ẤN ĐỘ: HANG ĐỘNG PHẬT GIÁO AJANTA, Ở AURANGABAD, Phần 2.

.(*nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

.Phải tuân thủ luật tác quyền copyright.

 

ẤN ĐỘ: HANG ĐỘNG PHẬT GIÁO AJANTA, Ở AURANGABAD.

(Phần 2).

Nguyễn Xuân Quang.

Chúng ta đã đi qua hang số 1 là hang Tu Viện cổ nhất, có nghệ thuật điêu khắc và hội họa tinh vi, tuyệt phẩm nhất. Những hang động Tu Viện còn lại (24 hang: 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 11, 12, 13, 14, 15, 18, 17, 18, 20, 21, 22, 23, 24, 25), tôi chỉ nói tới các điểm đặc thù chính mà thôi. Xin nhắc lại bố cục bài viết để nắm vững vấn đề. Tôi chia các hang động ra làm hai nhóm: Nhóm Tu Viện (Vihara) và Nhóm Nơi Thờ Tự (Chaitya). Nhóm Tu Viện lại chia ra hai nhóm nhỏ: Hang Động Tu Viện Đại Thừa và Hang Động Tu Viện Nguyên Thủy.

I. Nhóm Tu Viện.

A. Nhóm Hang Động Tu Viện Đại Thừa.

a. Hang Số 1.

Đã nói ở phần 1.

b. Hang Số 2.

clip_image001Mặt tiền hang số 2 (nguồn: Wikipedia)

Hang được làm vào thế kỷ 6-7 Sau Dương Lịch nổi tiếng nhờ các tranh vẽ hãy còn ở tình trạng tốt.

Vì cùng là hang Đại Thừa nên có cấu trúc giống hang số 1 với biến đổi chút ít. Như đã nói ở trên, một Tu Viện Đại Thừa gồm có sân lộ thiên, hàng hiên, phòng cột (là nơi hội họp, ngồi học, tu tập, thiền định), chính điện thờ Phật và hai bên là các phòng dùng làm chỗ ở, nghỉ ngơi.

clip_image003Sơ đồ mặt bằng hang số 2 (nguồn: John D. La Plante, Asian Art). Cổng vào ở phía trên.

-Sân lộ thiên.

clip_image004

-Hàng hiên.

clip_image005

Sự khác biệt là ở đây hàng hiên có hai trụ lớn và hai bên có hai tiền phòng làm nhà nguyện.

Trần hiên có tranh vẽ và điêu khắc nổi tinh xảo:

clip_image007Tranh vẽ trên trần hàng hiên (ảnh của tác giả).

Một bên nhà nguyện, trên có điêu khắc truyện Tiền Kiếp Vidhurpandita, Vua Naga ngồi ở trung tâm.

clip_image009Điêu khắc truyện Tiền Kiếp Vidhurpandita Vua Naga ngồi ở trung tâm (ảnh của tác giả).

-Phòng Cột.

clip_image011Phòng Cột (nguồn: Wikipedia)

clip_image012

Cũng giống ở hang số 1 phòng hình vuông.

Lưu ý.

Tu viện thuộc cõi nhân gian nên phòng chính có mái và nền thường bằng, hình vuông vì hình vuông có một khuôn mặt biểu tượng cõi đất bằng, đất vuông âm thái dương (hình vuông là dạng thái dương của nòng vòng tròn) như bánh dầy có một khuôn mặt biểu tượng trời tròn và bánh chưng vuông có một khuôn mặt biểu tượng đất bằng vuông.

Trong khi Nơi Thờ Tự Chaitya thờ phượng Phật, Bồ Tát, Chư Thiên nên có mái vòm và nền mặt bằng cũng có đầu cong hình vòm diễn tả cõi thượng thế, cõi trời (xem dưới).

Cột.

Phòng có 12 cột. Con số 12 cột là con số Cấn (đất âm, non) tầng 2 (4, 12) xác thực phòng biểu tượng cõi đất bằng thế gian.

Lưu ý các con số cột mang cùng ý nghĩa trong vũ trụ tạo sinh, dịch học giống như con số các nọc tia sáng của mặt trời trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn.

Cột và đầu cột chạm khắc và vẽ hình mầu diễn tả các trang trí hình học, hoa lá, người, bán thần nhân, thú vật…

.Trần

clip_image014Chủ thể của trang trí thần là các mandala tròn (ảnh của tác giả).

Trần vẽ kín các tranh trang trí. Đặc biệt có chủ thể chính là các mandala (mạn đà la) tròn diễn tả cấu trúc đại và tiểu vũ trụ (giống như mặt một vài trống đồng). Phần ở tâm diễn tả cõi tạo hóa: chấm đen ở trung tâm có một khuôn mặt là hư vô, vòng tròn tiếp quanh hư vô là không gian, vòng tròn thứ ba là mặt trời. Ba vành ngoài diễn tả tam thế.

Điểm này cho thấy ta phải nhìn Phật giáo dưới lăng kính vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo mới hiểu thấu triệt được giáo lý Phật. Ở đây các mandala tròn cho thấy ‘tâm’ Phật là vũ trụ.

Ngoài ra điểm đáng chú ý nữa là trần phòng cột cũng vẽ cảnh một số người ngoại quốc:

clip_image016Hai người ngoại quốc đang uống (nguồn: Wikimedia commons).

Nhiều người trông giống người Ba Tư thấy qua các bộ râu cằm và râu mép, khăn quấn và quần áo. Điểm này cho thấy vào thời này đã có giao lưu với Trung Đông và Phật giáo đã tới Trung Đông, Ả Rập.

.Tường

Tranh tường diễn tả các kinh truyện Tiền Kiếp Phật Jataka. Jataka gốc là bộ kinh-truyện, ghi lại các truyện tiền kiếp của chính bản thân Phật mà Phật thường dùng để thuyết pháp, giảng dậy triết lý Phật giáo. Jataka gốc Jati có nghĩa là sanh, nòi giống, chủng loại, phả hệ, tộc phả…. Jati ruột thịt với Việt ngữ Dạ (túi, bao như dạ con, dạ dầy; đẻ như “vợ quen dạ đẻ cách năm đôi’, con dạ (sau con so); mẹ như Dạ Dần là Mẹ (loài) Người của Mường. Có tác giả dịch là Bổn Sanh. Bổn sanh  không lột hết được nghĩa tiền kiếp.

Một vài truyện chính như:

-Hamsa (Đàn Ngỗng).

-Vidhurapandita (Hiền Nhân Hùng Biện Vidhura) và Vua Rắn Naga.

clip_image018Công chúa Rắn Irandati ngồi trên chiếc đu (Tài liệu Hướng dẫn Du Lịch).

-Phép Mầu Sravasti (Ngàn Tượng Phật).

Tranh diễn tả cảnh Phật biến hóa Phép Mầu Shravasti thành Ngàn Vị Phật.

clip_image020Tranh Ngàn Vị Phật (ảnh của tác giả).

Nên nhớ con số ngàn là con số dịch học có nghĩa là muôn ngàn, vô số kể.

-Bồ tát Avalokiteshvara Tám Tay Ashtabhaya [asta là 8, ruột thịt với Anh ngữ eight, 8, octave, bát độ; octopus, 8 chân, bát túc (nói sai thành bạch tuộc)]; ab- là không ví dụ như abnormal, không bình thường, tương tự như Việt ngữ a, á là không như á khẩu là không nói được và –haya chính là Việt ngữ hãi, sợ hãi. Bồ tát Avalokitesvara Tám Tay giúp không sợ hãi (an tâm) và che chở 8 thứ con người sợ hãi, trong đó có việc đi biển (các thuyền nhân thường cầu Phật Bà cứu giúp khi đi biển).

-Giấc mơ của Hoàng hậu Maya và cảnh sinh Đức Phật Tổ.

Nhưng đặc biệt nhất là tranh vẽ giấc mơ Voi Trắng Sáu Ngà và cảnh sinh ra Đức Phật của Hoàng hậu Maya. Ở tường bên trái gần cửa phòng số ba có tranh diễn tả cảnh ra đời của Đức Phật Tổ.

clip_image022Tranh tường gồm: phần trên Phật còn ở cõi trời Tusita. Bên phải Ngàn vị Phật và phần dưới là cảnh Hoàng Hậu Maya sinh ra Phật… (ảnh của tác giả).

Cảnh ra đời này chia ra làm hai phần:

-/Cảnh cõi trời Tusita.

Tấm tranh ngay trên khung cửa bên phải diễn tả truyện Tiền Kiếp của Đức Phật lúc ngài còn ở cõi trời gọi là Tusita, Trung Hoa phiên âm là Đâu Suất (thiên). Tusita là cõi, tầng trời, thiên quốc nơi ở của các vị Bồ tát hay Phật tương lai. Nơi đây các vị này sống một đời an lạc, tuổi thọ đến 4.000 năm. Đức Phật lúc này có một khuôn mặt là Bồ tát Svetaketu (Pali: Setaketu “White Banner”) đã qua vòng luân hồi đang lãnh đạo tầng trời Tusita. Bây giờ ngài sẵn sàng tái sinh lần cuối, giáng sinh xuống cõi trần gian thành Phật Tổ tức Phật lịch sử. Tới đúng thời điểm ngài giao phó chức lãnh đạo cõi trời Tusita cho ngài Maitreya (Metteyya, Di Lặc). Phật chọn Hoàng hậu Maya làm Đại Mẫu (Mahamaya).

./Cảnh Phật ra đời.

Tấm tranh bên dưới cuối cùng diễn tả cảnh Hoàng hậu Maya nằm mơ thấy con voi trắng sáu ngà nhập vào người mình rồi bà thụ thai. Các chiêm tinh gia được mời tới đoán điềm giải mộng. Họ tiên đoán rằng hoàng hậu sẽ sinh ra một hoàng nam với đủ các tướng khác thường của một bậc vĩ nhân. Nếu hoàng tử chịu nối nghiệp đế vương của vua cha thì ngài sẽ thành một vị Đế của tất cả các Vương. Còn nếu ngài đi vào cuộc đời khổ hạnh, ngài sẽ thành Phật.

Cũng xin nhắc lại, vì vậy mà voi có một khuôn mặt biểu tượng cho Phật giáo. Cảnh voi Phật giáo bị sư tử Ấn giáo ngự trị thấy rõ trong các đền thờ Ấn giáo dọc theo dòng thời gian của thời kỳ Ấn giáo phục hưng trở lại.

clip_image024clip_image026Hoàng hậu sinh ra Đức Phật ở vườn Lâm Tỳ Ni (ảnh của tác giả và Wikipedia).

Vì hang có cảnh ra đời của Phật nên hang này cũng được gọi là Hang Phật Sinh.

Tóm lại phần trên bức tranh là cảnh Phật còn ở dạng Bồ tát sống ở cõi trời an lạc Tusita. Dưới là cảnh Phật giáng sinh xuống cõi nhân gian.

….

Mỗi bên có 5 phòng ở nhỏ.

-Tiền phòng và Chính điện.

Tiền phòng, chánh điện có thêm hai điện nhỏ hai bên.

clip_image027

Chánh điện có pho tượng Phật khổng lồ với thủ ấn, dấu hiệu tay Chuyển Bánh Xe Pháp. Hai bên có Bồ Tát và các thiên nữ đồng trinh (celestial nymphs).

Bên điện nhỏ phía tay phải có tượng yaksha (thần linh bảo vệ thiên nhiên, trong Phật giáo là thần bảo vệ Pháp lý Phật giáo) Shankhanidi và Padmanidi, Thần Phú Quí. Bên phải có tượng Hariti và Panchika. Hariti vốn là một nữ thần bệnh đậu mùa giết hại trẻ em đã được Phật cải hóa thành vị nữ thần bảo hộ mắn sinh, dễ sinh đẻ và bảo vệ trẻ em. Vì thế tượng có một khuôn mặt biểu tượng Tình Mẫu Tử, Thần Mẫu.

-Hậu phòng.

clip_image028

Tóm Lược

Đây là một hang tu viện Đại Thừa được tạo lập vào khoảng 475 hay 477 Sau Dương Lịch.

Các tranh vẽ hãy còn trong tình trạng tốt. Các điêu khác tinh xảo. Hang tu viện này có nhiều tranh ảnh minh họa các truyện Tền Kếp Jataka của Phật Tổ để giảng dậy cho các tu sinh và lưu lại hậu thế. Đặc biệt là tranh về sự giáng thế của Phật Thích Ca từ cõi trời Tusita xuống cõi người.

Trần hang có chủ thể là các tranh vẽ mandala tròn diễn tả đại vũ trụ và tiểu vũ trụ đi đôi với sự ra đời của Phật ở cõi thế gian.

Hang này chú trọng nhiều về phía nòng, âm, nữ như thấy ở hiên có truyện về vua Rắn Naga. Bên trong có nói về Bồ Tát Avalokieshvara Tám Tay, cảnh Hoàng hậu Maya sinh con, thần mẫu Hariti, các khuôn mặt nữ quyền thế, các thiên nữ, vũ công nữ… Vì thế hang được cho là có thể do một vị nữ lưu nào đó của hoàng gia liên hệ mật thiết với Hoàng đế Harisena quản nhiệm hay bảo trợ.

Hang Số 3.

Rời hang số 2 ra ngoài chúng tôi bắt gặp một hình ảnh mang đầy Phật tính. Khỉ ngồi tĩnh tâm. Ở đây là đất thờ phượng Phật khỉ cũng ngồi tĩnh tâm.

clip_image030Khỉ ngồi tĩnh tâm không màng tới sự đời chung quanh (ảnh của tác giả).

Khỉ ngồi nhìn vào cõi xa xăm, khoảng không. Toàn thân thư dãn. Người thẳng đứng, ngực, bụng thở điều hòa. Đặc biệt hai tay buông xuôi, chân và bàn chân duỗi thẳng trông rất buông thả, không còn… khỉ khọn.

Hy vọng kiếp sau khỉ này hóa kiếp thành một lãnh tụ Việt Nam có tâm Phật.

Hang này mới khởi sự được đục, đẽo nên chỉ có các hình trụ hiên hãy còn ở tình trạng mới tạo hình. Hang được cho là bị bỏ dở ngay trước khi Hoàng đế Harisena chết vào khoảng năm 477 Sau Dương Lịch.

Hang Số 4.

Đây là hang tu viện lớn nhất ở Ajanta.

clip_image032Mặt tiền hang số 4 (ảnh của tác giả).

-Hàng hiên

clip_image034Tường hiên có các cặp tình nhân mithuna (ảnh của tác giả).

Đây là một hình ảnh Ấn giáo pha trộn với Phật giáo (xem dưới).

Bên trái có tượng Bồ Tát Avalokiteshvara:

clip_image036Tượng Bồ Tát Quán Thế Âm  Avalokiteshvar (nam), mặt trái soan, người thon gọn, hào quang hình noãn… mang âm tính.

Tay phải bị gẫy nên không biết có cầm hoa sen hay không nhưng bên trái có một đóa hoa tròn với cuống rất dài mọc từ dưới đất lên không biết có phải là đài sen hay không? Xin nhắc lại Bồ tát Avalokiteshvara là một hình tướng của Bồ tát Cầm Hoa Sen Padmapani đã nói ở Hang số 1.

-Phòng Cột

Có 28 cột vuông.

clip_image038(ảnh của tác giả).

Trần phòng cột chưa hoàn tất.

-Chính điện

Tượng Phật với thủ ấn Chuyển Bánh Xe Pháp hai bên có hai vị Bồ Tát rất lớn.

clip_image040

Bên dưới có hình hươu mang hình ảnh cảnh Phật thuyết giảng bài Giáo Lý Đầu Tiên tại Vườn Hươu Sarnath.

Hang Số 5

Hang chưa hoàn tất ngoại trừ cửa vào có trang trí phong phú với các cặp tình nhân và tượng nữ thần sông đứng trên con cá sấu.

clip_image042(nguồn: Tài liệu Hướng Dẫn Du Lịch).

Vị thần nữ đứng trên con cá sấu là hình ảnh vị nữ thần sông Hằng Ganga của Ấn giáo. Điểm này cho thấy Phật giáo và Ấn giáo hòa đồng ở đây. Phật giáo có thể sống chung hòa bình với các tôn giáo khác. Người dân có thể theo cả hai tôn giáo một lúc. Vì thế mà có tác giả cho rằng một số hang động Ajanta đã được các vị vua vốn theo Ấn giáo bảo trợ xây dựng lên. Cũng có thể các vị vua này vốn theo Ấn giáo rồi cải đạo qua Phật giáo. Ở đây cũng cho thấy Phật giáo đang ở vào thời kỳ cực thịnh chưa bị Ấn giáo (khi đã phục hưng lại) thống trị.

Hang Số 6.

Đây là hang tu viện duy nhất có hai tầng.

clip_image043(nguồn: Wikipedia).

Phòng Cột có 16 trụ bát giác chia ra làm bốn hàng.

Tầng trên có tượng Phật tuyệt tác với thủ ấn abhay mudra (mudra of no-fear): Không Sợ Hãi.

clip_image044(nguồn: Tài liệu Hướng Dẫn Du Lịch).

Lòng bàn tay phải ngửa đưa ra trước mặt. Như đã nói ở trên abhay có ab– là không và -hay chính là Việt ngữ hãi. Abhay là không hãi, không sợ hãi. Abhay mudra là dấu hiệu tay không-sợ hãi.

Phòng cột tầng trên có các cột đánh kêu như trống. Bao quanh là các phòng ở nhỏ có cửa chạm chổ tinh vi. Chánh điện tầng trên có tượng Phật ngồi với thủ ấn Chuyển Bánh Xe Pháp.

Trên có các tiên nữ mây mưa (apsaras). Dưới có hình hươu.

Hang Số 7

clip_image045(nguồn: Wikipedia).

-Phòng Cột hình chữ nhật.

Cũng nên biết hình chữ nhật là dạng thiếu dương của vòng tròn trong khi hình vuông là dạng thái dương của vòng tròn. Cả hai đều có một khuôn mặt biểu tượng cho đất chỉ khác tính nòng nọc (âm dương) (Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que và Các Biểu Tượng Hình Học).

-Chính điện có tượng Phật và các phụ thần.

clip_image047(nguồn: Tài liệu Hướng Dẫn Du Lịch).

Ngoài ra tiền phòng còn có cảnh Phép Mầu Saravasti với Ngàn Tượng Phật ngồi trên tòa sen.

clip_image048Tiền phòng: tường bên trái có cảnh Phép mầu Saravasti (nguồn: Tài liệu Hướng Dẫn Du Lịch).

Hang Số 8.

clip_image049

clip_image050Mặt ngoài và sơ đồ mặt bằng (nguồn: Wikipedia).

Hang nhỏ và ở dưới thấp trên tầm mặt sông ngay lối đi giữa hang 7 và 9.

Hang cũng chưa được hoàn tất xong hiện dùng làm kho và để máy phát điện. Có lẽ là một tu viện Đại Thừa sớm nhất ở Ấn Độ (theo Spink).

Hang Số 9

Là một Hang Thờ Tự chaitya.

(xem dưới ở nhóm Hang Thờ Tự).

Hang Số 10

Là một Hang Thờ Tự chaitya.

(xem dưới ở nhóm Hang Thờ Tự).

Hang 11.

Là một trong những Tu viện Đại Thừa sớm nhất.

clip_image051(nguồn: Wikipedia).

Phòng Cột hình vuông.

Chính điện có tượng Phật với tín hữu quì lậy.

Hang 12.

Là hang tu viện Nguyên Thủy.

(xem ở Nhóm Tu Viện Nguyên Thủy ở dưới).

.Hang 13.

clip_image053(nguồn: Wikipedia).

Hang tu viện nhỏ được làm vào thời đầu tiên. Có bẩy phòng ở, mỗi phòng có hai giường đá.

Hang 14.

clip_image055(nguồn: Wikipedia).

Tu viện 14 chưa được hoàn tất, ở phía trên hang tu viện 15.

Hang là một tu viện Đại Thừa, phòng chính không có cột. Khung cửa có chạm khắc một người nữ vặn cành cây Vô Ưu Sala (sala bhanjikas; theo b=v, bhanjika có bhan- = Việt ngữ vặn, bẻ, liên hệ với Anh ngữ break) mang hình ảnh của một tiên nữ mây mưa,  một thần nữ mắn sinh và làm liên tưởng tới Hoàng hậu Maya vin cành cây Vô Ưu khi sinh Đức Phật tại vườn Lâm Tỳ Ni. Một tượng sala bhanjikas rất nổi tiếng thấy ở Tháp Phật Sanchi.

clip_image056Thần nữ  vin cành cây sala ở tháp Phật Sanchi (nguồn: Wikipedia).

Hang 15.

clip_image057(nguồn: Wikipedia),

Hang được hoàn tất nhiều hơn các hang vừa nói ở trên.

-Hàng hiên có cột có tượng Phật.

-Phòng chính có tranh tường, có tám phòng ở.

Hang có 15 cửa chạm khắc chim bồ câu ăn bắp, ngô.

-Tiền phòng và chính điện có tượng Phật ngồi trên tòa sen.

(còn nữa).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: