ẤN ĐỘ: HANG ĐỘNG PHẬT GIÁO AJANTA (Phần 3) CÁC HANG TU VIỆN (tiếp theo).

.*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài.

.Phải tuân thủ luật Tác quyền Copyright.

ẤN ĐỘ: HANG ĐỘNG PHẬT GIÁO AJANTA, Ở AURANGABAD.

(Phần 3).

Nguyễn Xuân Quang.

CÁC HANG TU VIỆN

(tiếp theo).

HANG SỐ 16.

clip_image001(nguồn: Wikipedia).

Đây là một trong các hang lớn nhất, tinh tế và thú vị nhất. Cầu thang đá lối vào có voi đá và cột bên trái.

Đi qua cổng voi thấy ngay tượng hộ pháp Vua Rắn Naganaja đứng gác hang.

Gần gầm cầu thang có một bản khắc cho biết đây là quà tặng của Varahadeva, người thừa hành vua Harishena của Đế quốc Vakataka (475-500 Sau Dương Lịch). Ông dâng tặng cho cộng đồng tăng sĩ với lời khắc diễn tả lòng mong ước “cả thế giới… đi vào trạng thái an bình không sầu khổ và bệnh tật”. Theo Spink ông là người theo cả Phật giáo và Ấn giáo.

Hang chưa được hoàn tất.

-Hàng hiên.

Mặt tiền tương đối đơn giản với các cột bát giác.

-Phòng Cột.

clip_image002(nguồn: Wikipedia).

Phòng hình vuông.

.Cột

Cột cao không có chạm khắc nhưng một thời đã có tranh vẽ phủ kín.

.Trần

Che kín bởi các tranh trang trí hình học, hoa lá, muông thú. Nhìn chung có cảm tưởng như một vòm lọng rạng rỡ.

.Tường

Tường có các tranh và khắc chạm nổi tiếng diễn tả các truyện Tiền Kiếp Phật, các truyện ngụ ngôn, các giai đoạn khác nhau của đời sống Phật.

Lưu Ý.

Xin nhắc lại khi đi vào một kiến trúc thờ phượng Phật giáo ta phải khởi sự đi từ phía bên trái, phía âm, đi theo chiều kim đồng hồ tức chiều âm. Phật giáo là tôn giáo Vũ trụ có khuôn mặt Vũ mang tính trội (khuôn mặt trụ mang tính thứ yếu) nên Phật giáo mang âm tính trội. Phật giáo là một tôn giáo mang tính Tĩnh (âm). Một vài ví dụ sau đây cho thấy rõ điểm này là trong các kiến trúc thờ phượng Phật giáo được xếp đặt theo cùng chiều kim đồng hồ tức chiều âm, khi hành lễ phải đi theo cùng chiều kim đồng hồ; chữ vạn trên ngực Phật có cánh tay (chữ vạn) phía trên hướng về phía tay trái, ở thủ ấn Chuyển Bánh Xe Pháp, Phật quay bánh xe bằng ngón tay út trái, nhang vòng đốt cháy theo chiều kim đồng hồ…

Ta phải đi vào phía bên trái và đi theo chiều kim đồng hồ tức chiều âm. Sau đây là một số các tranh tường chính yếu:

-Phật đàm luận với Nanda.

Tranh diễn tả theo truyền thuyết nói về sự đàm luận giữa Phật với Nanda, người anh em cùng cha khác mẹ với mình.

clip_image004

Phật đàm luận với Nanda (nguồn: Wikipedia).

Câu chuyện diễn tả một trong hai phiên bản chính của truyền thuyết Nanda trong truyền thống Phật giáo. Phiên bản trong đó Nanda muốn sống theo một cuộc sống chìm đắm trong nhục dục với một người nữ mới cưới. Phật đã dẫn Nanda lên cõi trời và rồi xuống địa ngục cho thấy rõ cái nguy hiểm của cuộc đời chìm đắm vì đam mê dục vọng.

-Các vị Phật Manushi.

Tiếp đến là các vị Phật Manushi.

clip_image006Phật Manushi (nguồn: Wikipedia).

Phật Manushi là ai? Manushi có gốc Phạn ngữ manu-, con người đầu tiên trên mặt đất; manu- h, người, loài người, cha đẻ loài người; gốc tái tạo PIE (Tiền Ấn-Âu Ngữ) *man(u)-, người, đấng, người sinh thành, sinh tạo; con cháu, dòng dõi… liên hệ với Man, Mán, Mường, Môn, Anh ngữ Man có nghĩa là Người. Phật Manushi là những vị Phật Người thế gian, thực sự sinh ra ở nhân gian rồi tu hành thành Phật, như các vị Cổ Phật và Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni. Manushi khác với các vị Phật Dhyani (Thiền Na Phật) là những vị Phật chỉ có trong kinh điển không thực sự giáng thế, xuống làm người trước khi thành Phật.

Phật Manushi là Phật Người Trần gian, Người Thành Phật.

-Truyện Bồ tát Voi (Bodhisattva Hasti).

Khi biết được một số người đang chết đói. Voi (Hasti) (Phạn ngữ hasti là con voi) bảo họ đi xuống dưới chân vách đá thì tìm được thực phẩm. Voi hy sinh nhẩy xuống vách đá chết để cung cấp thực phẩm cho họ, giúp họ khỏi chết đói.

-Hoàng tử Sutasoma.

Hoàng tử Sutasoma (soma là mặt trăng, hoàng tử Sutasoma có mặt tròn như mặt trăng) một hôm đang tiếp chuyện một đạo sĩ sư phụ Nanda thì bị một con quỉ ăn thịt người bắt cóc. Trước khi bị ăn thịt hoàng tử xin một điều ân huệ là được gặp lại thầy Nanda để nghe nốt bài Pháp và dâng tặng ngài một lễ vật rồi trở về để quỉ ăn thịt mình. Quỉ bằng lòng. Hoàng tử giữ lời hứa sau khi gặp Nanda xong quay trở lại gặp quỉ. Sự trung thực, giữ đúng lời hứa dù bị chết của hoàng tử đã cải hóa được quỉ ăn thịt người.

-Phép mầu Sravasti Ngàn Phật như đã nói ở trên.

-Giấc mơ của Hoàng hậu Maya như đã nói ở trên.

-Truyện Trapusha và Bhallika.

Trapusa (Lê Phú Bà ) và Bahalika (Bhallika, Bạt Lê Ca) là hai trong năm vị đệ tử đầu tiên của Phật Tổ. Hai vị đã dâng Đức Phật bữa ăn đầu tiên khi ngài thành đạo. Huyền Trang cho rằng Phật giáo được hai vị này đem truyền qua Trung Á.

-Cảnh đời Phật Tổ. Trong đó có cảnh:

.Vua và Hoàng hậu cố thuyết phục Thái tử không nên đi tu.

.Cảnh hoàng cung và Thái tử Siddhartha (Tất Đạt Đa) từ bỏ đời sống vương giả quyết tâm đi tu.

clip_image008Cảnh hoàng cung khi Thái tử quyết định từ bỏ ra đi tu (nguồn: Wikipedia).

.Công Chúa Ngất Xỉu.

Một bức tranh tường nổi tiếng được cho là một tuyệt tác phẩm nghệ thuật diễn tả vợ Nanda ngất xỉu (Dying Princess) khi nghe tin chồng dứt bỏ đời vương giả đi tu.

clip_image010Công chúa ngất xỉu (Tài liệu Hướng Dẫn Du Lịch).

Bức tranh cho thấy rõ nỗi sầu đau vô cùng tận của công chúa. Bà ngồi ngất đi đầu ngả xuống và những các tỳ nữ với khuôn mặt âu lo, căng thẳng.

.Đạo sĩ tiên tri Asita.

Phật khi mới sinh ra, đạo sĩ tiên tri Asita (phiên dịch là A Tư Đà) tiên đoán ngài sẽ trở thành nhà lãnh đạo tôn giáo tối cao là Phật Tổ.

.Nàng Sujata dâng cơm-sữa.

Người thiếu nữ tên Sujata (Tu-Xà-Đa) dâng tặng cơm-sữa (kheer) cho Phật bỏ vào trong bát khất thực.

clip_image012Nàng Sujata dâng tặng cơm-sữa cho Phật bỏ vào trong bát khất thực (nguồn: Wikipedia).

Trong việc đi tìm chân lý, Phật trải qua nhiều phương cách trong đó có cách tu khổ hạnh, khổ hình. Cuối cùng ngài nhận thấy khổ hạnh chỉ làm tổn hại mình, không ích gì. Nàng Sujata là người đầu tiên dâng Phật thức ăn ngay sau khi ngài quyết định chấm dứt tu khổ hạnh.

.Đức Phật thiền định lần đầu tiên trong Lễ Cầy Ruộng.

Khi lên 9 tuổi Thái tử Siddhartha đi dự Lễ Cầy Ruộng đầu năm của vua cha. Nhìn thấy cảnh người nông phu làm việc nặng nhọc, con trâu cực khổ, lưỡi cầy giết chết giun dế, rồi lũ chim bay tới ăn thịt chúng, ngài bỏ ra ngồi ở dưới gốc Diêm Phù trầm tư, suy tưởng, một hình thức thiền định sau này.

Xin nói một chút về ngôn ngữ học để tìm hiểu xem cây Diêm Phù là cây gì?

Các học giả Phật giáo gọi cây Diêm Phù là gọi tên theo Trung Quốc phiên âm từ Phạn ngữ jambu, cây doi, cây mận Mỹ Tho (rose-apple tree). Theo j = ch như Java = Chà và (Miền Nam có người Chà Châu Giang gốc Java), Pháp ngữ jambre = chân, cẳng, Anh ngữ jert (cà) giựt = Việt ngữ (cà) chớn, jar = chum (ở Lào có Cánh Đồng Chum, Fields of Stone Jars)…, ta có jam- = châm, trâm. Cây doi, cây vối, cây lý cùng họ cây trâm. Anh ngữ jambosa, Pháp ngữ jambosier, Thái ngữ champoo ruột thịt với Phạn ngữ jambu. Miền Bắc gọi là doi, theo d=v, doi = vối. Cây doi cùng một họ nhà cây vối.

Tại sao Miền Nam gọi là cây mận? Một số tên cây trái Việt Nam được gọi tên theo mầu sắc như quả đào có mầu đào, quả hồng có mầu hồng, mít có múi mầu vàng (mít ruột thịt với Phạn ngữ pità, mầu vàng), quả mần quân (mùng quân, mồng quân, bồn quân) có mầu mân (tím), rau mần tơi (mồng tơi) có quả tím và quả mận có mầu mân (tím). Như thế Miền Nam gọi doi là mận là gọi theo một loại doi có mầu tím đỏ (đôi khi để phân biệt gọi là mận Mỹ Tho). Trái trâm cũng có mầu tím. Kiểm chứng với Phạn ngữ ta cũng thấy Phạn ngữ jambula chỉ một loại mận có mầu tím đen.

जम्बुल m. n. jambula black plum [jambula].

Ta thấy trong các sách vở Phật giáo dùng từ Diêm Phù phiên âm theo Phạn ngữ jambu (giống như hàng ngàn các từ khác) bác học quá, tại sao không nói nôm na là cây trâm, cây doi, cây mận Mỹ Tho cho dễ hiểu. Tôi học các danh từ Phật giáo bằng tiếng nôm na mách qué dựa vào chữ Phạn rất dễ hiểu và dễ nhớ. Trong vườn nhà có cây doi tím đỏ, dưới để một pho tượng Phật ngồi thiền. Mỗi lần ra vườn đều nhớ tới Phật ngồi thiền lần đầu tiên lúc 9 tuổi dưới gốc cây doi trong buổi Lễ Cầy Ruộng đầu năm của vua cha mà thấy lòng mình an bình.

.Phật tại trường học.

-Tiên nữ mây mưa bay ( flying apsara) và tín hữu bay (flying votaries).

Một bức tranh rất nổi tiếng cũng cần nói tới ở đây là tiên nhữ mây mưa đang bay:

clip_image014Một tiên nữ mây mưa đang bay (nguồn: Tài liệu Hướng Dẫn Du Lịch).

Các tua vòng cổ và trang phục đầu ở trước trán bay theo chiều gió cho thấy tiên nữ này đang bay. Trang phục đầu thêu rất đẹp. Cặp mắt mơ màng, môi chum chím, ngực no tròn… quả thật đây là một họa phẩm kiệt tác.

Đặc biệt nhất cùng nhóm tiên nữ bay này cũng có cả tượng đá hai tín hữu bay.

clip_image016Tín hữu bay. Người nữ cầm hoa dâng Phật (500 Sau Dương Lịch) (Tài liệu Hướng Dẫn Du Lịch).

Lưu ý hai người này thân và nhất là hai chân ở dáng thế gió tạt diễn tả đang bay mặc dù không có cánh như các thiên thần của Thiên Chúa giáo. Trang phục đầu người nữ có vành khăn giống như phụ nữ Việt Miền Bắc vấn khăn (đôi khi có độn khăn hình con rắn). Vành khăn tròn là từ ngữ chữ nòng nọc vòng tròn-que hai vành tròn OO đồng tâm có một nghĩa thái âm (âm của âm), nước, nữ. Phụ nữ Việt vấn khăn thuộc dòng nước, Rắn Lạc Long Quân. Vành tròn nòng O cũng có một khuôn mặt biểu tượng cho lỗ sinh dục nữ. Người nam có trang phục đầu hình chỏm tròn. Nhìn theo duy dương tức dương của âm tức thiếu âm khí gió thì chỏm tròn có hình túi (như mũ bù đài). Nhìn theo nhánh nọc, dương thì chỏm tròn mang hình ảnh qui đầu có một nghĩa là nọc, đực, nam. Hiện nay giải thích là hai tín hữu bay. Thật ra nhìn dưới lăng kính vũ trụ giáo, đây là hai chư thần nam nữ nhà trời, người nhà trời (vì bay được). Đây là hình bóng hai thần tổ nam nữ của loài người như thần Nõ và Thần Nường của nhiều bái giáo (pagan), Phục Hy Nữ Oa, Adam Eva, hai anh em sinh đội Nhật Bản Izanagi Izanami…

Hai thiên thần mang hình ảnh hai thần tổ loài người bay đến chiêm bái Phật.

Vân vân…

-Chính điện

Có tượng Phật ngồi trên bệ sư tử ở dáng thế thanh tao “Bhadrasana” (bhadra nghĩa là Auspicious hay Gracious và asana dáng, thế, trong yoga gọi là thế ngồi bươm bướm) với thủ ấn Chuyển Bánh Xe Pháp. Có lối đi vòng quanh bệ Phật. Hai bên có Bổ tát cầm cây que đuổi ruồi và các thiên nữ đồng trinh cầm vòng hoa. Tượng này manh hình ảnh tượng Phật ở Vườn Nai Sarnath.

Tóm Lược.

Hang này là một bộ sách đá ghi lại các truyện Tiền Kiếp, Đời Sống, giáo lý Phật giáo diễn tả bằng các tranh vẽ, điêu khắc vào hạng tuyệt tác phẩm nghệ thuật.

Hang cũng ghi lại niên đại qua những hàng chữ khắc cho biết đây là quà tặng của Varahadeva, người thừa hành vua Harishena của Đế quốc Vakataka (475-500 Sau Dương Lịch). Varahadeva là người theo cả Phật giáo và Ấn giáo nên ta thấy có sự pha trộn một ít Ấn giáo vào Phật giáo ở đây. Có lẽ ông đã cải đạo Ấn giáo qua Phật giáo vì các yếu tố Ấn giáo không đậm nét nhiều.

HANG SỐ 17.

clip_image017(nguồn: Wikipedia).

Đây cũng là một tu viện huy hoàng được trang trí với các hình vẽ tuyệt vời. Các bích họa ở hang động này kỳ diệu và còn giữ được nguyên vẹn. Có rất nhiều tuyệt tác phẩm và đa dạng.

-Hàng hiên.

Tường trái của hàng hiên có tranh thần Indra và các tiên nữ mây mưa xuống thế gian cung nghinh Đức Phật Tổ. Các tiên nữ với những đường cong lả lướt, gợi cảm.

clip_image019

Indra cũng là thần giám hộ của Phật giáo.

Điểm Indra từ trời xuống thế gian cung nghinh Phật này cho thấy Phật giáo đang ở vào thời kỳ cực thịnh, ngự trị Ấn giáo.

-Phòng Cột.

.Cột

Có 20 cột, mỗi cột một kiểu khác biệt.

.Trần hang.

Trần trang hoàng kín bởi các tranh hoa và các motifs thú vật. Cả trần trông như một chiếc lọng tuyệt đẹp.

.Tường

Hang có 30 tấm bích họa chính vẽ về nhiều khía cạnh. Ví dụ như:

Tranh về giáo lý Phật giáo.

.Ngay lối vào có 7 tượng Phật. Từ trái sang phải là: Vipasyin (Tỳ Bà Thi), Sikhin (Thi Khí), Visvabhu (Tỳ Xá Phù), Krakuch Chhanda (Câu Lưu Tôn), Kanakamuni (Câu Na Hàm Mâu Ni), Kasyapa (Ca Diếp), Sakyamuni (Thích Ca Mâu Ni) và Maitreya (Di Lặc).

Đây là những vị Phật quá khứ, hiện tại và tương lai:

-Phật quá khứ: Vipasyin, Sikhin, Visvabhu, Krakuch Chhanda, Kanakamuni, Kasyapa,

Sakyamuni (Thích Ca Mâu Ni).

-Hiện tại: Phật Thích Ca cũng được coi là đại diện cho Phật hiện tại, lịch sử.

-Phật tương lai: Maitreya (Di Lặc).

Hiện Phật Di Lặc thay thế Phật Thích Ca cai quản cõi trời Tusita (Đâu Suất), ngài sẽ xuống thế gian 4.000 năm sau khi Phật Thích Ca nhập Niết Bàn (cách đây chừng 2.500 năm).

Có cả Bồ tát Quán Thế Âm Avalokiteshvara (ở đây là phái nam).

.Bên trái có tượng Phật đứng trước vợ con.

clip_image021(Tài liệu Hướng Dẫn Du Lịch).

Truyện diễn tả cảnh Phật sau mười hai năm trở về Kapilavastu (Ca Tỳ La Vệ) để gặp vợ Yashodara (Da Du Đà La) và con là Rahul (La Hầu La).

Lưu Ý.

Phật ở đây mặc áo mầu cam đơn giản của một vị chân tu (không giống các áo thời trang của một số hòa thượng ngày nay). Phật được diễn đạt là người to lớn khác thường trong khi vợ con như hai người lùn.

Ta thấy rõ đây là Phật giáo Đại thừa. Phật đã được tôn vinh là một siêu nhân (to lớn) trong khi vợ con là người thường nhỏ bé.

.Bánh Xe Đời Sống (Bhavachakra).

Bánh xe khổng lồ gọi là Bánh Xe Đời Sống hay bánh xe luân hồi vì diễn tả các kiếp, các giai đoạn của đời người.

Tranh lịch sử.

Hoàng tử Simhala thám du tới Sri Lanka.

Tranh truyện Tiền Kiếp của Đức Phật.

Hang có rất nhiều truyện Tiền Kiếp của Đức Phật.

.Trên tường bên phải của hàng hiên là cảnh thuần hóa voi nổi điên và Devadatta, người họ hàng quỉ quyệt và ghen tị với sự nổi tiếng của Phật.

.Truyện Tiền Kiếp Bồ tát Vessantara (Tu Đại Noa) bố thí vợ con.

.Truyện Tiền Kiếp Bồ tát Mahakapi, Vua Khỉ ở Benares. Bầy khỉ sống nhờ một cây xoài bên một dòng sông. Vua xứ này muốn chiếm giữ cây xoài và giết bầy khỉ. Bồ tát Vua Khỉ (tiền thân Phật) dùng thân mình làm cầu giúp bầy khỉ trốn được qua sông…

.Truyện Tiền Kiếp Thái tử Sutasoma (đã nói ở trên).

.Truyện Tiền Kiếp Bồ tát Voi Hasti như đã biết.

.Truyện Tiền Kiếp Bồ tát Shaddanta Voi Sáu Ngà cho đi sáu ngà của mình.

Bồ tát Voi Sáu Ngà Shaddanta có Shad- có gốc Sas là 6 ruột thịt với Việt ngữ sáu, Anh ngữ six và -danta ruột thịt với Việt ngữ dăng, Anh ngữ dent- là răng như dentist, nha sĩ, ở đây là răng voi tức ngà. Shadhdanta và Voi Sáu Ngà.

Bồ tát sinh ra ở dạng một con Voi Sáu Ngà làm vua ở một xứ nọ có hai hoàng hậu là Mahasubhadda và Chullasubhadda. Một hôm đùa giỡn với hai hoàng hậu. Vua Voi Sáu Ngà rung cây làm rụng hoa lá lên người hai hoàng hậu. Phấn hoa bám bẩn người hoàng hậu Chullasubhadda và bà ghen tuông cho rằng vua cố ý ghét mình nên bỏ đi và chết trong rừng. Bà hóa kiếp thành hoàng hậu một vua tại xứ Benares và vẫn nhớ oán hận Vua Voi Sáu Ngà nên xúi vị vua này tìm các nhổ lấy sáu ngà của Shaddanta. Vua Benares sai một vị tướng giả dạng một tu sĩ đến đào hố bẫy. Voi Sáu Ngà rơi xuống hố bẫy lúc đầu vẫn chống cự kịch liệt lại vị tướng nhưng sau thấy ông ta mắc áo tu sĩ nên cúi đầu khuất phục chịu chết. Vị tướng thấy vậy nói với Voi là chỉ cần có được sáu chiếc ngà chứ không muốn giết voi. Voi bèn tự cắt sáu ngà đưa cho vị tướng. Nhưng khi hoàng hậu có tiền kiếp là Chullasubhadda thấy sáu chiếc ngà bà chết dần trong sầu khổ…

.Truyện Hamsa (Đàn Ngỗng).

Và còn nhiều các truyện khác như truyện Udayin, Gupta, Sarabhamiga, Machchha, Matiposaka, Shyama, Mahisha, Valahassa, Sibi, Ruru và Nigrodamiga.

Tranh chư thiên.

.Dưới các tượng Phật là tượng tám cặp nam nữ ở tư thế ngồi khác nhau.

.Phía tay phải gần cửa vào là hình tiên nữ mây mưa đang bay (flying apsara).

Tranh về đời sống thường ngày.

Cảnh đắm thuyền, công chúa trang điểm, các cặp tình nhân, cảnh uống rượu…

-Chính điện.

Có tượng Phật ngồi ở thế hoa sen padmasana với thủ ấn Chuyển Bánh Xe Pháp, bên dưới có hình hai con nai chầu.

Tóm lại

Hang động này có nói thêm về các vị Phật của quá khứ, lịch sử, tương lai.

Thật sự có hằng ha sa số Phật đây chỉ là những vị Phật tiêu biểu, đại diện. Con số hằng hà sa số vị Phật giáo cũng giống con số 330 triệu thần linh Ấn giáo đều có nghĩa theo con số của vũ trụ tạo sinh, dịch học…

Ta cũng thấy Ấn giáo ở đây phục tùng Phật giáo qua tranh vẽ thần vũ trụ Indra của Ấn giáo xuống trần gian cung nghinh Đức Phật Tổ.

Đặc biệt hang này là một quyển tự điển bách khoa Phật giáo của thư viện đá Ajanta.

HANG SỐ 18.

Hang nhỏ hình chữ nhật có hai cột bát giác nối với một phòng khác. Nhiệm vụ của hang không rõ (nhưng vì có hình chữ nhật tôi xếp vào nhóm Tu Viện).

HANG SỐ 20.

Được làm vào thế kỷ thứ 5 tương đối kém so với hang 17 và 19.

clip_image023Mặt tiền hang 20 (nguồn: trawell.in).

-Hàng hiên.

Hàng hiên có các cột chạm khắc rất đẹp với hình người nữ quyến rũ, có hai tượng Phật ở trên hai cửa sổ và có các phòng bên. Ở đây có khắc chữ Phạn dạng cổ Brahmi gọi hang này là một mandapa (đền, lều, trại lễ hội)…

-Phòng chính.

Không có cột, có bốn phòng ở.

.Trần còn các dấu vết của tranh vẽ.

.Tường

Có hình và trang trí tương tự như ở hang 17 và 19.

Tuy nhiên có những trang trí mới lạ như Đức Phật ngồi dựa vào gối tựa, sau có cây xoài trĩu quả…

-Chính điện lấn ra ngoài phòng chính, có cột, có tượng Phật với thủ ấn Chuyển Bánh Xe Pháp.

Hai bên chính điện có hai tượng hộ pháp Nagarajas.

Trên linh kiện có bẩy vị Phật cùng các phụ thần.

HANG SỐ 21.

Tu viện là hang thứ nhất ở phía sau thác nước vào mùa mưa.

clip_image025(nguồn: Wikipedia).

Hàng hiên có 12 cột và các cột dính tường (pilasters). Các cột có chạm nổi tiên nữ mây mưa apsara, thần rắn Nagaraja và Nagarami cùng với các tín hữu chắp tay lậy. Các cột dính tường có thú và hoa.

Phòng chính có 12 phòng ở cho tu sĩ.

Phòng còn các dấu vết cho biết trước đây có tranh vẽ.

Chính điện có tượng Phật với thủ ấn Chuyển Bánh Xe Pháp.

HANG SỐ 22.

Ở trên cao phải dùng các bậc cấp đi lên.

Hàng hiên hẹp.

Trên cột dính tường bên trái có khắc chữ Phạn cho biết hang này là quà tặng của gia đình Jayata…

Phòng chính.

Có tranh các Phật sinh cõi nhân gian (Manushi) cùng với Phật Di Lặc Maitreya.

clip_image027(nguồn: Wikipedia).

có bốn phòng ở chưa hoàn thành.

Chính điện.

Phật ngồi theo thế chân buông xuống đất gọi là dáng thế pralamba-padasana (giống ngồi ghế kiểu Tây phương).

HANG SỐ 23.

Chưa hoàn tất xong.

Hàng hiên có cột chạm khắc tinh xảo.

Phòng chính không có cột đứng riêng rẽ chỉ có các cột dính vào tường (pilasters). Trên một cột này bên phải có hình thủy quái lưỡng thế makara (nửa thân phía đầu là một thú sống trên đất, nửa thần sau sống dưới nước) nổi bật.

Có các phòng ở.

Có chính điện.

HANG SỐ 24.

Hang chưa hoàn tất xong, lớn thứ nhì sau hang số 4.

clip_image028(nguồn: Wikipedia).

Hàng hiên có cột, có phòng nguyện ở đầu bên trái.

clip_image030Bên trong đang còn làm dang dở (nguồn: Wikipedia).

clip_image032Hình cột đang làm có những cặp tình nhân (nguồn: Wikipedia).

Bên trong còn làm dang dở.

Chính điện có tượng Phật ngồi ở thế chân buông xuống ở dáng thế pralamba-padasana, hai bên có các phụ thần và chư thần bay.

Đây có lẽ là hang được làm sau cùng vì còn dang dở. Hang này là một chứng liệu bằng vàng cho các nhà khảo cổ. Hang giúp cho thấy một hang được thực hiện như thế nào. Hang được đục, khoét, chạm chia ra làm nhiều vùng do các nhóm thợ khác nhau phụ trách song song với nhau cùng một lúc.

HANG SỐ 25.

Hang ở trên cao là một tu viện, hàng hiên có cột có hai phòng nguyện ở hai đầu. Phòng chính không có cột, không có phòng ở và không có chính điện.

B. NHÓM HANG ĐỘNG TU VIỆN PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY.

Hang động Phật giáo Nguyên thủy tất nhiên khác với hang động Phật giáo Đại thừa từ cấu trúc cho tới trang trí. Cấu trúc đơn giản thường không có phòng cột và chỉ có phòng ở, không có điện thờ và tượng Phật. Trang trí đơn sơ dĩ nhiên không có ảnh tượng như các Bồ tát, chư thiên… của giới trung gian giữa Phật và con người của Phật giáo Đại thừa.

HANG SỐ 12.

Theo các nhà khảo cổ học đây là hang tu viện Phật giáo Nguyên thủy vào thời kỳ đầu từ thế kỷ thứ 2 tới thế kỷ thứ nhất Trước Dương Lịch.

Tường trước mặt tiền bị sụp đổ hoàn toàn.

clip_image033 clip_image034Sơ đồ mặt bằng và phòng chính (nguồn: Wikipedia).

Phòng chính không có cột và có 12 phòng ở, mỗi phòng ở có hai giường đá. Cửa phòng ở trang trí hình vòm móng ngựa.

Không có điện và tượng Phật.

HANG SỐ 13.

Hang tu viện Phật giáo Nguyên thủy này được biết đến nhiều vì có các tranh tường và trang trí.

clip_image035(nguồn: indianetzone.com).

Mặt tiền bị hủy hoại bởi năm tháng, thời tiết. Phòng chính không có cột còn thấy các dấu tích tranh vẽ và trang trí. Quanh phòng có bẩy phòng ở tại ba phía, mỗi phòng ở có hai giường đá. Phòng chỉ dùng cho tu sĩ ở. Cửa phòng ở trang trí hình vòm móng ngựa như các hang Phật giáo Nguyên Thủy khác.

Không có điện và tượng Phật.

HANG SỐ 15A.

Hang nhỏ nhất trong quần thể.

clip_image037(nguồn: commons.wikipedia.org).

Cổng vào ngay bên phải của cổng voi hang 16.

clip_image038Mặt tiền (Nguồn: indianetzone.com).

Mặt tiền có vòm tương tự như kiến trúc thờ tự chaitya. Đây là điểm hoàn toàn khác biệt với mặt tiền các tu viện Đại thừa. Đây cũng cho thấy có sự tiến hóa từ các hang tu viện Phật giáo Nguyên thủy qua các hang thờ phượng Phật giáo Đại thừa.

Phòng không có cột chỉ có ba phòng ở tại ba mặt phòng chính. Cửa phòng ở trang trí với các hình vòm cung hình móng ngựa.

Có một bản khắc chữ đã bị mòn mất.

Không có điện và tượng Phật.

Đây là một hang tiểu thừa loại rất cổ.

(Còn nữa)

Xem tiếp Nhóm Hang Kiến Trúc Thờ Tự (Chaitya).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: