ẤN ĐỘ: HANG ĐỘNG PHẬT GIÁO AJANTA, (Phần 4 và hết): NHÓM HANG KIẾN TRÚC THỜ TỰ (CHAITYA).

.*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài.

.Phải tuân thủ luật Tác quyền Copyright.

ẤN ĐỘ: HANG ĐỘNG PHẬT GIÁO AJANTA, Ở AURANGABAD.

(Phần 4 và hết).

NHÓM HANG KIẾN TRÚC THỜ TỰ (CHAITYA).

Nguyễn Xuân Quang.

Như đã biết trong 30 hang động ở Ajanta, hang số 9, 10, 19, 2629 là các hang thờ tự chaitya. Chaitya là nơi dùng thờ Phật, tụng niệm, tĩnh tâm và thiền định, là đền, chùa, chiền, tự. Ta cũng biết chaitya có gốc Phạn ngữ Chita là pyre (lửa, dàn hỏa táng) hay ‘pile of as’h (đống tro than). Như thế ta thấy rõ chai– ruột thịt với Việt ngữ cháy (cháy có lửa, có tro than). Ta cũng thấy chaitya ruột thịt với caitya có nghĩa là gò đống, đài, tháp Phật (stupa), trụ kim tự tháp nơi chôn tro than người chết, liên hệ với chôn cất, mai táng. Như vậy chaitya nguyên nghĩa là lửa, hỏa táng, tro than sau có thêm nghĩa nơi chôn cất tro than người chết như gò, đống, đài, tháp. Cuối cùng chỉ nơi thờ tự.

Vì thế một nơi thờ tự chaitya Phật giáo đúng nghĩa thường phải có tháp Phật stupa.

Tóm lại trong Phật giáo chaitya là chỗ thờ tro than và xá lợi Phật chôn trong các gò đống, đài, tháp stupa. Vì thế thường dịch stupa là bảo tháp.

Về sau chaitya trở thành nơi thờ tự Phật giáo.

Thấy một kiến trúc Phật giáo có tháp Phật thì đó là một chaitya. Ở quần thể hang động Ajanta này, đứng từ xa nhìn thấy hang nào có mái vòm ta biết ngay đó là một hang thờ tự chaitya.

clip_image002Đứng từ xa nhìn thấy hang nào có mái vòm ta biết ngay đó là một hang thờ tự chaitya (ảnh của tác giả).

Ta thấy rõ ở trên sơ đồ:

clip_image004Các hang 9, 10, 26 có mái vòm là các hang thờ tự chaitya, các hang còn lại hình trụ vuông có mái bằng là các tu viện vihara (nguồn: John De La Plante, Asian Art).

Tại sao các chaitya có mái vòm? Như đã biết các hang tu viện có mái bằng, phòng cột chính thường có hình vuông vì tu viện là chỗ ở, giảng dậy cho các tu sĩ thuộc cõi thế gian (đất vuông). Trong khi hang thờ tự chaitya thờ Phật và các chư thiên thuộc cõi vũ trụ, cõi trời nên có mái vòm (trời tròn) mang ý nghĩa vũ trụ, tạo hóa.

Ở đây các hang động thờ phượng chaitya có trần mái vòm trong có tháp Phật.

Vì thế bước vào một hang thờ tự chaitya ta có cảm tưởng như bước vào trong một ngôi mộ có mái vòm hình trứng biểu tượng bầu vũ trụ, bầu trời ứng với thái cực mang nghĩa tạo hóa. Trong ngôi mộ này có tháp Phật, nguyên khởi chôn di hài (tro, xá lợi Phật). Tháp coi như là một chiếc ‘tiểu đá’, một chiếc bình mai táng (funeral urn), một thứ quan tài đá dùng chôn di hài Phật. Tháp Phật, một chiếc bình mai táng, ở trong lòng nhà mồ vũ trụ mang trọn vẹn ý nghĩa vũ trụ quan của vũ trụ giáo.

Trong các nền văn hóa nguyên sơ của loài người, từ khi còn thờ đa thần, bái giáo, thờ thiên nhiên, trời đất cho tới về sau thờ vũ trụ, theo vũ trụ giáo hay bị ảnh hưởng của vũ trụ giáo, người chết được chôn trong các mô đất, các gò đống hình vòm như ở Bắc Mỹ châu có các tộc Xây Đắp Gò Đống (Mound Builders), Việt Nam có Gò Đống Đa, Gò Đống Lã, Gò Đống Anh, Gò Đống Hoa. Các tộc khác chôn người chết trong các giỏ cây hình tròn hay hình trứng như Ai Cập cổ, trong các chum, vò bằng đất nung, đá như ở Cánh Đồng Chum, Lào, trong các thạp đồng hình trứng, trong trống đồng hình cây Nấm Vũ Trụ của đại tộc Đông Sơn (lúc này chúng ta gọi là nấm mồ)… Những mồ chôn này mang ý nghĩa biểu tượng dạ con vũ trụ, hư vô, trứng vũ trụ để người chết được trở về với hư vô, với lòng vũ trụ, với đấng tạo hóa, hầu mong được tái sinh hay về miền vĩnh cửu, vĩnh hằng.

Ở Việt Nam ngôi mộ từ khởi thủy cho tới ngày nay là một mô đất gọi tên là mồ, mộ (biến âm mẹ con với mô) có mái vòm, ngày nay có mái vòm hình trứng giống như hang thờ phượng chaitya ở đây. Ở Mỹ ngày nay các ngôi mộ có mái bằng với mặt đất và không có bia để tránh gây ra buồn phiền (distress) và mất mỹ quan, nhất là cho những người ở quanh nghĩa trang. Thật ra cách chôn Tây phương này vẫn còn giữ ý nghĩa của truyền thống cũ. Mồ tuy bằng phẳng nhưng quan tài ở Mỹ có mái vòm, trong khi mộ ở Việt Nam có mái vòm nhưng quan tài có mặt bằng, cả hai đều có vòm hình trứng, đều có vũ trụ quan giống nhau.

Trong Phật giáo, ý nghĩa của một tháp Phật chôn di hài Phật cũng có cùng một ý nghĩa như các tộc theo vũ trụ giáo chôn tro than người chết trong gò đống, chum vại, thạp vò, mồ mả hình cầu tròn, hình trứng biểu tượng bầu, túi, dạ con vũ trụ và vũ trụ. Vì thế các tháp Phật nguyên khởi cũng có hình bầu tròn, cầu tròn, hình trứng như tháp Phật giáo cổ Sanchi chẳng hạn và ngay cả các tháp Phật ở đây cũng vậy.

Như thế mồ tháp Phật là con cháu của gò đống, mồ mả thời tiền-Phật giáo.

Lưu Ý.

Cũng cấn biết là Phật là tôn giáo mang âm tính theo Vũ trụ giáo phía nòng âm Vũ của Vũ Trụ nên có các nơi thờ tự mái vòm Vũ trong khi các tôn giáo khác mang dương tính theo vũ Trụ giáo phía nọc dương như Thiên Chúa giáo có nhà thờ mái tháp nhọn Trụ. Điểm này thấy rõ trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn như trên trống Ngọc Lũ I và các trống họ hàng các nhà thờ phượng nọc dương, mặt trời có hai đầu mái nhọn mũi đao, trong khi các nhà thờ phượng nòng, âm, không gian có mái hình vòm:

NHA NONG

Một ngôi nhà thờ tự  phía nòng, âm, không gian trên trống Ngọc Lũ I có mái vòm giống như một chaitya, một tháp stupa bầu tròn (xem dưới) của Phật giáo vì trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn là trống biểu của vũ trụ giáo và Phật giáo là di duệ của vũ trụ giáo.  

Ngoài ra ta cũng đã biết các tháp Chăm như thấy ở Tháp Bà Nha Trang và các đền Ấn giáo ở Nam Ấn có mái hình vòm ngói ống, Tây phương gọi là mái thùng rượu (barrel) cũng mang âm tính, vì các kiến trúc Chăm phía Vishnu và Ấn giáo Nam Ấn đều mang tính nòng âm của của vũ trụ giáo. 

Ý Nghĩa Một Tháp Phật Stupa.

Vì tháp Phật là chủ thể của hang thờ phượng chaitya nên xin nhắc lại một chút về tháp Phật stupa mà tôi đã viết rất rõ qua bài viết: Phật Giáo: Ý Nghĩa Tháp Phật (xem bài viết này).

Ở đây chỉ xin nhắc lại vài điểm chính yếu.

Tháp Phật Anh ngữ gọi là stupa, Ấn-Độ, Nepal là chaitya, Tây Tạng là chorten (dễ nhớ vì có cho- cùng âm với tro), Tích Lan là dagoba (từ này đẻ ra từ pagoda vì thế ở nhiều nơi gọi tháp là pagoda như ở Đại Hàn và nhiều pagoda hiểu theo nghĩa chùa làm theo hình tháp Phật), Thái Lan là chedi. Tháp stupa biến thành tappa trong Phật giáo rồi thành tap. Đại Hàn là t’ap, Việt ngữ là tháp, Lào là thâat, Nhật Bản là to, tiếng Hán là ta, Nam Dương là candi hay chandi…

Thoạt khởi đầu trong tháp Phật để tro than, xá lợi Phật. Đây là những tháp Phật linh thiêng nhất và có ý nghĩa nhất vì tro than, xá lợi Phật chỉ chia ra chôn ở 8 nơi. Đây là 8 địa điểm trọng đại trong đời sống Phật ở Ấn Độ. Con số 8 có nhiều nghĩa, trong Phật giáo có thể liên hệ với Bát Chánh Đạo, tám hướng vũ trụ (bốn phương, tám hướng). Hiểu theo vũ trụ tạo sinh, dịch học thì ứng với tám quẻ (bát quái) sinh ra vũ trụ, thế giới, tam thế… Nói gọn lại di hài Đức Phật được truyền ra khắp vũ trụ thế giới.

Về sau những nơi không có tro than, xá lợi Phật, thay vào đó có thể để các bảo vật của Phật giáo như tượng Phật (ví dụ như các tháp ở Borobudur, Java, Nam Dương có vòm bầu trống rỗng hình mạng lưới bên trong có tượng Phật ngồi).

clip_image006

Tháp hình chuông có cán, một biến dạng bầu nậm, trong có tượng Phật ở Borobudur, Java Nam Dương.

hay kinh Phật…

Vào thời hiện đại các tháp Phật stupa dùng làm mồ chôn cho cả các tăng ni và ngày nay ở Myanmar, Lào, Thái dùng làm mồ chôn cho giới vương giả, quyền thế, đại gia.

Trong Phật giáo Nguyên thủy (Thevada) tháp là khuôn mặt chính yếu của chùa chiền ví dụ như thấy ở các chùa ở Tích Lan, Myanmar, Thái Lan, Campuchia.

Như đã nói ở trên, tháp Phật vốn là con cháu của các gò đống chôn cất thời tiền-Phật nên ý nghĩa của tháp Phật là sự kết hợp ý tưởng của thời tiền-Phật giáo theo vũ trụ giáo và Phật giáo. Vì thế ý nghĩa tháp Phật cũng mang trọn ý nghĩa vũ trụ tạo sinh của vũ trụ giáo nhưng biến đổi ít nhiều theo giáo thuyết Phật giáo. Ví dụ hãy nhìn vào cấu trúc một tháp Phật.

Về cấu trúc và trang trí, tháp Phật mang trọn vẹn ý nghĩa vũ trụ tạo sinh thấy qua qui trình của vũ trụ tạo sinh: hư vô, thái cực, lưỡng nghi, tứ tượng, tam thế, cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống), trục thế giới, sinh tử, vĩnh hằng. Tác giả Snograss đã vẽ sơ đồ một tháp Phật như sau:

clip_image007(dẫn lại trong Tạ Đức: Nguồn Gốc và Sự Phát Triển của Kiến Trúc, Biểu Tượng và Ngôn Ngữ Đông Sơn).

Tháp có chủ thể là gò đống vòm bán cầu tròn gọi là Trứng (anda) tháp. Theo truyền thuyết sáng thế của Ấn Độ thời tiền Phật, khởi đầu là hư vô. Từ hư vô rơi ra một quả trứng vàng. Trứng dưới dạng nhất thể, nòng nọc, âm dương còn quyện vào nhau có một khuôn mặt thái cực, là Trứng Vũ Trụ. Trứng tách ra hai phần: tròng trắng (cực âm) và tròng đỏ (cực dương) ứng với lưỡng cực, lưỡng nghi. Đến lượt tròng trắng lại tách ra, phía trên trở thành khí gió, phần dưới là biển (nước). Tròng đỏ tánh ra lửa vũ trụ và đất thế gian biểu tượng bằng Núi Vũ Trụ. Khí gió, nước, lửa, đất ứng với tứ tượng. Tứ tượng sinh ra tam thế. Trong sơ đồ trên ta thấy trong trứng tháp có hình tam cấp diễn tả Tam Thế, Núi Tam Thế, Núi Vũ Trụ. Tam thế được biểu tượng bằng Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) mọc trên đỉnh Núi Tam Thế tức chỏm tháp.

Trong Phật giáo tháp Phật mang hình ảnh núi Tu Di, núi Meru hay Sumeru (Ấn giáo cũng có núi Meru, cả hai cùng phát nguồn từ vũ trụ giáo).

Lưu Ý.

Xin đi ra ngoài lề bài một chút để nói tới một điểm quan trọng của văn hóa Việt Nam. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, Tổ Việt là Lang Hùng sinh ra từ bọc trứng thế gian của mẹ tổ Âu Cơ. Bọc trứng thế gian đội lốt trứng vũ trụ. Truyền thuyết Trứng Vàng của Ấn Độ và Bọc Trứng Âu Cơ tương đồng với nhau. Cốt lõi văn hóa Việt là vũ trụ giáo dựa trên nguyên lý nòng nọc (âm dương), Chim-Rắn, Tiên Rồng của vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo, dịch học. Văn hóa Việt Nam và Ấn Độ có một gốc chung theo vũ trụ giáo. Đền Hùng Vương mang ý nghĩa vũ trụ tạo sinh của vũ trụ giáo. Núi Nghĩa Lĩnh mang hình ảnh Núi Vũ Trụ, Núi Thế Gian giống như núi Meru/Kailas. Hai hồ: hồ Thiên Nga có một khuôn mặt biểu tượng cho âm thái dương, Mặt Trời Nữ Âu Cơ  ứng với hồ Mặt Trời Manasanovar và hồ Lạc Long Quân có một khuôn mặt là hồ mặt trăng ứng với hồ Mặt Trăng Rakshastal  ở núi Kailas (xem dưới). Đền Thượng, Trung, Hạ ứng với tam thế…. (xem Cấu Trúc Đền Hùng Vương Phú Thọ).

Như thế văn hóa Việt Nam và Phật giáo cũng có một gốc chung là vũ trụ giáo. Phật giáo đã từng là quốc giáo của Việt Nam như vào thời nhà Lý.

Tại sao Ấn giáo và Phật giáo coi núi Meru là Núi Vũ Trụ, Trục Thế Giới?

Núi Meru được cho chính là núi Kailas ở rặng Tuyết Sơn, Himalaya. Như đã biết trong Ấn giáo Kailas là nơi chôn rau cắn rốn của Shiva. Theo Phật giáo nhất là Phật giáo Tây Tạng Meru/Kailas nằm ở giữa rặng Tuyết Sơn nên là trung tâm hay trái tim của vũ trụ, là trung tâm hay trục của một mandala đại vũ trụ và tiểu vũ trụ.

Núi Kailas tuyết trắng hình bầu tròn, hình trứng là Núi Trứng Vũ Trụ mang trọn vẹn ý nghĩa vũ trụ tạo sinh của vũ trụ giáo. Trứng có một khuôn mặt biểu tượng cho hư vô, thái cực. Kailas có hai hồ. Một là Manasanovar với Manas có nghĩa là Ánh Sáng. Hồ tròn trông như mặt trời tỏa ánh sáng rạng ngời. Hồ thứ hai là hồ Rakshastal hình lưỡi liềm giống mặt trăng lưỡi liềm. Rakshas có nghĩa là bóng tối. Ta thấy rõ hai hồ mặt trời, mặt trăng, ánh sáng, bóng tối mang tính nòng nọc (âm dương) ứng với lưỡng nghi, lưỡng cực.

Từ núi Kailas có 4 dòng sông lớn chẩy xuống Ấn Độ là Brahmaputra, Indus (Sông Ấn), Karmali và Sutlej. Đây coi như là bốn dòng sinh tạo, bốn nguồn sống chính yếu phát ra từ đỉnh núi Kailas. Bốn con sông có một khuôn mặt ứng với Bốn Đại Nguyên Sinh Động Lực (Four Great Primary Forces), Tứ Tượng, Tứ Hành.

Theo Ấn giáo giữa hồ mọc một cây cổ thụ gọi là Cây Vũ Trụ, Cây Tam Thế, Cây Đời Sống.

Ta thấy rõ Kailas có đủ hư vô, thái cực, lưỡng nghi, tứ tượng, tam thế, trục thế giới, cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) mang trọn nghĩa vũ trụ tạo sinh nên được coi là Núi Vũ Trụ, Núi Trụ Thế Gian, Trục Thế Giới của vũ trụ giáo nói chung và vũ trụ quan theo vũ trụ giáo của Phật giáo và Ấn giáo nói riêng.

Meru/Kailas là Núi Vũ Trụ thấy rõ trong truyền thuyết ra đời của Phật Tổ. Theo một truyền thuyết Phật giáo Tây Tạng, Hoàng hậu Maya nằm mơ thấy có bốn người nhà trời đem bà tới tắm tại một hồ nước thiêng ở Himalaya. Khi tắm xong, nghỉ ở bờ hồ, bỗng một con voi trắng sáu ngà từ một đinh núi tuyết trắng trên cao bay xà xuống bên bà. Voi nắm bằng vòi một đóa hoa sen trắng, đi vòng quanh ba vòng rồi nhập vào người bà. Sau đó bà có thai Phật Tổ. Hồ nước thiêng đó là hồ mặt trời Manasanovar và núi tuyết con voi sáu ngà là núi Meru/Kailas.

Các đạo sĩ tiên tri được mời tới để đoán điềm giải mộng và cho rằng Hoàng hậu sẽ sinh ra một hoàng nam. Nếu theo nghiệp cha, hoàng tử sẽ trở thành một vị Đế của tất cả các vương thế gian, một Chakravartin (Người Quay Bánh Xe, Người Lèo Lái, Cai Trị Thế Giới, World Ruler) (Chakra có cha- = xa, xe và -vartin có gốc vartana, turn, có vart- = Việt ngữ vặn). Nếu Hoàng tử đi vào đời sống khổ hạnh thì sẽ trở thành một vị lãnh đạo tôn giáo thế giới (quay Bánh Xe Pháp). Dĩ nhiên các đạo sư này lúc đó là người theo Ấn giáo. Họ dựa vào triết thuyết Ấn giáo trong đó có vũ trụ thuyết của vũ trụ giáo để tiên đoán. Theo tôi, tôi cũng căn cứ vào triết thuyết vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo dựa trên căn bản nòng nọc (âm dương) nhưng theo chính thống của dịch học. Nói vắn gọn vào trọng điểm là, như đã biết, Núi Meru/Kailas là Núi Vũ Trụ ở tâm vũ trụ, mang trọn ý nghĩa vũ trụ tạo sinh là biểu tượng của Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống). Con voi trắng 6 ngà mang hình ảnh Núi Vũ Trụ Kailas nhập vào người Hoàng hậu có nghĩa là cả vũ trụ nhập vào người bà, tất cả tinh anh, tinh túy, tinh hoa của vũ trụ, tam thế, muôn sinh nhập vào bà. Con voi là tiền kiếp Phật (Voi sáu ngà là tiền kiếp Phật cũng thấy rõ qua truyện Truyền Kiếp Phật Con Voi Sáu Ngà Saddanta tự cắt 6 ngà đem ban cho đi vì lòng từ bi, độ lượng, như đã nói ở trên).

Như thế cốt Phật là cốt lõi tinh anh, tinh túy, tinh hoa… của vũ trụ. Phật là vũ trụ. Hoàng hậu Maya đã hấp thu tinh khí thiêng liêng vũ trụ sinh ra Phật Tổ.

Tại sao lại là con voi trắng 6 ngà mà không là con voi đen có hai ngà thông thường? Tại sao không là 4, 8, 12 ngà?

Trước hết tại sao là con voi trắng?

Con voi có một khuôn mặt biểu tượng cho vĩ đại thiêng liêng, mầu trắng có một nghĩa là mầu âm thái dương (khí, gió, không gian dương, Vũ của vũ trụ). Ở đây mang hình ảnh núi tuyết vũ trụ Kailas. Con voi trắng vũ trụ, là tiền kiếp Phật nên Phật giáo là tôn giáo vũ trụ có khuôn mặt Vũ, nòng âm thái dương mang tính chủ như đã biết. Vì vậy con voi trắng là con voi linh thiêng khác con voi đen và là biểu tượng của Phật, Phật giáo (như đã biết Voi Phật giáo bị Sư Tử Ấn giáo thống trị vào thời Ấn giáo Phục Hưng ở các bài viết về Ấn giáo).

Tại sao có 6 ngà?

Ta có 6 = 0 (hư vô, không gian) + 6 (số Tốn OII có một khuôn mặt âm thái dương, mặt trời âm thái dương như Âu Cơ có một khuôn mặt là Nàng O Lửa II tức OII, Tốn, thái dương thần nữ của Việt Nam); 6 = 1 (nhất thể, thái cực) + 5 (số Li, Đất dương, trục vũ trụ, trục thế giới); 6 = 2 (lưỡng nghi) + 4 (tứ tượng); 6 = 3 (tam thế đại vũ trụ) + 3 (tam thế tiểu vũ trụ).

Ta thấy rõ sáu ngà voi bao gồm đủ nghĩa hư vô (0), thái cực (1), lưỡng nghi (2), tứ tượng (4), tam thế (3), trục thế giới (5) bao trọn cả các qui trình vũ trụ tạo sinh của vũ trụ giáo. Ngoài ra còn một con số 3 thứ hai nữa (6 = 3 + 3). Con số ba này là tam thế tiểu vũ trụ. Đó là số 0 với nghĩa âm là cõi nước, số 3 là số Đoài vũ trụ khí gió cõi trời thế gian và số 5 với nghĩa Li là lửa thiếu dương đất thế gian.

Tóm lại con số 6 theo vũ trụ tạo sinh là con số dịch học có nghĩa bao trọn cả đại vũ trụ và tiểu vũ trụ. Phật có bản thể bao trọn cả đại vũ trụ và tiểu vũ trụ. Phật là Phật Người, là Người thành Phật (Manushi), tiểu vũ trụ khi lìa trần gian tro than Phật được chôn ở tâm tháp Phật Núi Vũ Trụ Meru/Kailas. Phật sinh ra từ tâm vũ trụ và khi lìa trần gian trở về nguồn cội ở tâm vũ trụ và giải thoát hoàn toàn ra ngoài vòng luân hồi, về miền vĩnh hằng an lạc.

Điểm này cũng thấy rõ qua thuyết Tam Thân Phật (Three Bodies of the Buddha). Phật có bản thể, cội nguồn sinh ra từ Thân Tinh Anh, Tinh Hoa (Body of Essence) hiện hữu ở tâm vũ trụ. Phật sinh ra từ khí thiêng vũ trụ. Phật Tổ là vũ trụ thấy rõ qua hình ảnh Phật Vũ Trụ Vairocana (Universal Buddha) (có một khuôn mặt là Đại Nhật Như Lai), một “thân thật” (“truth body”), chân như, pháp thân của Phật Tổ.

Theo Phật giáo Đại thừa Đông Á, Phật Vairocana được coi là một vị Phật nguyên khởi biểu trưng của vũ trụ. Phật Vairocana ngự tại tâm vũ trụ. Vì là Phật nguyên khởi nên có một khuôn mặt đấng tạo tối cao hóa ứng với hư vô.

Từ ngữ Vũ trụ Universe có một nghĩa là “qui về một, nhất thể”. Universe có gốc uni– có nghĩa là một, nhất thể và –verse ruột thịt với Latin versus, vặn, quay liên hệ với gốc Phạn ngữ wart, war, vart- to turn, với Việt ngữ vặn. Như thế Phật Vũ Trụ Vairochana có một khuôn mặt ứng với nhất thể, thái cực. Ở dạng phân cực Vũ Trụ tách ra Vũ cực âm và Trụ cực dương ứng với lưỡng cực, lưỡng nghi. Vì vậy mà Phật Vũ Trụ Vairocana còn có một khuôn mặt là Bầu Vũ Trụ và Mặt Trời. Nhìn theo duy dương, khuôn mặt mặt trời mang tính chủ nên tên Vairocana có một nghĩa là mặt trời. Vì vậy mới có tên là Đại Nhật Như Lai.

Bốn vị Phật Tứ Phương ứng với tứ tượng. Tám vị Đại Bồ tát ứng với 8 tượng, tám quẻ, bát quái.

Bát tượng sinh ra muôn ngàn Phật ứng với muôn sinh, vạn vật. Vì thế mới có thuyết cho rằng Phật Vũ Trụ Vairocana ngự ở tâm vũ trụ trên một tòa sen có nghìn cánh. Mỗi cánh là một thế giới. Mỗi thế giới có một vị Phật. Có hàng ngàn vị Phật. Thật ra con số một ngàn có nghĩa là muôn ngàn, hằng hà sa số. Phật Vũ Trụ Vairocana là Phật nguyên khởi ở tâm vũ trụ sinh ra hằng hà sa số vị Phật ngự trị ở vô lượng thế giới. Con số hằng hà sa số này giống như con số 330 triệu thần linh Ấn giáo là con số hiểu theo vũ trụ, theo dịch học. Vì thế thông thường chỉ nói tới Phật Tứ Phương đại diện cho muôn ngàn Phật còn lại. Người Phật tử chỉ cần ‘vái tứ phương’.

Rõ như ban ngày một lần nữa ta thấy rõ Phật giáo ruột thịt với Vũ Trụ Giáo.

Như thế phải nhìn Phật và Phật giáo dưới lăng kính vũ trụ quan, vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo mới dễ hiểu và quán triệt được Phật giáo.

Tháp Phật cổ nhất có dạng cầu tròn, hình trứng như thấy ở các hang động thờ phượng ở Ajanta này. Về sau hình dạng tháp Phật có thể thay đổi như hình kim tự tháp như thấy ở tháp chùa Đại Bồ Đề ở Bồ Đề Đạo Tràng (Bodhgaya), Ấn Độ, ở Borobudur, Nam Dương… (xin nhắc lại là kim tự tháp Ai Cập cũng là một nấm mồ Núi Vũ Trụ mang trọn vẹn ý nghĩa vũ trụ tạo sinh của vũ trụ giáo, xem các bài viết về Ai Cập).

Dù ở dạng nào thì tháp Phật cũng mang trọn ý nghĩa vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo.

Tóm lược

Tóm gọn lại Tháp Phật là hiện thân của sự kết hợp ý tưởng tiền-Phật giáo và Phật giáo (The stupas embodies a union of pre-Buddhist and Buddhist ideas). Mồ tháp Phật là một mô hình thu nhỏ của vũ trụ. Tháp Phật mang hình ảnh Núi Vũ Trụ Meru, Núi Thế Giới (World Mountain) Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống). Vòm tháp biểu tượng vòm vũ trụ, sơ đồ mặt bằng tháp (hay hình chiếu của tháp xuống mặt bằng) là một mandala vũ trụ. Di hài (tro than, xá lợi) Phật Tổ lịch sử được để trong trung tâm của 8 đại tháp biểu tượng 8 phương vũ trụ có nghĩa là Phật Tổ có nguồn cội, có cốt lõi (Thân Tinh Anh, Body of Essence) từ Phật Vũ Trụ Vairocana tọa lạc ở tâm vũ trụ, giờ là tâm tháp. Phật tổ là hóa thân của Phật Vũ Trụ Vairocana.

Khi hành lễ các tăng ni và Phật tử đi một vòng tháp (khởi đi từ bên trái theo chiều kim đồng hồ tức chiều âm Vũ của Vũ trụ) là đi một vòng mộ Phật (có hay không có di hài Phật) để tưởng niệm, tưởng nhớ Phật, để chiêm bái Phật, là đi một vòng Núi Vũ Trụ, Núi Thế Giới Meru, là đi một vòng Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống), là đi một vòng vũ trụ, là đi một vòng Thân Tinh Anh Phật, là đi một vòng giáo Pháp Phật, là đi một vòng tử sinh, là đi một vòng luân hồi qua muôn kiếp, là đi để cầu mong tu tập để được tái sinh qua một kiếp khác cao hơn hay được giải thoát vòng luân hồi về cõi vĩnh hằng…

……

Hiểu rõ tháp Phật như thế rồi, bây giờ chúng ta trở về lại với ‘con cừu của chúng ta’ là các hang thờ tự chaitya ở Ajanta.

Tôi cũng chia các hang thờ tự chaitya ở đây ra làm hai nhóm chính: Nhóm Kiến Trúc Thờ Tự Nguyên thủy và nhóm Đại thừa.

Trước hết để nắm vững vấn đề hãy nói về:

Những Nét Chính Của Một Hang Thờ Tự Chaitya.

Sau đây là vài nét chính của một hang thờ tự chaitya của cả hai nhóm.

-Hang có mái vòm bầu trứng vũ trụ, biểu tượng vũ trụ.

-Mặt bằng hình móng ngựa là hình biến thể của trứng vũ trụ.

clip_image009Sơ đồ măt bằng hang 10: những chấm nhỏ hình móng ngựa là hàng cột. Vòng tròn chấm lớn là mặt bằng tháp Phật (nguồn: Wikipedia).

Hang thờ phượng chaitya mang hình ảnh vũ trụ tạo hóa.

Theo chính thống hang thờ phượng chaitya làm theo tỉ lệ 1/3 (rộng 1 sâu 3) như thấy rõ ở sơ đồ mặt bằng ở trên. Số 1 có một khuôn mặt nhất thể, vũ trụ và số 3 có một nghĩa tam thế. Chaitya mang nghĩa vũ trụ (đại vũ trụ) và tam thế (tiểu vũ trụ).

-Mặt tiền có cửa sổ trên hình móng ngựa có vòm trứng vũ trụ.

-Hàng hiên

Có điêu khắc, trang trí giúp ta phân biệt được Phật giáo Nguyên thủy hay Đại thừa và định được niên đại của hang.

-Phòng Lễ Bái Chính

Phòng lễ bái chính hang thờ phượng chaitya tương đương với phòng cột của tu viện, hai bên có lối đi như hành lang, không có các phòng ở.

Cấu trúc của một hang thờ phượng chaitya gồm có: phòng lễ bái ở giữa (giống như một phòng nave), cuối có phòng sau (hậu tẩm apse) hai bên có lối đi như hành lang (aisle) giống kiến trúc của một nhà thờ Thiên Chúa giáo, được xây dựng nhiều thế kỷ muộn về sau ở châu Âu.

Cột và tường phòng lễ bái có tranh vẽ hay điêu khắc. Hình Phật đa dạng không nhất thiết chỉ là Phật với thủ ấn Chuyển Bánh Xe Pháp như thấy gần như hầu hết ở các hang tu viện Phật giáo Đại Thừa (vì tu viện là chỗ giảng dậy Pháp lý Phật giáo). Ở đây, vì là hang thờ phượng nên có thể thờ nhiều khuôn mặt Phật, nhiều vị Phật khác nhau.

-Tháp Phật stupa.

Điểm chính là có tháp Phật stupa (đã giải thích ở trên) thay vì điện thờ Phật. Như đã biết tháp Phật là chủ điểm của hang thờ phượng chaitya. Cấu trúc ví dụ như hình dạng, phân tầng… và trang trí theo chính thống phải tuân thủ triệt để theo giáo lý Phật giáo và nói rộng ra là phải theo qui luật của vũ trụ tạo sinh, dịch học.

1. NHÓM KIẾN TRÚC THỜ TỰ PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY.

Nhóm hang Phật giáo nguyên thủy gồm: hang 9, 10, 12, 13 và 15A.

HANG SỐ 9.

Hang thờ tự làm kiểu Phật giáo Nguyên thủy vào thời kỳ đầu của triều đại Satavahana thế kỷ thứ 1-2 Sau Dương Lịch.

-Mái vòm.

Mái vòm hình thuôn tròn hình trứng vũ trụ.

-Mặt bằng.

clip_image011Hang số 9 Phật giáo Nguyên Thủy.

Mặt bằng ở đây cho thấy lòng hang hình chữ nhật chỉ có các cột theo hình móng ngựa, thiết diện của trứng vũ trụ.

-Mặt Tiền

Có cửa sổ chính có hình bầu nậm cổ ngắn trông như thiết diện đứng của phần bầu trứng vũ trụ của một tháp Phật.

clip_image013Một phần mặt tiền hang số 9 có phần chính ở trên là cửa hình bầu nậm cổ lùn (ảnh của tác giả).

Nhìn theo lăng kính vũ trụ tạo sinh hình bầu nậm nòng nọc (âm dương) mang trọn vẹn nghĩa vũ trụ tạo sinh. Như thế mặt tiền một hang thờ phượng chaitya mang trọn vẹn vũ trụ thuyết.

Đây là một nét đặc thù của hang thờ tự chung cho cả hai nhóm Phật giáo Nguyên thủy và Phật giáo Đại thừa (ngoại trừ như đã nói ở trên hang tu viện Phật giáo Nguyên thủy số 15A có cửa loại này, có lẽ là dạng chuyển tiếp).

-Hàng hiên.

Mặt tiền có các trang trí, điêu khắc, hình, tượng được làm thêm vào sau này mang tính Đại thừa ảnh hưởng nhiều của Trường Phái Nghệ Thuật Gandhara.

clip_image015Trần hàng hiên có tranh vẽ (ảnh của tác giả).

Trong nghệ thuật điêu khắc của trường phái Gandhara, mặt Phật trái soan, mũi thẳng, lông mày hình cung, môi cong, y phục có nhiều nếp gấp song song… bị ảnh hưởng nhiều của La-Hy (La Mã-Hy Lạp).

clip_image017Cột bên có hình điêu khắc một tháp Phật giáo hình bầu nậm vũ trụ, phần dưới đã có trang trí chạm khắc cho thấy sự khởi đầu của Đại thừa hóa (ảnh của tác giả).

clip_image019Tượng Phật ở thế ngồi kiết già. Ảnh tượng này cho thấy tính chất Đại thừa (ảnh của tác giả).

clip_image021Tượng Phật đứng với thủ ấn ban ơn cho (ban cho cầu xin, thỉnh nguyện) varada-mudrā (ảnh của tác giả).

Varada hiện dịch là thủ ấn thí nguyện.

Phạn ngữ varada có một nghĩa là ban cho một lời cầu xin, thỉnh nguyện.

वरद adj. varada conferring a boon

Varada var- biến âm với Việt ngữ ban.

Dấu hiệu tay varada diễn đạt lòng bàn tay phải ngửa ra phía trước mặt và ngón tay chỉ xuống đất.

-Phòng Lễ Bái Chính.

Trần mái vòm hình trứng nguyên thủy có các sườn gỗ cong khiến có cảm tưởng như đang ở trong một ngôi mộ nhà lồng vũ trụ hay đứng ở dưới một chiếc lọng bầu vũ trụ.

Phòng có các cột bát giác có trang trí tranh vẽ.

Theo Spink các trang vẽ ở hang này gồm cả các hình tượng Phật đứng trên các cột được vẽ thêm sau này vào thế kỷ thứ 5.

clip_image023Tranh Phật và tín hữu trên cột (ảnh của tác giả).

Phía trên cột và sau tháp có nhiều tranh mầu.

clip_image025Tranh phía trên cột: Phật mặc áo tu mầu cam- nghệ có lọng (chatra) che (ảnh của tác giả).

Hình vẽ Phật với Bồ tát Hoa sen Padmapani và Bồ tát (cầm dóng sấm) Kim cương Vajrapani đeo vòng cổ và châu báu. Trong khi các hành giả (yogis) và tỳ kheo (bhikshu) dâng vòng hoa và lễ vật, các tín hữu mặc áo choàng dài dhoti và quấn khăn kiểu khăn đóng (turban).

Trên tường có các tranh truyện Tiền Kiếp Phật.

-Tháp Phật.

clip_image027

Tháp Phật khắc từ đá đứng trên bệ tròn. Như đã nói ở trên tháp là ngôi mộ hình vòm bầu nậm mang trọn ý nghĩa vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo là một thứ bình mai táng coi như trong có để tro Phật tại trung tâm vũ trụ.

Chỏm tháp có hình chậu vuông mang hình đất thế gian, trên có cắm cây lọng có vòm biểu tượng bầu vũ trụ, bầu trời. Hình ảnh cây lọng cắm trên chỏm chậu vuông ở đây hơi khó nhận ra nhưng ở tháp Karli, một tháp hang lớn nhất ở Ấn Độ, thấy rất rõ vì lọng làm bằng gỗ:

clip_image029(nguồn: John D. La Plante, Asian Art).

Cây lọng vũ trụ trông như trồng trong chậu đất thế gian. Như thế chỏm tháp này có một khuôn biểu tượng trời đất, vũ trụ, cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống). Riêng chính cây lọng cũng đã có một khuôn mặt biểu tượng cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống). Tháp có một khuôn mặt biểu tượng cho cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống).

Tháp Phật không có trang trí gì cả, không có các hình tượng (idols). Đây chính là nét đặc thù của Phật giáo Nguyên thủy.

Tháp Phật này chỉ mang ẩn nghĩa là nơi chôn tro than Phật với tính cách biểu trưng cho vũ trụ luận, giáo lý Phật giáo (vì ở đây không có tro, xá lợi Phật). Như đã nói ở trên tháp Phật là một yếu tố chính yếu của Phật giáo Nguyên thủy thấy rõ qua các chùa Phật giáo Nguyên thủy ở Đông Nam Á có tháp Phật khổng lồ và nhiều chùa làm theo cấu trúc tháp Phật.

Quanh tháp Phật cách tường để chừa lại một lối đi vòng quanh tháp (pradakshina patha, circumambulation path) để cho tăng ni, Phật tử hành lễ, chiêm bái Phật. Xin nhắc lại là phải đi theo cùng chiều kim đồng hồ tức chiều âm, từ phía trái. Điểm này thấy rõ trên tường trái có tranh vẽ các tín hữu đi về phía tháp Phật dùng như một tấm bảng chỉ đường ‘đi theo chiều này’.

Hãy bỏ ra một chút thì giờ đi một vòng quanh tháp cầu nguyện hay thiền hành, ít nhất là để tìm an lạc trong tâm.

Tóm lại hang số 9 là một trong các hang thờ phượng chaitya sớm nhất thuộc loại Phật giáo Nguyên thủy. Về sau mặt tiền được Đại thừa hóa.

HANG SỐ 10.

Được cho là hang thờ phượng chaitya cổ nhất ở giai đoạn đầu của Phật giáo Nguyên thủy vào khoảng thế kỷ thứ nhất Trước Dương Lịch. Hàng chữ Phạn khắc ở đây nói rõ “Mặt Tiền hang là món quà tặng của Vasisthiputra Katahadi.”

Hang này rất quan trọng vì có ảnh hưởng tới Phật giáo ở Nam Á và khắp Ấn Độ cho tới thế kỷ thứ 5 Sau Dương Lịch.

Hang này cũng quan trọng về mặt lịch sử bởi vì được một sĩ quan Quân Đội Anh John Smith khám phá ra khi đi săn cọp vào tháng tư năm 1819. Ông để lại tên, ngày tháng trên cột đá:

clip_image031Hàng chữ của John Smith vạch trên cột (ảnh của tác giả).

-Mái vòm.

Giống như các hang thờ tự khác.

-Mặt bằng.

clip_image032Mặt bằng hang số 10 (nguồn: Wikipedia).

Khác với hang số 9 tường cuối phòng đã sửa lại theo hình móng ngựa, không còn là tường thẳng như ở hang số 9 (chỉ có hàng cột hình móng ngựa) để đúng với nghĩa của vũ trụ tạo sinh.

-Mặt tiền.

clip_image034Cửa sổ vòm bầu nậm cổ lùn (ảnh của tác giả).

-Hàng hiên.

clip_image036(ảnh của tác giả).

clip_image038Hai tượng Phật đứng với thủ ấn ban ơn cho (ảnh của tác giả).

-Phòng Lễ Bái Chính.

Giống hang số 9, ở đây có 39 cột bát giác.

clip_image040Phòng lễ bái chính (ảnh của tác giả).

Các tranh được vẽ vào hai thời kỳ khác nhau. Thời kỳ thế kỷ thứ 2 Trước Dương Lịch và thế kỷ thứ 4 Sau Dương Lịch. Có thể phân biệt dễ dàng các tranh của Phật giáo Đại thừa với tranh của Phật giáo Nguyên thủy. Tranh gồm một số lớn (trên 300) tranh ảnh về Đức Phật:

clip_image042Tranh Phật, các Bồ tát và mandala khác nhau ở giữa các cung sườn vòm mái (ảnh của tác giả).

clip_image044Phật mặc áo choàng dài có nhiều nếp song song kiểu nghệ thuật Gandhara (ảnh của tác giả).

Các hình tượng thờ phượng muộn về sau, có cả các chữ đề tặng của các mạnh thường quân Phật tử.

clip_image046Hình các tín hữu và Phật ngồi trên cột (ảnh của tác giả).

Tường trái tranh diễn tả cảnh vua và quan lính trang bị vũ khí cổ truyền tới chiêm bái cây Bồ Đề. Tường bên phải, quá trụ thứ ba, tranh diễn tả kinh truyện Tiền Kiếp Jataka Saddanta về con voi sáu ngà và truyện Shyama về một người con hiếu thảo hy sinh suốt đời cho cha mẹ mù.

-Tháp Phật

clip_image048Tháp Phật phái Nguyên thủy không có ảnh tượng.

Tháp Phật cũng không có tượng Phật và các ảnh tượng khác mang nét đặc thù của Phật giáo Nguyên thủy.

Cũng có lối đi vòng quanh tháp.

2. NHÓM HANG KIẾN TRÚC THỜ TỰ ĐẠI THỪA.

HANG SỐ 19.

Hang được cho là có niên đại vào thế kỷ thứ 5 Sau Dương Lịch. Hang nổi tiếng về điêu khắc.

-Mặt bằng

clip_image049

Sơ đồ mặt bằng cho thấy rõ sân biến thành một phòng. Hai bên phòng này có các phòng nhỏ ở dạng tu viện.

-Sân.

Đặc điểm ở hang này là sân biến thành phòng họp mặt hay phòng chờ ở trước phòng lễ bái chính và có bốn phòng nhỏ ở hai bên dạng tu viện vì thế đây có thể là một dạng hỗn hợp hang thờ phượng chaitya và tu viện vihara. Do đó hang cũng được cho có lẽ là dạng chuyển tiếp từ loại Phật giáo Nguyên thủy qua thể loại Phật giáo Đại thừa.

-Mặt tiền.

Phía trái có tượng Vua Rắn Naganaja là hộ Pháp bảo vệ Phật, ngồi ở thế một chân chống trên bệ ngồi, một chần thõng xuống (Ardhaparyanka).

clip_image051Vua Rắn Nagaraja (Tài liệu Hướng Dẫn Du Lịch).

Vợ ngồi bên tay cầm hoa.

Tượng này cũng thấy trong Chinh Phục giáo Jain và Ấn giáo.

clip_image053Cửa chính hang 19.

Mặt cửa vào phòng lễ bái chính có hai cột tròn có trang trí hoa và điêu khắc vòng hoa.

Bên trái có tượng Phật đứng với thủ ấn ban cho thỉnh nguyện. Một tín hữu quỳ dưới chân. Bên phải có hình người nữ cầm một chiếc bình, tay kia nâng cằm.

Phía trên là Phật ngồi với thủ ấn thiền định.

Hướng về phía phải lối vào là điêu khác “Mẹ Con”. Hình vợ và con nhìn Phật cầm bình bát khất thực.

-Phòng Lễ Bái chính.

.Vòm

Vòm có cung sườn. Vòm trần che kín trang trí tranh vẽ đã bị hư hại.

clip_image055Trần, phía trên đầu cột và cột (ảnh của tác giả).

.Cột

Có 15 cột tròn trang trí với điêu khắc hoa, ở đầu cột có các tượng Phật.

Hai bên cột có điêu khắc voi, ngựa, tiên nữ mây mưa đang bay theo phong cách nghệ thuật thời Gupta (320 tới 600 Sau Dương Lịch). Nghệ thuật kiểu Gupta chia ra hai nhánh: nhánh Mathura có y phục với các nếp gấp giống như những chuỗi dây buông thõng xuống mang tính xếp đặt không tự nhiên. Nhánh Sarnath có y phục trơn không có nếp gấp ngoại trừ ở các viền.

Phần trên cột có tượng Phật ở nhiều dáng thế khác nhau.

Tường và trần của hành lang phủ kín tranh trang trí với hình Phật, hoa.

-Tháp Phật.

clip_image057Tháp Phật có tượng Phật đứng giữa cửa tháp.

Tháp Phật ở đây có hình tượng Phật là chủ thể chính mang tính Phật giáo Đại thừa.

Tháp có tượng Phật đứng ở cửa tháp nhưng còn ở ngưỡng cửa chưa ra khỏi hẳn tháp. Ở các hang mang tính Nguyên thủy vừa nói ở trên, tháp trống trơn không có ảnh tượng, tượng Phật nên chỉ thuần túy diễn tả mồ chôn tro than, xá lợi Phật hay nếu không có gì như ở đây thì chỉ thuần túy là một ngôi mộ hình cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) diễn tả triết thuyết Phật giáo.

Ở đây Phật ở cửa tháp thay thế cho di hài Phật. Tro than, xá lợi Phật được thay thế bằng ảnh tượng Phật. Ở đây hình ảnh Phật tương đương với di hài Phật. Hình tượng là Phật (image equals Buddha), một đặc thù của Phật giáo Đại thừa.

Hình dạng tháp cũng biến đổi và có các điêu khắc trang trí mang tính Đại thừa. Ta thấy tháp có phần vòm bầu tròn hình trứng diễn tả thượng thế. Phần trụ đứng có Phật đứng diễn tả trung thế và phần dưới bệ tháp diễn tả hạ thế. Tháp diễn tả tam thế. Tam thế được biểu tượng bằng cây tam thế (cây vũ trụ, cây đời sống) là phần chóp tháp ở trên. Phần chóp tháp này gồm ba hình vòm lọng diễn tả ba tiểu thế cõi thượng thế ứng với hư vô, thái cực và lưỡng nghi. Phần trụ vuông diễn tả tứ tượng và trục thế giới. Phần chỏm tháp này quả đúng diễn tả cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống).

Tháp cho thấy Phật giáo Nguyên thủy đã bước qua Đại thừa.

Tóm lược.

Đây là hang thờ phượng mang tính chuyển tiếp ở các bước đầu từ Phật giáo Nguyên thủy qua Phật giáo Đại thừa. Sự chuyển tiếp này thấy rõ qua chủ thể của tháp là tượng Phật hãy còn dính vào tháp như đứng nửa trong nửa ngoài cửa tháp.

Hang có những hình ảnh của Ấn giáo như tượng hộ pháp Vua Rắn Nagaraja, tiên nữ mây mưa… vì vị vua làm hang này vốn theo Ấn giáo.

HANG SỐ 26.

Giống hang 19 nhưng rộng hơn và có vài yếu tố của hang tu viện. Một bản khắc chữ cho biết hang này là quà tặng của tu sĩ Buddhabhadra và thân hữu phục vụ vua Asmaka và cũng cho biết hang được làm vào cuối thế kỷ thứ 5 đầu thế kỷ thứ 6.

Điêu khắc được chú trọng nhiều hơn là tranh vẽ vì cho rằng điêu khắc đá để được bền lâu với năm tháng hơn. Điêu khắc rất phong phú và tinh xảo.

-Hàng hiên.

Mái hiên, cột hàng hiên đã bị sụp đổ. Hai đầu hàng hiên có thêm hai cánh giống hang 12 làm theo kiểu tu viện Nguyên thủy (hang tu viện nhỏ 26 Trái và 26 Phải).

clip_image058Như thế hang có thể được coi như là một loại hang hỗn hợp thờ phượng và tu viện.

-Mặt tiền.

Cả mặt tiền che kín bởi các tượng Phật và tượng liên hệ, nhiều tượng có lẽ đã được làm thêm vào về sau này.

clip_image060Cửa hình chữ T kiểu cuối thời Gupta có nữ thần sông ở hai góc bên, cho thấy hang là một trong các hang được làm vào thời kỳ cuối của quần thể hang Ajanta đã có mặt Ấn giáo ngay ở trước cửa (ảnh của tác giả).

-Phòng Lễ Bái Chính.

Mái vòm vũ trụ, vòm trời giống như các hang thờ phượng chaitya khác.

Phòng lễ bái chính với hai lối đi hai bên được chạm khắc kỹ lưỡng với các truyền thuyết Phật như Phép Lạ Sravasti Nghìn Phật bên lối phải và các tượng Phật với thủ ấn khác nhau. Nhiều điêu khắc này được làm về sau.

Bước qua cửa vào, ta bắt đầu đi theo chiều kim đồng hồ tức chiều âm bên trái có các cảnh chính như sau: cảnh Phật Nhập Niết Bàn ở tư thế nằm. Tượng Phật nằm khổng lồ dài 7m.

clip_image061Tượng Phật nằm lúc nhập Niết Bàn.

Phía trên pho tượng này là cảnh các Bồ tát, chư thiên cõi trời đang hân hoan chào đón Phật nhập Niết Bàn.

clip_image062Cảnh các Bồ tát, chúng thiên chào mừng Đức Phật nhập Niết Bàn (ảnh của tác giả).

Bên dưới là cảnh tu sĩ, chúng sinh cõi nhân gian tiếc thương Phật.

clip_image064Cảnh tu sĩ, chúng sinh cõi nhân gian tiếc thương Phật (ảnh của tác giả).

Đặc biệt hình Phật khắc ở đây chỉ thấy phần sau lưng người Phật, không thấy mặt.

clip_image065Phật khắc ở đây chỉ thấy phần sau người Phật, không thấy mặt (ảnh của tác giả).

Phật đã khuất mặt, khuất bóng. Chúng ta cũng thường nói ‘để tưởng nhớ tới những người đã khuất mặt…

Tượng Phật này, nhất là tại đây trong cảnh Phật nhập Niết Bàn, có một khuôn mặt biểu tượng Phật đã lìa trần gian nên chỉ thấy phía sau lưng Phật. Đây là một tượng Phật đặc biệt diễn tả Phật lìa trần gian ở tư thế ngồi.

Tiếp theo là cảnh vua quỉ Mara đánh phá và ba người con gái của vua quỉ Mara tìm cách quyến rũ, cám dỗ Phật, ngăn cản không cho ngài đắc đạo.

clip_image067Cảnh Phật ngồi dưới gốc Bồ Đề, vua quỉ Mara đánh phá và ba người con gái Mara quyến rũ Phật (ảnh của tác giả).

Phật ngồi dưới gốc cây Bồ đề ngay trước khi thành đạo với dấu hiệu lòng bàn tay trái để giữa lòng ngửa lên trên và tay phải thõng xuống, lòng bàn tay ngửa ra trước mặt, ngón chạm đất. Thường được cho đây là thủ ấn ban cho ân huệ (varada mudra). Ở Phật Thích Ca thủ ấn này có thể là dấu hiệu tay chạm đất (bhūmisparśa-mudrā) (thông thường thì lòng bàn tay úp vào người và ngón chạm đất). Quả thật, ở đây phải hiểu là thủ ấn chạm đất. Khi bị quỉ vương Mara vu oan, ngài định tâm tay bắt ấn chạm đất xin Mẹ Đất chứng giám. Ngay khi Phật chạm tay xuống đất, bỗng nhiên đất trời, vũ trụ rung chuyển, bựt sáng lên và Phật thành đạo.

Phạn ngữ Mara có một nghĩa là ma quỉ, ma quái, ma mãnh, chết chóc. Mara có Ma- ruột thịt với Việt ngữ ma- là ma (quỉ) và ma, chết (như hóa ra ma, tang ma, hồn ma)].

Tại sao Phật lại chạm tay xuống đất mà không giơ tay chỉ lên trời, cõi thượng thế của các đấng tạo hóa, thần linh trong đó có Phật Vũ Trụ Vairocana mà ‘thề’ như ngày nay ta thấy qua sự giơ tay tuyên thệ. Ít tai biết rõ điểm này. Xin trả lời, bởi vì đất là cõi thế gian ta bà, tà ma như thấy rõ qua từ Mara còn có một nghĩa là cõi đất, thế giới của sự chết chóc:

मर m. mara world of death i.e. the earth

Vì thế Mẹ Đất hơn tất cả các thần tổ khác biết rõ tâm địa vua quỉ Mara, hiện thân của ma quỉ, chết chóc.

Bhūmisparśa-mudrā hiện dịch là thủ ấn xúc địa (nặng nề quá, có thể làm hiểu nhầm là xúc đất!). Bhumisparsa có Bhu- = cổ ngữ Việt Pu-, Phù là Núi như Phù Ninh, phù đồ (có một nghĩa núi, đồi), phù nổng (cùng nghĩa với gò nổng)… và trong các ngôn ngữ khác của đại tộc Mon-Khmer như Phù Nam, phnom, núi, đồi = Thái ngữ Phu (phoo) như Phuket  và thấy trong cả các ngữ hệ Mã-Đa Đảo khác như Mã ngữ Bukit là đồi (núi) ruột thịt với Phuket…

Chung quanh Phật, ở góc trên trái của tấm điêu khắc (xin nhắc lại phải nhìn từ phía trái) vua quỉ Mara cỡi voi cùng với đạo quân đầu trâu mặt ngựa đánh phá Phật.

clip_image069Vua quỉ Mara cỡi voi và đạo quân đầu trâu mặt ngựa đánh phá Phật (ảnh của tác giả).

Chính giữa ngay trước mặt Phật là ba người con gái Mara là Rati (रति, sex, love, biểu tượng cho tình dục), Trishna (तृष्णा, desire, ham muốn, thirst, thèm khát, khao khát) và Arati (अरति, particular evil spirits, ác linh, tà tâm quỉ quyệt) lõa lồ, nhẩy múa đàn hát, lả lơi quyến rũ Phật.

clip_image071Ba người con gái Mara đang nhẩy, múa, hát (ảnh của tác giả).

clip_image073Ảnh phóng lớn với các dấu tay phái nam tô đen cho thấy người con gái lớn Rati của Mara ăn mặc hở…hang!

Cũng nên biết Phạn ngữ Rati (sex) ruột thịt với Việt ngữ rật (dật), rựt (dựt) có nghĩa là động tình như dậm rật. dậm rựt: No cơm ấm cật, dậm rật tối ngày. Dậm rật ruột thịt với dâm dật.

Và ở góc phải dưới vua quỉ Mara thảm bại ôm đầu, ngồi cùng các con.

Ngoài ra phần tường còn lại và bên phải tràn ngập các tác phẩm điêu khắc tượng Phật tuyệt mỹ.

clip_image075Tượng Phật đứng mang phong thái Chinh Phục giáo (không quần áo) (ảnh của tác giả).

clip_image077Phật ở thế ngồi vững chãi hai chân buông xuống với thủ ấn Chuyển bánh xe Pháp (ảnh của tác giả).

-Tháp Phật.

clip_image079Tháp Phật đã có tượng Phật ngồi hai chân buông xuống để trên một bục cao ở cửa tháp và các Bồ tát, chư thiên mang rõ nét Phật giáo Đại thừa. Lưu ý khung rào ở đây làm hình vuông không đúng phải là vòng rào hình vòng tròn mới chuẩn.

Tảng đá đầu chỏm tháp hình núi nhấn mạnh tháp có một khuôn mặt biểu tượng Núi Trụ Thế Gian, Núi Vũ Trụ.

Trước của tháp có tượng Phật ngồi hai chân buông xuống ở thế nagồi vững chãi Pralambapada-āsana. Phật đã ngồi vững chãi ở ngoài tháp không còn đứng trông như còn đang đi từ trong lòng tháp ra ngoài như thấy ở tháp vừa nói trên. Tính chất Đại thừa đã vững chãi, ‘an vị’.

Cổng tháp torana ba tầng (xin nhắc lại cổng torana ruột thịt với cổng torii của Thần đạo Nhật Bản và cổng tam quan Việt Nam, có một khuôn mặt biểu tượng tam thế, cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) (xem bài viết Nhật Bản: Cổng Torii: Biểu Tượng Thần Đạo Nhật). Tháp trang trí phong phú có 36 tấm điêu khắc diễn tả Phật, Bồ tát, các thiên nhân. Mười tám tấm ở trên và 18 tấm ở dưới.

clip_image081Tháp trang trí phong phú (ảnh của tác giả).

Lưu Ý.

Các tấm điêu khắc này ở phần trụ giữa tháp biểu tượng trung thế, cõi giữa. Mười tám tấm điêu khắc trên diễn tả cõi trời trung thế và mười tám tấm dưới diễn tả cõi đất trung thế. Hình ảnh này là hình ảnh của vành 18 cò bay và 18 chim đứng ở vùng đất trung thế gần ngoài biên trống Ngọc Lũ I. Chim bay thuộc cõi trời trung thế và chim đứng thuộc cõi đất trung thế. Cả hai hình tháp và vành chim đều mang ý nghĩa của thuyết vũ trụ tạo sinh. Trống Ngọc Lũ I  là trống cậy nấm vũ trụ (nấm tam thế, nấm đời sống)  Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I) và tháp Phật mang hình ảnh cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) như đã nói ở trên. 

(xem Trống Ngọc Lũ I).

Bên trái tháp có tượng Bồ tát Quán Thế Âm Avalokiteshwara nhỏ xíu. Gần phía trần có sáu tượng Phật với thủ ấn khác nhau. Trên phần bầu tròn của tháp gọi là anda (trứng) có các tượng tiên nữ mây mưa đang bay.

Chỏm tháp có chín tầng biểu tượng cho chín cõi luân hồi (samsara heavens) trong vũ trụ tạo sinh của Phật giáo Đại thừa.

….

Tóm lược.

Qua các kiến trúc thờ tự vừa qua ta thấy rõ có sự chuyển tiếp từ cấu trúc của các hang thờ tự Phật giáo Nguyên thủy qua các hang thờ tự Phật giáo Đại thừa. Ta cũng thấy các dạng chuyển tiếp và hỗn hợp với hang tu viện.

Các cấu trúc thờ tự Phật giáo Nguyên thủy khởi đầu là các hang chỉ có chủ thể chính là tháp Phật trống trơn, không có trang trí các ảnh tượng. Hang coi như là một nhà mồ trong có tháp Phật giữ chức vụ như một cái bầu, chiếc tiểu đá, quan tài đá chứa tro than, xá lợi Phật hay các báu vật Phật giáo.

Các hang thờ tự Phật giáo Đại thừa có trang trí phong phú các ảnh tượng về Phật. Trước tháp có tượng Phật và các phụ thần. Các ảnh tượng này có một khuôn mặt là thay thế, biểu tượng tro than, xá lợi Phật nhấn mạnh thêm chức vụ và ý nghĩa của tháp Phật nhất là giúp cho các tín hữu Phật tử bình dân thấu hiểu giáo lý Phật giáo.

Vào hang hay đền chùa có tháp Phật dù có ảnh tượng hay không, một Phật tử phải hành lễ đi vòng quanh tháp.

Như đã nói ở trên m tháp Phật là một mô hình thu nhỏ của vũ trụ. Tháp Phật mang hình ảnh Núi Vũ Trụ Meru, Núi Thế Giới (World Mountain) Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống). Phật Tổ có nguồn cội, có cốt lõi (Thân Tinh Anh, Body of Essence) từ Phật Vũ Trụ Vairocana tọa lạc ở tâm vũ trụ, giờ là tâm tháp. Phật tổ là hóa thân của Phật Vũ Trụ Vairocana. Các tăng ni và Phật tử đi một vòng tháp (khởi đi từ bên trái theo chiều kim đồng hồ tức chiều âm Vũ của Vũ trụ) là đi một vòng mộ Phật (có di hài Phật hay ảnh tượng Phật thay thế cho di hài) để tưởng niệm, tưởng nhớ Phật, để chiêm bái Phật, là đi một vòng Núi Vũ Trụ, Núi Thế Giới Meru, là đi một vòng Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống), là đi một vòng vũ trụ, là đi một vòng Thân Tinh Anh Phật, là đi một vòng giáo Pháp Phật, là đi một vòng tử sinh, là đi một vòng luân hồi qua muôn kiếp, là đi để cầu mong tu tập để được tái sinh qua một kiếp cao hơn hay được giải thoát vòng luân hồi về cõi vĩnh hằng…

Tổng Kết Về Quần Thể Hang Động Phật Giáo Ajanta.

Hang động Ajanta:

-Là một kiến trúc hang động siêu việt của Phật giáo nói riêng và của nhân loại nói chung.

-Cho thấy một đức tin vô bờ bến cùng với sức người kiên trì: chỉ với những bàn tay búa, đục đã biến cả dẫy núi đá thành tu viện, nơi thờ phượng, nhìn thấy mà ngẩn ngơ, mất hồn.

-Là một kho báu văn hóa của Phật giáo nói chung và của Ấn Độ nói riêng.

-Là một bộ từ điển bách khoa đá ghi khắc lại truyện Tiền Kiếp, cuộc đời Đức Phật Tổ, truyền thuyết, triết thuyết, giáo lý Phật giáo.

-Là một chứng sử đá kiên cố cho thấy rõ Phật giáo là di duệ hay ảnh hưởng của vũ trụ giáo giống như Ấn giáo. Phải dựa vào vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo, dịch học nghiên cứu Phật, Phật giáo mới dễ hiểu và quán triệt được.

– Cho thấy Phật giáo và Ấn giáo liên hệ với nhau, chồng chéo lên nhau. Một thời Phật giáo, Ấn giáo và cả Chinh Phục giáo Jain cùng sống chung hòa bình bên nhau như thấy qua một vị vua theo Ấn giáo hay vốn theo Ấn giáo rồi cải đạo qua Phật giáo vẫn bảo trợ xây dựng các hang Phật gíao ở đây. Tam giáo hòa đồng như thấy rõ ở quần thể hang động Tam giáo Ellora (đón xem các bài viết về quần thể hang này trong những số blog tới). Một người có thể theo cả ba đạo một lúc. Về sau mới có va chạm và thống trị lẫn nhau. Ở đây Phật giáo còn đang ở thời kỳ hưng thịnh chưa bị Ấn giáo thống lĩnh vào lúc Ấn giáo phục hưng lại sau này như thấy ở Ellora.

-Là một Thư Viện đá Phật giáo.

-Một sử liệu đá ghi rõ sự chuyển tiếp từ Phật giáo Đại thừa qua Phật giáo Tiểu thừa.

-Chứng tích của một thời vàng son nhất của nghệ thuật Phật giáo Ấn Độ: điêu khắc, hội họa Phật giáo đạt tới mức tinh xảo, tuyệt mỹ nhất.

-Là một viện bảo tàng trưng bầy về đời sống vàng son một thủa của Ấn Độ vào thời Gupta thấy qua trang phục, kiểu tóc, trang sức, châu báu, lâu đài…

-Là một kỳ quan thế giới. Hai quần thể hang động Ajanta và Ellora đẹp nhất trong tất cả các kiến trúc trung cổ Ấn Độ và đã được thừa nhận là địa danh Di Sản Văn Hóa Thế Giới UNESCO.

-Riêng đối với tôi: là một chứng tích rành rành, thuyết phục nhất của vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo, chữ viết nòng nọc vòng tròn-que thấy qua vũ trụ giáo trong Phật giáo diễn đạt bằng hiện vật sử đá Phật giáo. Xin nhắc lại, phải tìm hiểu Phật giáo dựa vào vũ trụ thuyết, vũ trụ giáo, dịch học.

Thân Phật là Thể Tinh Anh của Vũ Trụ, Phật là Vũ Trụ. Phật là Người thành Phật (Manushi). Phật là Tiểu và Đại Vũ Trụ. Chúng ta là Người, Tiểu Vũ Trụ, con của Đại Vũ Trụ. Hãy tu tập để tiểu vũ trụ và đại vũ trụ sống hài hòa với nhau, để sống an bình ở cõi tiểu vũ trụ này và trở về đại vũ trụ sống vĩnh hằng an lạc. Thái tử Tất Đạt Đa Siddhārtha thoát vòng luân hồi thành Phật. Tên Siddhārtha có nghĩa là ‘Người đã hoàn tất được mục đích’ hay ‘Mục tiêu đã hoàn tất’ (Siddhārtha, “He who has accomplished his goals” or “The accomplished goal“) (wikipedia). Tất Đạt là đã Đạt Được, đã hoàn Tất Được. Tất Đạt Đa là đã hoàn Tất Đạt được Đạo, con đường chân lý. Tất Đạt Đa là Tất Đạt Đắc, Tất Đạt Được. Chúng ta tu tập noi gương con đường Phật đi, lắng nghe lời Phật dậy để tiến tới thành Phật hay tiến tới tâm Phật, tới tâm tinh anh đại vũ trụ. Đúng như lời Phật nói Ta là Phật đã thành, các Người sẽ là Phật sẽ thành.

……

(Đón đọc Ấn Độ: Hang Động Tam Giáo Ellora).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: