nằm, nét cong tròn hình con rắn như sóng nước diễn tả mây của Maya.

clip_image004clip_image005 Mẫu tự mây Maya hình con rắn có nét cong tròn mang âm tính nước.

Hình ngữ mây của Maya trong có hình con rắn trơn hình sóng chữ S biểu tượng cho nước. Hiển nhiên mây tạo ra mưa, nước.

3. Tộc thiếu âm mang tính gió thiếu âm chủ lấy ý nghĩa chủ theo chữ S của:

-Linh tự Ai Cập cổ S được cho là diễn tả bằng dải vải gấp lại: clip_image007.

Nếu hiểu là dải vải (dải vải có một khuôn mặt biểu tượng cho gió) cuộn lại thành hình vòm trời thì có một nghĩa biểu tượng khí gió tức thiếu âm, dương của âm.

-Chữ S sigma clip_image009 Hy Lạp là chữ S mang tính chuyển động. Vì thế, theo Tây phương sigma thường được giải thích theo nghĩa của gió cuộn, gió lốc (whirlwind) tức biểu tượng cho gió chuyển động (J. E. Cirlot, Dictionary of Symbols).

4. Tộc thiếu dương mang tính đất thiếu dương chủ lấy ý nghĩa chủ:

-Theo chữ Sh trong mẫu tự của Mu: clip_image011

Hình chữ vạn có móc cong của Sh là dạng sinh động của chữ cổ X có một nghĩa là đất, nơi ở. Ngày nay dùng chữ X làm dấu chỉ một vị trí nào đó. Như thế Sh mang tính thiếu dương. Ta cũng thấy dạng thứ hai của Sh có hình chữ T nghiêng clip_image012liên hệ với chữ T có một nghĩa biểu tượng cho trục thế giới, núi trụ thế gian nghĩa là ruột thịt với đất.

-Trong của mẫu tự Phoenicia ta có s = x: clip_image014 = clip_image016 . Chữ X này có hình trục thế giới xuyên qua tam thế có một khuôn mặt biểu tượng cho đất thiếu dương.

Về sau này chữ X có một nghĩa là đất, liên hệ với đất và ngày nay dùng đánh dấu một tọa độ, một chỗ nào đó như thấy qua chữ T có một nghĩa là đất trong mẫu tự X Phoenicia.

Ngay cả một mẫu tự đã được diễn tả theo một khuôn mặt nòng nọc (âm dương) nào đó cũng có thể có thêm tính nòng nọc khác nhau ở các tầng sinh tạo khác nhau.

Ví dụ mẫu tự A mang tính nọc, dương, thái dương cũng được diễn tả theo tính sinh tạo ở các tầng sinh tạo khác nhau của mỗi tộc nọc dương đó.

.Chữ a dạng chấm vòng tròn clip_image018.

Trong mẫu tự Naacals nguyên âm a được diễn tả bằng từ chấm-vòng tròn mang tính sinh tạo ở tầng tạo hóa.

clip_image020

Lưu Ý.

.James Churchward, The Sacred Symbols of Mu gọi Maya hiểu là Maya có gốc ở vùng đất mẹ Thái Bình Dương.

.Hình trên này cũng cho thấy trong mẫu tự Naacal và Maya a được diễn tả bằng ba mẫu tự chấm vòng tròn, hình thoi đứng và từ nọc mũi mác và trong chữ cổ Ai Cập cũng có ba dạng, có nghĩa là chữ a có ba âm khác nhau với ba khuôn mặt nòng nọc (âm dương) khác nhau của khâu a. Điểm này cũng thấy rõ trong chữ Việt ta có A, Ă, Â.

.Chữ a dạng nọc que I.

Chữa a trong chữ cổ Ai Cập ở hình trên có hình nọc que I giống trong chữ Ả Rập chữ a gọi là alif cũng có hình nọc que mang tính sinh tạo ở tầng lưỡng nghi.

clip_image022Alif (chữ a Ả Rập).

.Chữ a dạng nọc mũi mác clip_image024.

Cũng trong mẫu tự Mu và Maya ở bảng trên và trong mẫu tự ABC hiện nay a được diễn tả bằng nọc mũi mác do hai nọc que hợp lại mang tính sinh tạo sinh động ở tầng tứ tượng (như thấy qua hình ngữ clip_image025).

.Chữ a dạng ba nọc que ghép lại A.

clip_image026Chữ a Pheonicia hình đầu bò.

Chữ a Pheonicia hình đầu bò có hai sừng sinh ra A trong mẫu tự ABC hiện nay. A do ba nọc que ghép lại có một nghĩa lửa thái dương Càn (III) mang tính sinh tạo ở tầng ba vạch, tám tượng, bát quái (xem dưới).

Việt ngữ có các dấu thể hiện âm đọc của các chữ a, d, o, u thành ă, â, đ, ô, ơ, ư. Các mẫu tự quốc ngữ của Việt Nam nói chung mang tính nòng nọc (âm dương) hiển nhiên các dạng chữ có thêm dấu này mang tính nòng nọc khác nhau. Ví dụ các chữ A, Ă, Â có tính nòng nọc (âm dương) của khâu a như đã nói ở trên.

Lưu Ý.

Xin nhắc lại mẫu tự chỉ là ký tự, âm mới là phần chính yếu. Âm có tính nòng nọc (âm dương). Âm nguyên khởi lúc chào đời thường gọi là tiếng khóc chào đời đã mang tính nòng nọc (âm dương) (xem dưới).

MẪU TỰ ABC VÀ CHŨ VIẾT NÒNG NỌC.

Mẫu tự ABC hiện nay trong gia đình Alphabets được James Churchward, The Sacred Symbols of Mu cho là di duệ của mẫu tự cổ nhất Naacal của Lục Địa Mu đã mất, viết dưới dạng hết sức gần cận với chữ nòng nọc vòng tròn-que:

clip_image027Mẫu tự Mu, Maya và Ai Cập cổ (James Churchward, The Sacred Symbols of Mu).

Các nhà ngôn ngữ học khoa bảng hiện nay chưa chính thức thừa nhận chữ viết Mu của James Churchward và cho rằng mẫu tự ABC khởi sự là con cháu của chữ Nêm Sumero-Akkadian. Chữ này lần lượt sinh ra Linh tự Ai Cập, rồi tiến đến chữ Proto-Sinaitic/Canaanite, Phoenicia, Hy Lạp,

clip_image031

Etruscan, Latin và cuối cùng là mẫu tự ABC Âu châu hiện đại.

Mẫu tự ABC gồm có nguyên âm và phụ âm.

I. NGUYÊN ÂM TRONG MẪU TỰ ABC HIỆN NAY.

Ngôn ngữ loài người bắt nguồn từ tiếng kêu của loài đười. Tiếng kêu của loài thú, loài đười thường là một âm thanh đơn giản, một nguyên âm.

Nguyên âm là âm thanh đầu còn gọi là mẫu âm, chính âm. Từ vowell (nguyên âm) phát gốc từ Latin vox, Pháp, Anh ngữ voice âm thanh, tiếng, tiếng nói. Việt ngữ nói biến âm với Anh ngữ noise, tiếng, âm: nói = noise. Thốt (thốt ra lời = nói ra lời, thưa thốt) biến âm với Anh ngữ talk, nói.

Âm đầu tiên, tiếng nói đầu tiên của con người

(thường cho là tiếng khóc chào đời) thật ra là những tiếng, những âm, những tiếng kêu, tiếng nói đầu đời, đều là những nguyên âm như oe oe, oa oa, ua ua… gần cận với tiếng kêu loài vật, tiếng nói loài vật. Ta thấy rất rõ qua nguyên âm Anh ngữ vowell nếu thay v=u (xem dưới) ta có vo(well) = uo = u ơ, vo(x), vo(ice) = u ơ. Tiếng nói đầu đời của trẻ thơ là tiếng u ơ, là tiếng vowell, nguyên âm.

Tiếng nói của loài vật chính yếu là các âm thanh, tiếng kêu, tiếng gọi đều là những nguyên âm (vowell). Tiếng kêu của loài thú phần nhiều nhữnh thanh âm đơn giản, là những nguyên âm thấy rõ trong ngôn ngữ Việt: con chó kêu “ăng ẳng”, con gà gáy “o o”, con ếch kêu “uôm uôm” (Ếchh kêu uôm uôm, Ao chuôm đầy nước). Con lợn “ủn ỉn mua hành cho tôi”, nó kêu “eng éc”…

Về cơ thể học loài khỉ thường chỉ phát ra được nhiều nguyên âm vì thanh quản (larynx) con người tạo ra được phụ âm khác loài khỉ chỉ có phần thanh quản ường thanh âm) ở thượng hầu giữ chức vụ biến âm (supralaryngeal vocal tract transfer function) (Lieberman, The Speech of Primate tr. 55). Thanh quản của trẻ sơ sinh theo một chiều hướng nào đó giống thanh quản của loài linh trưởng (không phải người) hơn là thanh quản người lớn (the vocal tract of the newborn in some ways is more similar to the vocal tract of a non-human primate than it is to the adult human vocal tract (Philip Lieberman, tr 40-53). Do đó “tiếng kêu” của trẻ sơ sinh và ngôn ngữ của trẻ thơ thường là những âm vận đơn giản diễn tả bằng nguyên âm.

Phân tích âm học cho thấy sự phát âm của loài khỉ thường giới hạn vào những tiếng kêu giống như “schwa” một ví dụ của âm “schwa” là nguyên âm a đầu tiên của từ “about” (an example of the schwa is the first vowel in the word about (Philip Lieberman. 55). Ta có w= vv = uu = u, vậy schwa = schua = ua. Schua mang âm hưởng của tiếng khóc ban đầu chào đời của trẻ sơ sinh u a. Về mặt sinh lý học dựa trên cơ thể học thì đây căn bản chỉ là hai tiếng kêu thoạt đầu vô nghĩa tức chưa phải là ngôn ngữ. Tiếng u, a, ua đầu tiên của trẻ sơ sinh chỉ là một tiếng kêu do không khí ùa vào và được tống ra đường hô hấp mà chúng ta cho nó một nghĩa là tiếng “khóc chào đòi”, “Đã mang tiếng khóc ôm đầu mà ra” (Ôn Như Hầu, Cung Oán Ngân Khúc).

Loài linh trưởng (non-human primate) thay đổi âm điệu của tiếng kêu để diễn tả “cảm giác” như đau đớn, tức giận, đói khát, ham muốn, muốn giao hợp… Đây chính là sự “nghĩa hóa” các tiếng kêu khởi sự cho sinh tạo ra ngôn ngữ loài khỉ (Tiếng Việt và Nguồn Gốc Ngôn Ngữ Loài Người).

Tính Nòng Nọc (âm dương) của Nguyên Âm.

Như đã thấy nguyên âm mang tính nòng nọc (âm dương). Tiếng khóc chào đời oa oa, ua, ua do phổi mở bung ra lúc ra đời tức do hít vào thở ra tạo thành (Tiếng Việt Huyền Diệu). Oa oa, ua ua hít vào thở ra mang tính nòng nọc (âm dương).

Để thấy rõ và dễ hiểu ta hãy duyệt qua tính nòng nọc dựa theo qui trình vũ trụ tạo sinh.

Trong linh tự Ai Cập có các nguyên âm chính là A, I, (Y), E, U, O thấy ở bảng dưới đây.

clip_image032(Bảng này không có các chữ C, E, J, U, V, X).

Ở một bảng khác:

clip_image034

Bảng này có O = U = W, có V = F, có C = K, có J = dj, có thêm M hình cây cầu, có thêm N dạng ngai vàng, có S = X = Z.

Hai bảng có những dị biệt cho thấy đã nhìn dưới các diện nòng nọc (âm dương) khác nhau.

Trong mẫu tự Pheonicia chỉ có hai nguyên âm A và O:

clip_image035

clip_image036Mẫu tự ABC Phoenicia (nguồn: ancient Hebrew,org).

Hai nguyên âm này cho thấy các nguyên âm khởi đầu có thể chỉ có hai chữ diễn tả hai cực nòng nọc (âm dương). A dù ở dạng nào cũng biểu tượng cho nọc, dương, cực dương và O dù ở dạng nào cũng biểu tượng nòng, âm, cực âm (xem dưới) của khâu tương ứng.

Nguyên Âm Và Vũ Trụ Tạo Sinh.

Dựa vào qui trình vũ trụ tạo sinh ta có:

Hư vô.

Nhìn tổng thể chung theo lẽ thường ngả theo duy âm nguyên âm O có một khuôn mặt hư vô. Tuy nhiên như đã biết a có thể ở dạng một chấm nọc, chấm-vòng tròn, nọc que, nọc mũi mác, ba nọc que đều có một khuôn mặt hư vô của các khâu tương ứng, như vậy a cũng có một khuôn mặt hư vô của khâu dương a.

.Thái cực.

Như đã biết a có một khuôn mặt ở dạng từ chấm vòng tròn clip_image018[1]. Nhìn dưới dạng nhất thể từ chấm vòng tròn có một khuôn mặt thái cực.

O cũng có thể có một khuôn mặt thái cực chung vì O có một khuôn mặt nhất thể. Ví dụ O có một nghĩa là 1 thấy rõ qua Anh ngữ One (số 1 Maya hình nọc chấm đặc) có một khuôn mặt nhất thể. O diễn tả mặt trời nguyên tạo, tạo hóa không có ánh sáng hay mặt trời âm đĩa tròn không có ánh sáng mang tính sinh tạo lưỡng tính phái, nhìn dưới dạng nhất thể có một khuôn mặt thái cực.

.Lưỡng nghi.

Cực dương.

Như đã nói ở trên a có thể ở dạng chấm vòng tròn có một nghĩa là mặt trời sinh tạo, tạo hóa (như mặt trời Ra tạo hóa của Ai Cập cổ diễn tả bằng từ chấm vòng tròn) hay ở dạng nọc que, nọc mũi mác, ba nọc que ghép lại. Tất cả đều mang tính nọc dương.

Nguyên âm a có một khuôn mặt biểu tượng cực dương. Ở tầng lưỡng nghi này a có một khuôn mặt ở dạng nọc que I mang tính chủ.

Ngược lại O với nghĩa mặt trời đĩa tròn có một khuôn mặt biểu tượng cực dương của ngành nòng âm.

Cực âm.

Nguyên âm o có thể ở dạng chấm vòng tròn rỗng có một nghĩa là Khôn, không gian sinh tạo, tạo hóa, hay ở dạng nòng vòng tròn O, vòng tròn có độ dầy gấp đôi mang tính thái âm OO hay độ dầy gấp ba mang tính Khôn OOO. Tất cả đều mang tính nòng âm.

Nguyên âm O có một khuôn mặt biểu tượng cực âm.

Ở tầng lưỡng nghi này O có một khuôn mặt ở dạng nòng vòng tròn có độ dầy chuẩn.

Như thế a và o có một khuôn mặt biểu tượng lưỡng cực, lưỡng nghi.

.Tứ tượng.

Đây là tứ tượng chung của cả hệ thống mẫu tự ABC.

Lưu Ý.

Mỗi mẫu tự cũng có tứ tượng riêng của nó. Đó là tứ tượng nhỏ.

a. Tượng thái dương.

A biểu tượng cực dương cũng có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng thái dương. Ở đây tiêu biểu nhất là a có một khuôn mặt hình mũi mác clip_image037 do hai nọc que hợp lại (xem thêm chi tiết ở Nguyên Âm A).

b. Tượng thiếu dương.

Nguyên Âm I Mang Tính Thiếu Dương:

Hiển nhiên I cũng mang tính nòng nọc (âm dương) và phải nhìn theo nòng nọc (âm dương).

Tính nòng nọc (âm dương) của I.

Nhìn tổng quát nguyên âm I mang trọn ý nghĩa vũ trụ tạo sinh của khâu I.

I hình nọc que nhưng có đầu bằng nên mang âm tính. Như thế nhìn tổng quát I mang trọn vẹn nghĩa của từ nọc que bằng đầu mang âm tính.

I mang âm tính ngược với A mang dương tính thấy rõ trong Phạn ngữ I chỉ các từ có giống cái và A chỉ các từ có giống đực như devI là nữ thần (goddess) và devA: nam thần (gods), nagI-nagA là người rắn nữ-người rắn nam…

Như thế I có tất cả các ý nghĩa và tính chất của chữ nọc que, của chữ a nọc que ở tầng lưỡng nghi nhưng mang âm tính tức nọc que âm ngành nọc dương.

Vì I là nọc que có âm tính nên có tính chủ nòng nọc (âm dương) là theo duy dương là âm O của dương I tức OI, thiếu dương, nguyên thể của đất và theo duy âm là dương của âm O tức IO, thiếu âm nguyên thể của khí, gió.

Bây giờ ta hãy kiểm điểm lại các dạng chữ I từ cổ cho tới ngày nay xem có tính nòng nọc (âm dương) như thế nào để chọn tính nòng nọc (âm dương) chủ đúng nhất của nguyên âm I.

-Trong mẫu tự Mu, Maya được diễn tả bằng một nọc que nghiêng (/) tức nọc que mang âm tính, thiếu dương hay thiếu âm và trong cả ba mẫu tự Mu, Maya và linh tự Ai Cập cổ I được diễn tả bằng hai nọc que nghiêng (//) tức thái dương âm.

clip_image039

-Trong linh tự Ai Cập I cũng diễn tả

.Bằng hình hai nọc que nghiêng: clip_image040.

Hai nọc que II có một nghĩa lửa (hai nọc dùi ra lửa) ở tầng tứ tượng tức lửa thiếu dương, lửa đất. Hai nọc que nghiêng về trái mang âm tính có nghĩa là thái dương âm, lửa âm. Lửa âm mang tính lửa thiếu dương nên I có một khuôn mặt biểu tượng cho Lửa thiếu dương Li đất dương.

.Bằng linh tự mà ngày nay cho là có hình lá cây sậy clip_image042.

Có hai cách nhìn:

1. Nhìn theo diện thiếu dương Đất dương cây

sậy có hình thẳng như cây, như cây que, cây nọc (I). Theo biến âm s=c, sậy = cây. Sậy là một thứ cây thẳng đuột như cây que họ hàng với tre. Theo tr=ch = qu, tre = que. Cây, que là nọc, trụ, dương. Chữ I được diễn tả bằng lá sậy đầu cong mang âm tính để ở vịt trí thẳng đứng hình tru tròn đầu mang âm tính. Âm O của dương trụ nọc que I là thiếu dương OI, nguyên thể của đất. Như chiếc thế I lá sậy có một khuôn mặt thiếu dương.

Ngoài ra ta cũng thấy lá mang âm tính như lá đa (trong khi quả, cành, thân cây mang dương tính). Lá cây sậy là âm O của dương I tức thiếu dương OI nguyên thể của Đất.

Như vậy I có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng thiếu dương.

2. Nhìn theo diện thiếu âm Gió.

Linh tự Ai Cập I đã nói ở trên thường đa số cho là hình lá cây sậy nhưng cũng được cho là hình hoa cây sậy:

clip_image044Hoa cây sậy.

Theo tôi trông có vẻ giống hoa hơn và đúng vị trí thẳng đứng của hoa hơn (lá sậy không thẳng đứng).

Nếu nhìn theo hoa cây sậy thì hoa lau sậy còn gọi là cờ: cờ lau (như cờ lau của Đinh Bộ Lĩnh). Cờ có một khuôn mặt biểu tượng cho gió thiếu âm. Rõ ràng I có một khuôn mặt thiếu âm như đã nói ở trên.

Với khuôn mặt gió này thì lá cây sậy ở trên trông cũng giống lông chim (có một khuôn mặt biểu tượng cho gió). Ví dụ điển hình là thần Gió Shu của Ai Cập cổ có biểu tượng là chiếc lông chim.

Như vậy cây sậy, cây lau có bông như cờ cũng có một khuôn mặt biểu tượng cho gió.

Kiểm chứng lại ta cũng thấy hình thái nấc thang hay thanh ngang đường rầy thường thấy trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn hiện nay gọi là răng lược là chuỗi những hình nọc que bằng đầy dạng chữ I. Như đã biết trên trống đồng nhìn tổng quát hình thái này có một nghĩa là nọc âm thái dương. Theo duy dương có một khuôn mặt diễn tả dương I của âm O tức Khôn dương tức thiếu âm IO, khí gió.

Tóm lại vì I ở dạng nọc que âm nên có hai khuôn mặt chính là I thiếu dương Đất và I thiếu âm Gió. Ở nhánh nọc thái dương lửa thái dương ta nghiêng về khuôn mặt thiếu dương hơn thiếu âm.

Ngoài ra ta cũng thấy I cũng mang hình ảnh trụ, cột của trục thế giới của núi trụ thế gian có một khuôn mặt biểu tượng cho đất.

Lưu Ý.

Xin lưu tâm là nguyên âm I cũng như các nguyên âm khác mang trọn ý nghĩa vũ trụ tạo sinh. Ở đây ta chọn khuôn mặt mang tính chủ thích hợp nhất là thiếu dương.

c. Tượng thiếu âm.

Nguyên âm E Mang Tính Thiếu Âm.

Cũng như các nguyên âm khác nguyên âm E mang trọn ý nghĩa vũ trụ tạo sinh. Tuy nhiên E cũng có một khuôn mặt nòng nọc (âm dương) mang tính chủ.

Trong hệ thống chữ cổ:

clip_image046

Ta thấy E diễn tả bằng một nọc que I, hai nọc que II. Như đã biết nọc que bằng đầu I mang âm tính có hai nghĩa: thiếu âm nguyên thể khí gió như thấy ở chữ i đã nói ở trên, thấy qua chuỗi nấc thang (răng lược) có một nghĩa nọc âm thái dương khí gió. Còn hai nọc que II có một nghĩa là thái dương. Theo duy âm là thái dương II của nòng O âm, có một khuôn mặt là thái dương II của không gian O, tức Khôn dương, khí gió. Ta cũng có thái dương II của O là IIO, quẻ Đoài vũ trụ khí gió.

Mặt khác như đã biết i cũng diễn bằng hai nọc que nghiêng clip_image047 và có một khuôn mặt biểu tượng cho khí gió. Vì thế ta cũng thấy có khi E diễn tả bằng lá/hoa cây sậy giống hệt như I nghĩa là có một khuôn mặt khí gió: clip_image048.

Như vậy E có thể mang tính chủ là thiếu âm gió trong một hệ thống mẫu tự nào đó.

Ta thấy rõ hơn trong mẫu tự Pheonicia E diễn tả hình cây phướn: clip_image049có một khuôn mặt biểu tượng cho thiếu âm gió.

Lưu Ý.

Xin lưu tâm là nguyên âm I cũng như các nguyên âm khác mang trọn ý nghĩa vũ trụ tạo sinh. Ở đây ta chọn khuôn mặt mang tính chủ thích hợp nhất là thiếu âm.

d. Tượng thái âm.

O biểu tượng cực âm cũng có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng thái âm. Ở đây a có một khuôn mặt nòng O thái âm do hai nòng OO chập lại.

(xem bài viết riêng Nguyên Âm O).

Như thế nguyên âm mang trọn ý nghĩa vũ trụ tạo sinh.

Để dễ hiểu và dễ nhớ ta đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt. A cực dương có một khuôn mặt ứng với Viêm Đế và O cực âm có một khuôn mặt ứng với Thần Nông của Viêm Đế-Thần Nông nhất thể (một cá nhân, đấng tạo hóa nhất thể, lưỡng tính phái). A với khuôn mặt tượng thái dương ứng với Viêm và với khuôn măt tượng thiếu dương ứng với Đế. O/U với khuôn mặt tượng thái âm ứng với Thần và O

với khuôn mặt tượng thiếu âm ứng với Nông.

Những nhóm nguyên âm nầy gồm tất cả các dạng nòng nọc (âm dương) như sau:

A I (Y) E O (U, V, W).

Trong Việt ngữ

A (Ă, Â) I (Y) E (Ê) O (Ô, Ơ) U (Ư).

Như thế nhìn dưới diện tổng thể các nguyên âm A, E, I, O (U) có một khuôn mặt diễn tả vũ trụ tạo sinh.

Các Dạng Mang Tính Nòng Nọc Khác Của Các Nguyên Âm.

Các nguyên âm mang tính nòng nọc (âm dương) khác nhau trong cả hệ thống mẫu tự ABC hay trong riêng khâu của mỗi nguyên âm ví dụ như:

.Của A.

Thấy rõ trong Việt ngữ là Ă và Â.

.Của E.

Thấy rõ trong Việt ngữ là Ê.

.Của I.

Thấy rõ trong Việt ngữ là Y.

.Của O.

Thấy rõ trong Việt ngữ là Ô, Ơ.

.Của U.

Thấy rõ trong Việt ngữ là Ư.

II. PHỤ ÂM TRONG MẪU TỰ ABC HIỆN NAY.

Nguyên âm đã mang tính nòng nọc (âm dương) thì hiển nhiên phụ âm là ‘con cháu sinh sau đẻ muộn’ của nguyên âm phải có tính nòng nọc (âm dương). Bằng chứng thấy rõ nhất trong các linh tự Ai Cập cổ có hai chữ M, hai chữ N… Chữ M hình con cú clip_image050 là loài mãnh cầm mang dương tính và chữ M hình chiếc cầu (thật ra trong giống cái hang) clip_image051 mang âm tính. Chữ N vương miện kép clip_image053 mang lưỡng hợp nòng nọc (âm dương) và chữ n chuỗi sóng tròn đầu mang âm tính còn chữ N chuỗi sóng nhọn đầu mang dương tính…

. Sự Khai Sinh Ra Phụ Âm.

Phụ âm là âm phụ của nguyên âm do nguyên âm sinh ra. Ngôn ngữ trẻ thơ từ khi mới lọt lòng giống hư loài vật chỉ là những âm thanh do nguyên âm tạo thành. Về sau lớn thêm ngôn ngữ mới có phụ âm.

Những từ đơn vận do một nguyên âm sinh ra có thể coi là những gốc cho những từ đa vận có phụ âm. Sự tiết hợp (articulation) của ngôn ngữ là một tiến trình tân tiến hóa của sự sinh tạo ra ngôn ngữ. Các từ đa vận có phụ âm đã là các từ có tiết hợp phức tạp, đã hoàn thiện, đã tân tiến không phải là cổ sơ như từ nguyên âm.

Nguyên âm có thể thấy ở dạng chuyển qua các từ bán nguyên âm-bán phụ âm như O = U = V = W và I = Y (V, W, Y có thể coi là có một khuôn mặt bán nguyên âm, bán phụ âm rồi chuyển qua phụ âm hoàn toàn nên trong nhiều hệ thống mẫu tự ABC các chữ V, W, Y được xếp vào nhóm phụ âm). Một ví dụ tiêu biểu là trong ngôn ngữ trẻ sơ sinh hay trẻ em chưa có răng có những âm coi như thuần nguyên âm, chưa có phụ âm lúc này dùng nguyên âm môi. Về sau mọc răng mới nói các nguyên âm hay phụ âm môi-răng. Nguyên âm U theo sự tăng trưởng của trẻ em trở thành bán nguyên âm V rồi sau đó thành phụ âm B, M hoàn toàn.

Theo hệ thống ABC của chữ Việt hiện nay ta có các phụ âm theo thứ tự: B, C, D, Đ, G, H, K, L, M, N, P, Q, R, S, T, V, X, Y.

Sau đây là một vài ví dụ nguyên âm U chuyển qua phụ âm.

Lưu Ý.

Vì thế tôi viết các từ phụ âm dựa vào sự phụ âm hóa của nguyên âm. Như đã biết hai từ căn bản của chữ nòng nọc vòng tròn-que tức chữ viết loài người là Nòng O và nọc A.

Vì nguồn cội của vũ trụ tạo sinh là hư vô diễn tả bằng nòng O nên tôi lấy nguyên âm O làm gốc nghĩa là theo duy âm. Tuy nhiên mẫu tự ABC có A đứng đầu mà A mang dương tính nên tôi lấy khuôn mặt dương của âm tức nòng âm thái dương của O là U và V làm điểm gốc trong hệ thống mẫu tự ABC có A dương đứng đầu.

Nếu áp dụng luật chữ câm vào chuyển hóa này thì khi phụ âm câm sẽ hoàn nguyên trở về nguyên âm cũ. Ví dụ U chuyển qua V như U (vú) = Vú với V câm ta trở về U.

Phụ âm Nhìn Dưới Lăng Kính Vũ Trụ Tạo Sinh, Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que.

Để thấy rõ phụ mang tính nòng nọc (âm dương) giống như chữ nòng nọc vòng tròn-que chúng ta hãy duyệt qua các qui trình sinh tạo của vũ trụ tạo sinh.

Hư vô.

.Phụ âm v, V.

Phụ âm V do nguyên âm O sinh ra thấy rõ qua V = W = O như thấy qua linh tự Ai Cập: clip_image054.

Qua từ đôi Việt ngữ vú vê ta có Vú = V (vê). Người Trung gọi mẹ là Vú, người Bắc gọi mẹ là U. Ta có U = Vú = V. Phương ngữ Huế O là mụ, mệ hàm nghĩa mẹ. Vậy U = V = O (như đã biết U là V là dạng nọc thái dương của O).

Chữ V là một phụ âm hay một bán nguyên âm-bán phụ âm. Khuôn mặt bán phụ âm-bán nguyên âm này thấy rõ qua V = U (nguyên âm). Ví dụ V, U trong chữ cổ đại Mu U là U trong Anh ngữ hiện nay:

clip_image056

Như vừa nói ở trênt V là dạng thái dương hóa của O, là dạng âm nam thái dương của O.

O có một khuôn mặt biểu tượng hư vô. Như vậy hiển nhiên V có một khuôn mặt biểu tượng hư vô của khâu O âm nam thái dương.

Thái cực.

Ví dụ phụ âm S thấy trong đĩa thái cực của Đạo giáo clip_image058. Chữ S có hai mặt: mặt đen phía bên đen mang âm tính và mặt trắng phía bên trắng mang dương tính. S có một khuôn mặt nhất thể là thái cực.

Lưỡng nghi.

.Cực dương.

Ví dụ

-Phụ âm L.

.Ở dạng chữ cổ Mu

clip_image060

Ta thấy L diễn tả bằng hình vòng tròn O trong có hình vòng tròn nhỏ. Nếu coi vòng tròn nhỏ là một dấu nòng vòng tròn rỗng có một nghĩa là nguyên tạo và vòng tròn lớn theo duy dương là đĩa mặt trời ta có mặt trời nguyên tạo. Như thế L có một nghĩa là mặt trời nguyên tạo tức có một khuôn mặt biểu tượng nọc, lửa thái dương, cực dương.

.Khuôn mặt thứ hai của L là hình mũi mác < có một nghĩa nọc, dương, thái dương biểu tượng cho nọc, lửa thái dương, cực dương.

.Rõ hơn chữ L Hy Lạp Lambda Λ. Như đã biết nọc mũi mác có một khuôn mặt biểu tượng thái dương, cực dương. Như thế rõ như ban ngày chữ L có một khuôn mặt là lửa thái dương biểu tượng cho tượng thái dương.

.Trong Việt ngữ L mang dương tính, trong khi N mang âm tính (như nác là nước âm, lạc là nước dương thấy qua tên Lạc Long Quân là Vua Rồng Nước dương). L cũng thấy khởi đầu của các từ chỉ ánh sáng, lửa, mặt trời như trong Việt ngữ: lửa, lấp lánh, lập lòe.

.Rõ nhất là hình bản đồ tháp Mason ở Washington có hàng chữ LAuSDEO có nghĩa là Xưng Tụng Tất Cả Thánh Thần.

clip_image061

Chữ L diễn tả bằng cây thước thợ (builder’s ruler) như đã biết là một biểu tượng tiêu biểu của Masons.

Đối chiếu với hệ thống nòng nọc vòng tròn-que L là một dạng từ Nọc mũi mác do hai nọc que ghép lại mang tính sinh tạo, tạo hóa thái dương tương ứng với thước thợ Củ của Phục Hy. Thước thợ biểu tượng cho Nọc, dương, lửa, cực dương mang nghĩa kiến tạo có một khuôn mặt lửa tạo hóa, mặt trời, cực dương.

Đối chiếu với hệ thống nòng nọc vòng tròn-que, LauS DEO có chữ đầu tiên L thước thợ là nọc thái dương, Au là ký hiệu của vàng có một khuôn mặt biểu tượng cho mặt trời, lửa thái dương, S có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng nước, D là delta có một khuôn mặt biểu tượng cho đất dương, E có một khuôn mặt biểu tượng cho gió dương và chữ cuối cùng O con rắn Ouroboros có một khuôn mặt biểu tượng thái âm. Ta thấy rõ L có một khuôn mặt biểu tượng thái dương, cực dương và O có một khuôn mặt thái âm biểu tượng cực âm. Nòng nọc (âm dương) O và L giao hòa sinh ra tứ tượng Au, S, D, E (The Lost Symbol và Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que).

Tóm lại L có một khuôn mặt biểu tượng cực dương.

-Phụ âm r, R.

Không có R trong các dạng chữ cổ đại.

Nhưng có trong linh tự Ai Cập R hiện nay cho là hình cái miệng clip_image062.

Ta thấy rõ cái miệng R là một biến thể của linh tự mặt trời tao hóa Re vòng tròn chấm rỗng clip_image064 và mặt trời Ra vòng tròn chấm đặc clip_image066 giống mặt trời nước Osiris clip_image067.

Ta thấy R cái miệng là vòng tròn mặt trời biến dạng thành hình thoi mang âm tính hai mép là hai nọc que mang tính thái dương.

Như vậy R có một khuôn mặt theo duy âm biểu tượng mặt trời nọc âm thái dương ăn khớp với khuôn mặt nọc âm mặt trời Nước của Osiris.

Kiểm chứng với mẫu tự Pheonicia ta có R: clip_image068 mang hình ảnh chiếc tìu, búa mang dương tính, thái dương, mặt trời (Rìu là Việt, mặt trời. Người Việt là Người Mặt Trời) nhưng quay về phía chiều âm tay trái. Vậy R có một nghĩa mặt trời của ngành nòng âm, mặt trời của ngành nọc âm thái dương.

Tóm lại R có một khuôn mặt biểu tượng cho cực dương nhánh nòng âm thái dương.

Ta cũng thấy R = L, rõ nhất người Trung Quốc nói r thành l như fried rice = frice lice. Người Nhật cũng vậy ví dụ nói Kanji (Hán tự) l = r như nói số sáu là rok = lục… Như thế rõ ràng L có một khuôn mặt biểu tượng cực dương nhánh nọc thái dương còn R có một khuôn mặt biểu tượng cực dương nhánh nòng thái dương.

.Cực âm

-/Nhánh nòng âm.

Ví dụ:

Phụ âm S.

Như đã nói ở trên S biểu tượng nước thái âm thấy rõ nhất qua hình tự mây của Maya diễn tả theo hình con rắn.

Theo duy âm chữ S là do một O, hai nòng OO, thái âm hay ba nòng OOO khi chuyển động mở ra. Lúc đầu khi mới chuyển động mở ra hai đầu móc cong còn giữ ở dạng vòng tròn clip_image069.

Chữ S hình sóng hai đầu hình móc nước cuộn tròn clip_image069[1] là hình ngữ có một nghĩa diễn tả nước chuyển động.

Hình sóng cuộn đầu chữ S này thấy nhiều trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn dưới nhiều dạng:

.Hình thái chữ S sóng cuộn hai đầu hai vòng tròn kín clip_image070 như thấy ở trang phục đầu người chèo thuyền số 6 trên trống Ngọc Lũ I.

clip_image071

Thuyền số 6 biểu tượng cho tộc Tốn-Chấn trên trống Ngọc Lũ I (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Như đã biết, thuyền số 6 là thuyền tộc Tốn/Chấn có một khuôn mặt nước dương, chuyển động, nước thái âm ngành thái dương.

Phần sau trang phục đầu người chèo thuyền có phần dưới hình hộp chữ nhật có nghĩa là không gian O thể điệu hóa.

clip_image073 

Trong hộp không gian có hình sóng cuộn kín, hai vòng tròn ở đầu trong có bỏ hai dấu nọc chấm đặc nguyên tạo có một nghĩa là dương. Hình sóng mang nghĩa nước, hai chấm là thái dương. Hình sóng cuộn kín có hai nọc chấm đặc là Chấn, nước dương, nước thái dương.

Hiển nhiên sóng cuộn kín hai đầu là sóng nước thái âm do từ nòng hai OO chuyển động mở ra tạo thành. Rõ như ban ngày người chèo thuyền này thuộc tộc mặt trời nước Chấn (Ý Nghĩa Hình Thuyền Trên Trống Đồng).

.Chữ S dấu ngã.

Tiếp tục chuyển động nữa hai đầu vòng tròn mở ra thành hình móc câu, móc nước, sóng cuộn nên ta có sóng chữ S hình dấu ngã clip_image074.

Điểm này thấy rõ chữ S nằm hình sóng cuộn mở cũng diễn tả dưới dạng rắn chuyển động như thấy qua hình tự mây, dạng nguyên thể của mưa, nước của Maya như đã nói ở trên.

Dạng này cũng được diễn tả bằng chuỗi sóng tròn đầu mang âm tính do các sóng này kết lại thành chuỗi sóng: clip_image075

Như vậy chữ S có một khuôn mặt là nước nòng âm biểu tượng cho cực âm ngành nòng âm.

Phụ âm n, N.

N trong các chữ cổ đại:

clip_image077 

Ta thấy N được diễn tả dưới ba dạng: sóng chữ S hai đầu cuộn tròn, chuỗi sóng tròn đầu như chữ S và hình gạch ngang có thể là dạng dương hóa cực đại của nòng O, OO hay OOO diễn tả nước thái dương như thấy trong các hình thái diễn tả không gian hay diễn tả nước có mặt bằng tĩnh lặng như ao hồ đất bằng thế gian.

Như vậy N là hậu duệ của S.

Ta cũng thấy khi chữ S sóng tròn dương hóa có góc cạnh, nhọn đầu mang dương tính như thấy qua chữ S Pheonicianclip_image078. Chuỗi sóng S âm tròn đầu nói trên khi dương hóa cực đại thành chuỗi sóng nhọn đầu mang tính thái dương như thấy qua linh tự Ai Cập N.

clip_image079 

Chữ N gợn sóng nhọn đầu rất cổ đại thấy qua nhãn (label) của Pharaoh Den, Triều Đại thứ I.

clip_image081 

Chữ N gợn sóng nhọn đầu rất cổ đại thấy qua nhãn (label) của Pharaoh Den, Triều Đại thứ I (nguồn: Wikipedia).

Đây là dạng N nước thái dương nhánh nòng âm.

Và chữ S gẫy nhiều khi ở vị trí hình chữ N như thấy trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn. Ví dụ Chữ N dạng con rắn chữ S mang dương tính hình gẫy khúc thấy ở dạng chữ N mập clip_image082 nước thái âm mang tính thái dương, lửa thấy ở vùng tứ hành ở trống Ngọc Lũ I.

clip_image083Vùng tứ hành trên trống Ngọc Lũ I.

Chữ N mập nước thái âm, Khôn chuyển động ngành thái dương này ôm tia chớp chữ S gầy gẫy ba khúc tức ba nọc que lửa thái dương Càn clip_image084 ở dạng lưỡng hợp Chấn thái âm Khôn ngành thái dương với Càn thái dương (Chữ Nòng Nọc vòng tròn-Que: Từ Hai Vòng Tròn).

Kiểm chứng lại ta cũng thấy James Churchward, trong The Sacred Symbols of Mu xác thực N là hậu duệ của S:

clip_image086

Chữ N, biểu tượng mẫu tự cho Con Rắn Tạo Hóa (James Churchward, The Sacred Symbols of Mu).

Như đã biết rắn có một khuôn mặt biểu tượng cho nước. Như thế S là tiền thân của N có một khuôn mặt là nước thái âm.

Ta cũng đã thấy rõ N có bản thể nước có hai khuôn mặt nòng nọc (âm dương) là N sóng nhọn đầu clip_image087diễn tả nước thái âm ngành nọc dương thái dương và n sóng tròn đầu clip_image089 diễn tả nước thái âm ngành nòng âm thái âm.

Như vậy cũng như các phụ âm khác chữ N mang trọn ý nghĩa vũ trụ tạo sinh tuy nhiên N có bản thể gốc là Nước.

Ta thấy rất rõ các từ nước hay liên lệ với nước trong nhiều ngôn ngữ thế giới đều khởi đầu bằng chữ n, N, ví dụ Việt Nam: nã (nước lã), nà (ruộng nước), nạ (thủy quái), nác, nước, nấu (bằng nước), nát (nhão vì nhiều nước), nát tan (tan trong nước), nậm, nầm, nước (bầu nậm)… ; Thái ngữ nam, nước (sông Menam: sông Mẹ Nước); Ainu ngữ nai (tiếp vĩ ngữ) chỉ sông, rạch; Ai Cập ngữ nahar: sông, nag: làng (làng xóm có gốc từ một bến nước); DoThái ngữ nahar, sông; Ấn-Âu ngữ nation (nước, nguyên thủy là chỗ ở bên bờ nước), navy (hải quân), navigation (thủy vận, thủy hành)… ; Thổ dân Mỹ châu Navajo na, sông, nước;  Úc châu: ngôn ngữ Pama-Nyungan: ni, sữa; Phi châu: Sudan, tộc Ouolofs: ndokh, nước [biến âm với Việt ngữ nốc (uống như nốc rượu), nác, đác là nước], v. v… Ngoài ra ta cũng thấy Việt ngữ nếp (gạo có nhiều nhựa) liên hệ với Nep(tune), Thần Biển, gốc nep(hro-) thận, cơ quan làm ra nước tiểu (Tiếng Việt Huyền Diệu).

Tóm lại S, N có một khuôn mặt nước thái âm biểu tượng cho cực âm. Nếu n, s mang âm tính thì biểu tượng cho cực âm thái âm còn nếu mang tính thái dương thì biểu tượng cho cực âm nhánh nòng âm mang tính thái dương.

Tứ tượng.

a. Tượng thái dương.

.Phụ âm l, L biểu tượng cực dương cũng có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng lửa thái dương trong tứ tượng dương ngành thái dương.

.Phụ âm r, R biểu tượng cực dương cũng có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng lửa thái dương trong tứ tượng âm ngành thái dương.

b. Tượng thái âm.

S, N, biểu tượng cho cực âm cũng có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng thái âm.

.Phụ âm s, S biểu tượng thái âm trong tứ tượng âm.

.Phụ âm n, N biểu tượng thái âm trong tứ tượng dương.

c. Tượng thiếu dương.

Phụ âm T, d.

clip_image091

Trong các chữ cổ đại Mu và Maya T được diễn tả bằng:

-chữ T.

-chữ clip_image092, sau này còn thấy trong linh tự Ai Cập T và được cho là diễn tả bằng hình ổ bánh mì clip_image093. Ổ bánh mì là tế thực dâng cúng tam thế nên mang hình ảnh trục thế giới thấy rõ nhất ở dạng linh tự dee hình delta.

clip_image095 

Dee cũng là tế thực ổ bánh mình hình núi tháp mang hình ảnh núi tháp trụ, trục thế giới.

Ta thấy rõ T và D (dee) ruột thịt với nhau.

Như thế ổ bánh mì T hình vòm tròn phải hiểu là có một nghĩa là núi âm tròn đầu tức non biểu tượng cho đất dương phía nòng âm. Vì thế T còn có một nghĩa chỉ phái nữ ví dụ như các thần nữ Ai Cập cổ đều tận cùng bằng chữ T như thần nữ bầu trời NuT (tên thật sự là Nu-T) tương ứng với từ Thị (Nguyễn Thị Mẹt) của Việt ngữ. Thị phái nữ liên hệ với non (núi âm) thuộc nhánh thái dương thần nữ Âu Cơ. Bà có một khuôn mặt là non (dắt 50 con lên non). Các Thị của Việt Nam là con cháu thuộc tộc non dòng thái dương thần nữ Âu Cơ.

-Chữ tam giác clip_image096.

Như đã biết từ tam giác có một khuôn mặt là núi tháp biểu tượng cho đất dương thái dương. Chữ này còn dùng lại trong mẫu tự Hy Lạp gọi là delta clip_image098(xem dưới).

Cả ba dạng chữ T này diễn tả Đất ngành nọc thái dương tức có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng thiếu dương Đất.

.Chữ d, D, delta.

-Chữ d.

Ở đây d= đ Việt ngữ. Đá, đất trong Việt ngữ khởi đầu bằng chữ đ. Giải tự tách chữ d thường ra ta có một que nọc (I) cắm trên nòng (O). Phần nọc que ở trên mang hình ảnh trụ chống, hình cây đa còn phần nòng O ở dưới mang hình ảnh gò đất. Đây là hình ảnh miếu thổ thần cây đa trồng trên gò đất tròn ở ngoài đồng, thường thấy ở Bắc Việt Nam. Như thế d có một khuôn mặt biểu tượng cho đất. Kiểm chứng lại bằng cách đọc theo dịch học từ dưới lên ta có d= OI, tức thiếu dương, nguyên thể của đất, biểu tượng cho núi, đất.

-Chữ delta clip_image099.

Hy Lạp ngữ delta ∆ mang hình ảnh núi tháp nhọn có một nghĩa biểu tượng núi tháp trụ biểu tượng tượng Đất thế gian ví dụ thấy trong câu LAuS DEO có nghĩa là Xưng Tụng Tất Cả Thánh Thần đã nói ở trên, có phụ âm D hình delta.

clip_image061[1]

Delta có một khuôn mặt là núi kim tự tháp biểu tượng cho tượng Đất dương, tượng thiếu dương nằm trong tứ tượng (Au là vàng, tượng thái dương Lửa, Sigma, tượng thiếu âm Gió, delta tượng thiếu dương Đất và E, tượng thái âm, Nước).

Ngoài ra chữ T trong mẫu tự Pheonicia diễn tả bằng hình chữ X: clip_image100 . Như đã biết hình ngữ cổ X có một nghĩa là nơi, chỗ, địa điểm, xứ sở… liên hệ với đất. Ngày nay vẫn dùng dấu X để chỉ một nơi nào đó.

Trong chữ nòng nọc vòng tròn-que từ T còn có một khuôn mặt biểu tượng cho trụ chống trời, trục thế giới (Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que: Từ Hai Nnọc Que Chữ T).

Như vậy d, D có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng thiếu dương đất.

d. Tượng thiếu âm.

.Phụ âm CH, KH.

Ta có CH = KH như chênh = kênh.

CH, K, KH trong chữ viết cổ đại Mu, Maya, Ai Cập diễn tả bằng hình vòm không gian vòm trời clip_image102.

clip_image103

Hình vòng trời là do hai nòng OO chuyển động mở ra có một khuôn mặt là Khôn dương, thiếu âm, khí gió.

Rõ hơn thấy qua từ clip_image104 với KH diễn tả bằng hình vòm trời kép, như đã biết có một khuôn mặt thiếu âm khí gió.

Về sau ta có linh tự Ai Cập Kh diễn tả bằng hình vòng tròn có các sọc ngang song song clip_image106  mà theo các nhà Ai Cập học hiện nay cho đây là hình lá nhau (placenta).

Theo tôi, không hẳn vậy. Vòng tròn có những sọc song song nằm ngang biểu tượng cho hư không, không gian. Hư không có một khuôn mặt là nguồn cội sinh tạo, tạo hóa. Hiểu theo nghĩa ‘lá nhau’ là hiểu theo nghĩa suy diễn sinh tạo này của hư vô, hư không, không hiểu theo nghĩa gốc nguyên thủy của Kh, hiểu theo duy tục.

Bằng chứng cụ thể nhất thấy qua hình ngữ KHAN ở trên, chữ KH được diễn ta bằng hình vòm kép mang nghĩa khung, vòm không gian, vũ trụ hay trời. Rõ hơn nữa là qua linh tự kher có nghĩa là trên, bên trên, trên cao.

clip_image108Linh tự Ai Cập cổ kher có nghĩa là “above”, “over”.

Ta thấy rất rõ vòng tròn có những sọc ngang song song Kh có một khuôn mặt biểu tượng cho không gian âm đi cặp đôi với hình ngữ chữ R hay mặt trời sinh tạo, Tạo Hóa Ra, mặt trời vũ trụ, hư không. Kh với nghĩa là không gian nên kher mới có nghĩa là “above”, “over”. Một lần nữa ta thấy các học giả thế giới ngày nay không dựa vào chữ nòng nọc nên đã diễn giải cổ sử thế giới đi lệch lạc hay theo những nghĩa duy tục ngày nay. Ta cũng thấy Kh trong Việt ngữ cũng có nghĩa là không (tức trống không, hư không). Áp dụng phương pháp giải phẫu hay hiện tượng chữ câm (Tiếng Việt Huyền Diệu), từ không với k câm còn lại hông, hổng có nghĩa là không như hổng thèm; với h câm còn lại kông, cong, còng (vòng tròn, có nghĩa không); với n câm, còn lại khôg tức cóc có một nghĩa là không như cóc cần, cóc biết; với g câm còn lại khôn cũng có nghĩa là không như khôn lường; nếu kh câm còn lại ông cũng có nghĩa là không như ông xôi là rau muống, loại rau trống rỗng, trống không; như thế nếu ông câm, còn lại kh thì cũng có nghĩa là không, giống như nghĩa của linh tự Ai Cập cổ kh.

Tóm lại mẫu tự Kh là vòng tròn Không (gian) theo duy dương là không gian dương, khí gió.

Tam thế.

Thấy qua linh tự Ai Cập N hình vương miện đỏ clip_image053[1]vùng châu thổ sông Nile của Ai Cập Hạ:

hình móc sóng cuộn biểu tượng cõi nước chuyển động mang dương tính. Chóp vương miện hình nọc mũi mác mang tính thái dương biểu tượng cõi trời lửa thái dương. Phần vương miện hình ngai biểu tượng cõi đất. Như thế linh tự này diễn tả tam thế của đại tộc nước Ai Cập Hạ.

Trục thế giới.

Như đã nói ở trên phụ âm T có một khuôn mặt là trục thế giới (Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que: Từ Hai Nọc Que Chữ T).

Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống).

Như đã biết phụ âm T cũng có một khuôn mặt là cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) (Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que: Từ Hai Nọc Que Chữ T).

Tóm lại cũng như nguyên âm các phụ âm cũng mang tính nòng nọc (âm dương), mang trọn nghĩa vũ trụ tạo sinh, dịch học.

Nguyên thủy có thể chỉ có những phụ âm chính đáp ứng với tính nòng nọc (âm dương) của các khuôn mặt chính của qui trình vũ trụ tạo sinh, dịch học. Về sau vì nhu cầu phát triển của tiếng nói hay biến đổi theo tiếng nói của từng tộc, từng vùng các phụ âm phụ hay các biến dạng xuất hiện. Các phụ âm phụ này có thể chính là biến dạng của phụ âm chính ví dụ chữ b Việt ngữ = chữ p Mường ngữ hay là biến âm ruột thịt với nhau ví dụ d=t (qui luật Grimm), như đã nói ở trên l=r như thấy trong tiếng Hán (người Trung Quốc nói r thành l như fried rice = frice lice. Người Nhật cũng vậy ví dụ nói Kanji (Hán tự) l = r như nói số sáu là rok = lục…

Mỗi ngôn ngữ có tính nòng nọc (âm dương) khác nhau của dân tộc nói tiếng đó nên phụ âm trong mỗi tộc ngôn ngữ mang tính chủ khác nhau. Ta phải dựa vào bản thể gốc chính nguyên thủy của mỗi phụ âm để phân nhóm.

Kết Luận.

Các hệ thống mẫu tự ABC hiện nay là di duệ của hệ thống chữ nòng nọc vòng tròn-que. Nói một các khác các mẫu tự ABC mang tính nòng nọc (âm dương). Một nguyên âm hay một phụ âm có thể có trọn vẹn ý nghĩa của vũ trụ tạo sinh trong tổng thể hệ thống mẫu tự và cả trong khâu riêng của nó. Nó có thể có nhiều khuôn mặt nòng nọc (âm dương) khác nhau trong khâu riêng của nó. Ví dụ thấy rõ trong Việt ngữ chữ a có các âm a, ă, â với a, ă, â có tính nòng nọc (âm dương) khác nhau.

Tùy theo ngôn ngữ thuộc vào tộc, nhánh, ngành nào mang tính nòng nọc (âm dương) theo ở vị trí nào của qui trình vũ trụ tạo sinh, hệ thống mẫu tự ABC của ngôn ngữ đó có những mẫu tự mang tính nòng nọc (âm dương) chủ của riêng nó.

Những hệ thống mẫu tự có chữ A mang tính nọc thái dương đứng đầu thì hệ thống đó thường theo duy dương hay thuộc ngành nọc dương thái dương.

Dựa vào tính nòng nọc (âm dương) của mẫu tự ABC ta có thể truy tìm ra hệ thống chữ viết ABC của một ngôn ngữ của một đại thuộc về ngành nhánh nào trong vũ trụ giáo.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: