ẤN ĐỘ: HANG ĐỘNG PHẬT GIÁO AJANTA, Ở AURANGABAD (Phần 1).

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

Phải tuân thủ luật Tác quyền Copyright.

ẤN ĐỘ: HANG ĐỘNG PHẬT GIÁO AJANTA, Ở AURANGABAD.

(Phần 1)

Nguyễn Xuân Quang.

Chúng tôi bay từ Kochi về Aurangabad thuộc tiểu bang Maharashtra có Mumbai (Bombay) là thủ đô. Mục đích chính là viếng thăm hai vùng hang động nổi tiếng thế giới mà chúng tôi hằng mong ước là hai quần thể hang động Ajanta và Ellora của tiểu bang này.

Hang Động Ajanta:clip_image002Quần thể hang động Ajanta.

-Là một kiến trúc hang động siêu việt của Phật giáo nói riêng và của nhân loại nói chung.

-Chứng tích của một thời vàng son nhất của nghệ thuật Phật giáo Ấn Độ: điêu khắc, hội họa Phật giáo đạt tới mức tinh xảo, tuyệt mỹ nhất.

-Là một bộ sử của Phật giáo ghi khắc lại cuộc đời Đức Phật, triết thuyết, giáo lý, truyền thuyết Phật giáo.

-Là một kho báu văn hóa của Phật giáo nói chung và của Ấn Độ nói riêng.

-Là một viện bảo tàng trưng bầy về đời sống vàng son một thủa của Ấn Độ vào thời Gupta thấy qua trang phục, kiểu tóc, trang sức, châu báu, lâu đài…

-Cho thấy một đức tin vô bờ bến cùng với sức người kiên trì: chỉ với những bàn tay búa, đục đã biến cả dẫy núi đá thành nơi thờ phượng, nhìn thấy mà ngẩn ngơ, mất hồn.

-Là một kỳ quan thế giới. Hai quần thể hang động này đẹp nhất trong tất cả các kiến trúc trung cổ Ấn Độ và đã được thừa nhận là địa danh Di Sản Thế Giới UNESCO.

-Riêng đối với tôi: là một chứng tích rành rành, kiên cố, thuyết phục nhất của vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo, chữ viết nòng nọc vòng tròn-que thấy qua hiện vật của sử đá Phật giáo.

……

Tổng Quát.

Quần thể hang động Ajanta được tạo thành trải dài qua một khoảng thời gian từ 200 năm Trước Dương Lịch cho tới 650 Sau Dương Lịch.

Ajanta nghĩa là gì? Tên Ajanta hãy còn là một điều bí mật. Tên làng Ajanta thấy qua các đồ gốm cổ của thời đại Satvahana vào thế kỷ thứ 2 Trước Dương Lịch. Có lẽ đây là chỗ ở của các thầy, thợ, nhân công được thuê làm ở lò gốm tại vùng này. Nhưng có các nghiên cứu sử khác cho thấy dường như chính tên Ajanta được đã được đặt vào cổ thời dựa theo tên Ajita, A Di Đà, vị Phật Tương Lai. Trong sách Phật Mahmayuri có nói tới một ngôi làng tên là Ajitanjayan.

Vào cuối thế kỷ thứ 7, Phật giáo tàn lụi vì thế trong hàng ngàn năm, Ajanta bị chôn vùi trong rừng rậm, cho mãi tới năm 1819 tình cờ mới được khám phá ra bởi một sĩ quan quân đội Anh John Smith khi đi săn hổ ở vùng này.

ajanta pano

Toàn cảnh các hang động có đánh số từ trái sang phải (nguồn: Wikipedia) .

Các nhà khảo cổ học đánh số các hang động từ đông sang tây một cách thông thường không căn cứ vào thứ tự của sự khai quật hay sự quan trọng của các hang. Quần thể hang động Ajanta có 29 hang động nằm theo hình móng ngựa chỗ uốn khúc hình móng ngựa của con sông Hổ (Cọp) Waghora ôm quanh rặng núi đá.

clip_image006Địa đồ vị trí các hang động Ajanta (nguồn: Sách Hướng Dẫn Du Lịch, NXB Mittal). Lưu ý các tu viện vihara có mái bằng, các nơi thờ tự chaitya mái vòm.

Đây là vùng có nhiều hổ, cọp thấy qua tên dòng sông Hổ Waghora này. Đây cũng là lý do Ajanta bị chôn vùi trong hàng ngàn năm vì không ai dám bén mảng tới vùng đất của chúa tể sơn lâm này mãi cho tới khi viên sĩ quan người Anh đi săn hổ mới khám phá ra.

Điêu khắc tuyệt hảo thấy ở các hang 1, 4, 17, 19, 24 và 26. Các tranh tường (bích họa) tuyệt đẹp thấy ở các hang 1, 2, 16, 1719.

Lưu Ý.

Như vậy nếu không có đủ thì giờ thì chuyên chú vào việc đi thăm ưu tiên các động 1, 17, 19 trước vì có đủ cả nghệ thuật điêu khắc và hội họa Phật giáo rồi thì giờ còn lại sau đó mới đi thăm các hang động khác như 2, 4, 16, 24, 26…

.Rất tiếc trong các hang động không thể chụp ảnh với flash được nên ảnh mờ, tối, nhất là tôi chỉ dùng chiếc máy ảnh nhỏ cho tiện để chụp chớp nhoáng lấy các hình ảnh làm tài liệu viết.

Nên mua thêm các hình ảnh hướng dẫn du lịch.

.Trong các bài viết này các danh từ Phật giáo tôi cố gắng viết thật ‘nôm na mách qué’, rất thuần Việt ruột thịt với Phạn ngữ cho dễ hiểu.

Các kiến trúc Phật giáo ở đây gồm 4 Chaitya (hang 9, 10, 19, 26) và 25 Vihara (các hang còn lại). Vihara là các tu viện (vihara có một nghĩa là academy, viện. Để dễ nhớ: viha-biến âm với viện) dùng làm chỗ qui ẩn và giảng dậy giáo lý cho các tu sĩ Phật giáo. Chaitya là nơi dùng thờ Phật, tụng niệm, tĩnh tâm và thiền định. Chaitya có gốc Phạn ngữ Chita là pyre (lửa, dàn hỏa táng) hay pile of ash (đống tro than). Như thế ta thấy rõ chai– ruột thịt với Việt ngữ cháy (có lửa, tro than). Chaitya ruột thịt với  caitya có nghĩa là đài, tháp Phật (stupa), trụ kim tự tháp có chứa tro than người chết, liên hệ với chôn cất, mai táng. Vì thế một chaitya đúng nghĩa thường phải có tháp Phật stupa. Thấy một kiến trúc thờ phượng có tháp Phật thì đó là một chaitya. Ở đây trong hang động các chaitya có trần mái vòm trong có tháp Phật (xem dưới).

Dàn bài tôi viết theo hai nhóm hang động Tu Viện Vihara và Nơi Thờ Phương Chaitya.

A. Các Hang Động Tu Viện.

1. Hang Số 1.

Hang được đẽo đục vào năm 500 Sau Dương Lịch, Triều Đại Gupta. Về mặt kiến trúc được coi là một tu viện tinh xảo nhất trong các kiến trúc hang động ở Ấn Độ. Về mặt trang trí đây là hang động được trang trí đẹp nhất ở Ajanta.

600px-AjantaHoehle1VerandaPanorama

Mặt tiền hang số 1 (nguồn: Wikipedia).

Đây là một tu viện của Phật giáo Đại Thừa (Mahayana), thấy rõ qua sự hiện diện của các tượng Bồ Tát. Phật giáo có những thừa, giáo phái dịch từ Phạn ngữ yana. Phạn ngữ yana có nghĩa là vehicle, van, vessel, journey, travel… Theo y = v như Yue = Việt, yu = vũ (mưa), yun = vân (mây), Yunnan = Vân Nam,  yana có yan = Anh ngữ van (xe chở khách nhỏ) = Hán Việt vận (vận hành, vận chuyển). Phật Giáo Nguyên Thủy (Theravada) trước đây gọi là Tiểu Thừa (Hinayana) (Hin- biến âm với Việt ngữ hiếm có nghĩa là ít, Nhỏ như hiếm có, hiếm hoi, hiếm muộn), ngày nay từ này cho là không chuẩn nên không dùng nữa). Phật Giáo Đại Thừa (Mahayana) (Maha biến âm với Việt ngữ Mạnh, Mãnh, dũng mãnh, Lớn, Hawaii ngữ có tên loài cá Mahi Mahi có nghĩa là ‘Strong’, ‘Strong fish’ có cùng gốc Mah- là mạnh, mãnh này). Phật giáo nguyên thủy không có các vị bồ tát bodhisattva (bhodisattva có bodhi: bồ đề, tâm thức tỉnh, giác ngộ và sattva: người, tâm linh). Trong Phật giáo Nguyên Thủy mỗi con người phải tự mình cứu vớt lấy mình.

Phật giáo đại thừa có các vị bồ tát. Bồ Tát là các vị đã giác ngộ thành Phật có thể lên nát bàn sống bất tử thoát vòng luân hồi nhưng ở lại thế gian để độ trì và cứu giúp chúng sinh. Trong Phật giáo Đại Thừa Phật có thể là vị cứu tinh của con người. Phật được tôn thờ như một siêu nhân.

Về kiến trúc một tu viện đại thừa thường gồm từ ngoài vào trong: sân lộ thiên trước cửa vào, hàng hiên (verandah, hàng hiên, hàng ba, hè), một phòng cột (hypostylar hall) dùng làm phòng hội, phòng học, một điện thờ với tượng Phật ở tiền phòng, sau là hậu phòng và hai bên là các phòng nhỏ (cells) dùng làm chỗ nghỉ ngơi, chỗ ở.

-Hàng hiên.

Hàng hiên có hai đầu là hai phòng cầu nguyện.

Hàng hiên được trang trí điêu khắc tinh vi với các tượng Phật, bồ tát, thiên thần, thú vật, muông chim…

IMG_4460

Trang trí ở hàng hiên (ảnh của tác giả).

-Phòng Cột Trung Tâm.

Phòng hình vuông có hai mươi cột khổng lồ.

clip_image010Phòng cột.

Lưu ý tác giả mặc áo T-shirt có câu chú Om Mani Padme Hum mua ở Lhasa Tây Tạng.

Những cột này làm gợi nhớ tới các phòng cột Ai Cập cổ. Phòng cột Ai Cập có các cột khổng hồ hình hoa súng cũng gọi là hoa sen nở rạng rỡ dưới ánh sáng mặt trời. Ở đây các cột trông như các đóa hoa sen nhà Phật có hình thẳng đứng như cột trụ (thấy rõ qua hình ảnh Chùa Một Cột hình đóa hoa sen) mọc lên từ một đầm sen thế gian (phòng hình vuông, vuông có một nghĩa là đất bằng: trời tròn đất vuông). Cột sen tiêu biểu cho tính ngay thẳng mà Phật tử phải tu tập. Hoa sen là một biểu tượng của Phật giáo dĩ nhiên còn có nhiều ý nghĩa khác, khi gặp dịp sẽ nói tới. Cột trang trí với các chim thú thần thoại, hoa lá và các câu chuyện tín ngưỡng.

Đặc biệt nhất là hình Bốn Con Hươu có chung Một Đầu ở trên chóp cây cột thứ ba hàng bên phải.

clip_image012Bốn con hươu có chung một đầu (ảnh của tác giả).

Bốn con hươu này diễn tả Bốn Thúc Đẩy, Bốn Đế theo giáo lý nhà Phật. Nhưng nhìn theo vũ trụ giáo, đầu hươu diễn tả thượng thế, cõi tạo hóa gồm hư vô, thái cực, lưỡng nghi. Bốn thân hươu hướng ra bốn phương ứng với tứ tượng. Hình này diễn tả vũ trụ tạo sinh, vũ trụ thuyết, cũng thấy trong Phật giáo (ở đây là của Phật giáo vì con thú là con hươu liên hệ với Vườn Hươu Lộc Uyển).

Tất cả trần hang, tường, cột đều đầy kín cả những trang trí bằng tranh vẽ. Các trang trí này một phần bị hủy hoại với thời gian, thời tiết, nấm mốc, côn trùng, chim chóc. Tuy nhiên may mắn vẫn còn lại những bức tranh tuyệt tác.

Trần nhà trang trí hoa lá cành, chim thú. Dĩ nhiên có nhiều loại liên hệ với Phật giáo như hoa sen, chim hạc, voi…

clip_image014Hình trang trí trên trần nhà (ảnh của tác giả).

Tường chung quanh đầy kín các tranh vẽ, trong đó có các cảnh diễn tả về

-Đời sống Phật

Như tranh diễn tả lại cảnh ‘Bốn Thúc Đẩy’ (‘Four Drives’), Tứ Đế, Tứ Diệu Đế. Vua Sudhodhana, cha của Phật Tổ Thích Ca lo lắng về tương lai của con mình khi nghe các nhà chiêm tinh gia nói rằng Thái tử Siddharta (Tất Đạt Đa) sẽ từ bỏ thế giới tục lụy và đi vào cuộc sống khổ hạnh. Vì thế vua cha quyết định ‘cấm cung’ nhốt con mình trong hoàng cung và cung phụng với đầy dẫy thú vui thế tục để lay chuyển con mình.

clip_image016Cảnh nhà vua lo âu trong vườn thượng uyển (ảnh tài liệu hướng dẫn du lịch).

Nhưng thái tử không hề đổi ý, một hôm xin thầy dậy ra ngoài thành. Thái tử thấy tận mắt bốn cảnh Sinh Lão Bệnh Tử của đời người. Đây chính là ‘Bốn Thúc Đẩy’ (‘Four Drives’), Tứ Đế, Tứ Diệu Đế (The Four Noble Truths). Thái tử quyết định xuất gia:

clip_image018clip_image019Cảnh Thái tử tắm trước khi mặc áo tu (ảnh của tác giả và hình tài liệu hướng dẫn du lịch).

….

-Các tranh về các cảnh đời trong hoàng cung với những bức tranh giai nhân tuyệt sắc đầy nhục tính như tranh công chúa, hoàng phi, nữ vũ công…

clip_image021‘Huyền Công Chúa’ (Dark Princess) (nguồn: Tài Liệu Hướng Dẫn Du Lịch).

Đây là một trong những tuyệt tác phẩm tranh tường Phật giáo Ấn Độ. Người đẹp âu lo, đôi mắt u buồn, lông mày lá liễu. Đặc biệt bộ ngực căng tròn trông như hai quả vú sữa khổng lồ (nên nhớ vào thời này chưa có giải phẫu thẩm mỹ). Cặp vú được viết theo chữ nòng nọc vòng tròn-que là hai nòng vòng tròn OO! (chắc có độc giả mỉm cười cho rằng tôi đúng là ông ‘Bác sĩ Quang Nòng Nọc’). Đây là sự thật đấy. Tôi xin chứng minh. Ta có biến âm U = O (U là dạng nòng âm thái dương của O) như tui = tôi, mù = mờ (mịt mù = mịt mờ, mù mờ), mu = và V = O (V là dạng nọc âm thái dương của O) như ván (Alexandre de Rhodes, Từ Điển Việt Bồ La) = oản (xôi), vang vang= oang oang, Mường ngữ wan = oan. Tóm lại O = V = U. Thay cặp vú OO của công chúa bằng V và U, rõ như ‘Con cua tám cẳng, hai càng, Một mai hai mắt, rõ ràng con cua’ là hai trái vú sữa của Công chúa OO = V (O) U (O) = VÚ. Họa sĩ ‘viết’ VÚ bằng cọ vẽ từ (word) hai nòng OO của chữ nòng nọc vòng tròn-que. Nguyên thủy con người khi hãy còn ăn lông ở lỗ chưa có chữ viết, có một anh chàng nào đó có máu thích vạch, vẽ, lúc mơ tưởng tới cặp vú to tròn giống như hai trái trứng khủng long, ngồi trong hang vạch, vẽ hai vòng tròn OO diễn tả cặp vú. Rồi theo dòng thời gian OO tiến hóa trở thành chữ VÚ trong Việt ngữ ngày nay. Tiếng Việt là chứng tích của nguồn gốc chữ viết loài người [Tiếng Việt (thật là) Huyền Diệu].

Quả thật đây là một tuyệt tác phẩm. Chưa thấy cặp vú nào to, tròn vành vạnh như hai chữ nòng vòng tròn OO nguyên thủy này cả.

-Các chuyện về Tiền Kiếp, Tiền Thân (Jataka) của Đức Phật. Mỗi chuyện, mỗi khuôn mặt tiền thân này minh họa một ý tưởng về Pháp Phật giáo và về sự hy sinh cao cả cứu nhân độ thế theo các dạng thể khác nhau. Theo truyền thống thì các chuyện này do chính Đức Phật kể để nhấn mạnh rằng nếu thực hiện được thường xuyên những việc làm đạo hạnh, đức độ, một con người có thể đạt tới Niết Bàn hay Giác Ngộ.

Ví dụ ngay bên trái cửa vào có truyện tiền kiếp Jataka về vua Sibi. Một con bồ câu bị một con diều hâu đuổi bắt. Nó bay tới cầu cứu vua Sibi, một vị Bồ Tát (một tiền thân Phật). Con diều hâu đòi vua Sibi trả lại con mồi vì là quyền sống của nó. Vua thương lượng với diều hâu bằng cách đánh đổi một lượng thịt cắt từ chính thân mình ra bằng trọng lượng của con bồ câu đưa cho diều hâu để cứu mạng sống bồ câu.

Tôi có chụp tấm hình này nhưng quá tối. Hình ở đây cho thấy con bồ câu đứng trên đùi vua bên trái và phía bên phải chỗ vua có một chiếc cân.

Chuyện vua Sibi này cũng thấy ở nhiều nơi khác như thấy ở một tảng đá ở Gandhara:

clip_image022Cảnh lóc thịt và cân thịt vua Shibi, Gandhara, thế kỷ thứ 2–3 Sau Dương Lịch (British Museum).

Tuy nhiên hai bức tranh nổi tiếng nhất của quần thể Hang Động Ajanta và cũng là niềm kiêu hãnh nhất của hội họa Phật giáo cổ thời là hai bức tranh Bồ Tát Padmapani và Vajrapani.

-Tranh Bồ Tát Padmapani.
clip_image024clip_image026

Bồ Tát Cầm Hoa Sen Padmapani (ảnh của tác giả và của tài liệu Hướng Dẫn Du Lịch).

Điểm chính để nhận diện ra Bồ Tát Padmapani là ngài tay cầm hoa sen. Padmapani có Padma là hoa sen, liên hoa và Pani tiếng Pali có nghĩa là bàn tay, lòng bàn tay, ruột thịt với Latin palma, Việt ngữ bàn (tay)… Như thế Bồ Tát Padmapani là Bồ Tát Tay Cầm Hoa Sen, dịch theo chữ Hán là Bồ Tát Liên Hoa Thủ.

Lưu Ý.

Cũng nên biết Pali là ngôn ngữ của Tam Tạng Kinh Điển (Tripiṭaka), bộ kinh nòng cốt Phật giáo Nguyên Thủy (Tiểu Thừa Theravāda) ngự trị miền Nam Ấn. Pali liên hệ mật thiết với tiếng Phạn, cả hai dùng trao đổi lẫn cho nhau. Vì thế ở đây thuộc Đại Thừa mà vẫn dùng Pani gốc Pali Nguyên Thủy).

Các sử gia nghệ thuật Ấn Độ đã hết lời ca tụng bức tranh Padmapani này, cho rằng đây là một tuyệt tác phẩm trong thế giới hội họa.

Ở bên trái là hình Bồ Tát Vajrapani.

clip_image028Bồ Tát Cầm Dóng Sấm Vajrapani (tài liệu Hướng Dẫn Du Lịch).

Vajra có nghĩa là: 1. dóng sấm, búa thiên lôi, 2. kim cương. Như thế Vajrapani đích thực là Bồ Tát Tay Câm Dóng sấm, Búa thiên lôi. Đúng như ở đây Bồ Tát Vajrapani cầm búa thiên lôi. Trong nhiều giáo phái khác của Phật giáo chọn nghĩa kim cương thường gọi là chử hay chùy kim cương. Phái Mật Tông Tây Tạng gọi là kim cương chùy và phái theo kim cương chùy này gọi là Kim Cương Thừa (Vajrayana).

Trong Kim Cương Thừa Mật Tông hiển nhiên vajra hiểu theo ý nghĩa của Phật giáo Mật Tông. Chùy kim cương có rất nhiểu nghĩa. Một vài trong những nghĩa đó là: Vajra nhìn chung biểu tượng cho từ bi (compassion). Hai đầu biểu tượng cho luân hồi (samsara) và niết bàn (nirvana). Cục tròn ở giữa chùy kim cương có khi được cho là viên kim cương. Kim cương thừa hiểu theo nghĩa tính chất của kim cương như kim cương là vật ngời sáng, tính ròng, thuần khiết, cứng nhất, không thể bị hủy diệt, có thể xuyên phá tất cả chướng ngại vật… Người tu theo kim cương thừa cũng vậy, trì chí, kiên tâm, vượt qua tất cả chướng ngại để đạt tới được chân lý uyên sâu, sáng chói nhất, cùng tận nhất của giáo lý nhà Phật.

Nhìn tổng quát dù là theo nghĩa dóng sấm hay theo nghĩa kim cương thì vajra cũng mang tính gốc là nòng nọc (âm dương) (Tây tạng ngữ yab and yum). Nhìn theo duy dương mang nghĩa chính của chùy là nọc, cọc, bộ phận sinh dục nam, dương, mặt trời…

Tại Tây Tạng Kim cương thừa đã hòa nhập với Phật giáo Đại Thừa và được gọi là Lạt Ma giáo.

Người Trung Quốc dịch là Bồ Tát Kim Cương Thủ. Phật giáo Việt Nam gọi theo Trung Quốc, nhiều khi chỉ gọi tắt là Bồ Tát Kim Cương.

Bồ Tát Vajrapani cầm búa thiên lôi nên tôi gọi nôm na là Bồ Tát Cầm Dóng Sấm, Búa Thiên Lôi, Bồ Tát Dóng Sấm, Bồ Tát Thiên Lôi.

Kiểm chứng lại ta cũng thấy ở Việt Nam cũng có tượng Bồ Tát Vajrapani cầm dóng sấm ở chùa Đọi, Hà Nam.

clip_image030Tượng đá Bồ Tát Vajrapani ở chùa Đọi, Hà Nam, thế kỷ 12 (Viet Nam National Museum of Fine Arts, Ha Noi).

Mặc dù bị sứt mẻ nhưng nhìn kỹ ta thấy rõ Bồ Tát Vajrapani này tay cầm dóng sấm, búa thiên lôi:

clip_image032Dóng sấm vajra phóng lớn.

Búa thiên lôi này có đầu hình mây ba thùy dương do từ (word) ba nòng âm OOO chuyển động mở ra có một nghĩa là Khôn âm, nước thái dương sinh động. Nghĩa này được xác thực bằng các từ móc xoắn nước, có một nghĩa là nước chuyển động, mưa. Cán búa hình chữ T có một nghĩa lửa thái dương sinh động có một khuôn mặt là tia chớp lửa, Càn. Lửa thái dương Càn nước thái âm Khôn liên tác sinh ra sấm. Dóng sấm này giống hệt búa thiên lôi của thần sấm Thor Bắc Âu.

clip_image034

Cây búa thiên lôi Thor Bắc Âu.

Bồ Tát Vajrapani là vị bồ tát được tôn thờ nhất trong toàn thể các vị bồ tát Đại Thừa. Ngài với cây búa thiên lôi được cho là vị Bồ Tát có sức mạnh vô song, bảo vệ Phật, tam bảo, các cấu trúc thừa tự và bảo vệ chúng sinh. Ngài sánh với thần Heracles (Hercules) của Hy Lạp. Theo tôi, Ông Dóng Phù Đổng Thiên Vương có búa thiên lôi là cây gậy sắt hay dóng tre ngà cũng có cùng bản thể với Bồ Tát Dóng Sấm Vajrapani, cũng có sức mạnh vô song như Hercules. Ông Dóng là Hercules của Việt Nam, có một khuôn mặt tương đương với Bồ Tát Dóng Sấm Vajrapani. Vì vậy mà ông Dóng bảo vệ nhân dân Việt Nam.

Một điểm cần nói thêm nữa là từ trước tới nay các nhà nghiên cứu Phật giáo chỉ nhìn theo diện giáo lý nhà Phật và các nhà phê bình nghệ thuật chỉ nhìn theo kỹ thuật hội họa, chỉ nói về giá trị thẩm mỹ, kỹ thuật hội họa của hình vẽ hai vị Bồ Tát này mà chưa hề để ý tới hay nói tới một diện cốt lõi nền tảng của hai hình vẽ. Đó là cái nền tảng vũ trụ quan, vũ trụ thuyết, Vũ Trụ Tạo Sinh, dịch học. Hôm nay tôi là người đầu tiên nhìn hai bức tranh hai vị Bồ Tát này bằng cả hai mắt phải, dương và mắt trái âm theo diện nòng nọc (âm dương), nguyên lý căn bản của vũ trụ tạo sinh, vũ trụ thuyết.

1. Bồ Tát Cầm Hoa Sen biểu tượng cho nòng, âm, cực âm, VŨ của VŨ trụ.

-Hoa sen là hoa mọc dưới nước mang âm tính. Hoa có một khuôn mặt biểu tượng cho bộ phận sinh dục nữ thấy rõ trong Ấn giáo, Phật giáo Mật Tông Tây Tạng (Sự Đời như cái Lá Đa).

Hoa sen biểu tượng bộ phận sinh dục nữ cũng thấy qua chùy kim cương hỗn hợp có đầu diễn tả hoa sen. Chùy kim cương hỗn hợp có thân là nọc, que, là dóng (sấm), là nọc, dương, lửa, chớp, bộ phận sinh dục nam và đầu chùy hình hoa sen biểu tượng cho nòng, nữa, âm, nước, âm đạo… (Một Ngày An Bình Với Đức Dalai Lama).

– Vị này đứng nghiêng người về phía bên trái, phía âm.

-Người thon thả ở tư thế uốn cong chữ S ba đoạn mang âm tính.

-Mặt trái soan, mắt mơ màng, lông mày cong, mũi dọc dừa trông hiền hậu đầy nữ tính.

-Trang phục đầu hình bao túi, nang, nòng (kiểu mũ bù đài) biểu tượng vòm bầu vũ trụ, bầu trời với nhiều chữ nòng vòng tròn, từ hai vòng tròn đồng tâm mang âm tính Vũ của Vũ Trụ (vũ là võ, vỏ, bao, bọc).

-Bồ Tát Cầm Hoa Sen là người nam (không có vú phụ nữ) nhưng mang âm tính, mang tính lưỡng tính phái. Để ý thấy hai nửa thân người khác nhau (nhất là hai cánh tay) và có trang sức mang tính nòng nọc (âm dương) khác nhau. Nửa thân bên trái (theo người nhìn), chỉ liếc mắt qua ta thấy vai thon, mũm mĩm mang âm tính. Phía này có rất nhiều trang sức mang âm tính, nữ tính như giải trang phục đầu có tua hình dải cánh diều gió hình chổi (gió là thiếu âm, dương của âm), hoa tai, nhẫn, vòng cổ tay tròn, sáng, mang nghĩa mặt trời âm hay không gian dương khí gió. Tay quấn khăn hạt ngọc trông như con rắn mang âm tính…

Nửa người bên phải (theo người nhìn) phía dương, có vai ngang, săn chắc, cánh tay vạm vỡ, mang dương tính, dải trang phục đầu là tua lửa, sóng lửa như tia chớp, hoa tai lớn hình vành tròn mang dương tính, cánh tay chỉ cột dây thường, không đeo trang sức gì cả mang dương tính…

Như thế Bồ Tát Hoa Sen có bản thể lưỡng tính phái. Đây là một hình tướng của Bồ Tát Avalokiteshvara lưỡng tính phái. Ở Ấn Độ, Tây Tạng là một người nam nhưng ở Trung Quốc, Nhật Bản, Đại Hàn, Việt Nam là một người nữ: Quán Thế Âm Bồ Tát (Phật Bà). Ta cũng thường thấy Phật Bà cầm hoa sen là vậy. Vì thế Bồ Tát Cầm Hoa Sen có một khuôn mặt là Bodhisattva Avalokieshvara.

2. Bồ Tát Cầm Dóng Sấm biểu tượng cho nọc, dương, cực dương, TRỤ của vũ TRỤ.

-Dóng sấm, búa thiên lôi, kim cương chử, kim cương chùy mang tính dương là lửa, tia chớp biểu tượng cho nọc, dương, nõ, bộ phận sinh dục nam (thấy rõ trong Ấn giáo, Phật giáo Mật Tông Tây Tạng) (Một Ngày An Bình Với Đức Lạt Ma).

-Bồ Tát đứng nghiêng người về phía bên phải, phía dương.

-Người vạm vỡ, vai ngang mang dương tính.

-Mặt bạnh, mắt mở lớn, lông mày hơi cong, mũi nhọn trông đầy nam tính.

-Trang phục đầu có hai tòa tháp nhọn, nhiều mũi nhọn, có góc cạnh mang tính thái dương, lửa.

-Đồ trang sức: hoa tai vành tròn rất to có một khuôn mặt biểu tượng mặt trời thái dương, không đeo nhẫn mang dương tính. Đeo ba vòng chuỗi hạt tròn mang dương tính. Chuỗi ở giữa có hột chủ hình mặt trời tỏa sáng mang dương tính. Chuỗi dưới rất lớn choàng qua vai. Đây là dây thòng lọng sất sét ngài dùng để tròng cổ, trói buộc kẻ ác (xin nhắc lại thòng lọng người cổ Việt nói 1à thòng nọng. Nọng là cổ như nọng cổ. Thòng nọng là dây tròng cổ đúng nghĩa hơn là thòng lọng có một nghĩa là tròng cây… lọng che!)

Bồ Tát Cầm Dóng Sấm là người nam (không có vú phụ nữ) mang đầy hùng tính.

Bồ tát Dóng Sấm biểu tượng cho nọc, dương, sức mạnh, bảo vệ.

Hai vị Bồ Tát Hoa Sen và Dóng Sấm, Kim Cương này là nòng nọc (âm dương) khi giao hòa với nhau tạo ra vũ trụ muôn sinh, muôn loài, tạo ra vòng sinh tử (luân hồi) và vĩnh hằng theo vũ trụ thuyết thấy rõ trong câu cầu nguyện cột trụ thiêng liêng là Om Mani Padme Hum của Phật giáo La Ma Tây Tạng  (như đã nói ở trên, viết trên áo tác giả) . Câu này có nghĩa đen là Hạt Ngọc (Jewel, biểu tượng nọc, dương, qui đầu) (tương đương với kim cương) trong hoa sen (nòng, nữ, âm vật) có một nghĩa nghĩa giao hợp với nhau: nõ trong nường, Thần Nam trong Thần Nữ… nòng nọc (âm dương) giao hòa sinh ra vũ trụ, muôn sinh…

Hai vị này có một khuôn mặt biểu tượng VŨ TRỤ.

Đây chính là lý do tại sao hai vị Bồ Tát mang tính nòng nọc (âm dương), vũ trụ này là chủ thể của các tranh vẽ ở đây.

…..

-Chính điện.

Tại chính điện có một tượng Phật khổng lồ là một tuyệt tác phẩm điêu khắc. Tay Phật ở dáng điệu làm dấu hiệu thủ ấn chuyển Pháp luân, chuyển bánh xe Pháp (Dharma Chakkra Mudra) [Dharma = Dậy, giảng dậy Pháp (pháp lý, lý lẽ, luật). Chakkra có Cha- = Xa, xe và Mudra có một nghĩa là seal (con dấu, con mộc) là mộc, dấu (đóng mộc là đóng dấu). Mudra có mud- = mộc. Hiểu rộng ra là dấu mốc, dấu ấn, dấu hiệu (sign)].

clip_image036

Tượng Phật ở chính điện với thủ ấn chuyển bánh xe Pháp (Dharma Chakkra Mudra).

Ở đây thủ ấn (dấu hiệu tay) diễn đạt rất rõ: hai ngón cái và trỏ bàn tay phải làm thành vòng tròn diễn tả bánh xe Pháp, vòng sinh tử, luân hồi và ngón út tay trái diễn tả động tác quay bánh xe Pháp.

clip_image038

Phật ngồi trên một tòa sen. Cũng nên biết tòa sen có hàng nghìn cánh sen. Mỗi cánh sen là một thế giới trụ trì bởi một vị Phật. Vũ trụ có hàng ngàn vị Phật. Vì vậy mà vào chùa ta thường thấy có một tòa để ngàn tượng Phật. Ngay tại hang số 1 này cũng có bức tranh tường diễn tả ngàn tượng Phật.

Phật ngồi trên tòa sen hướng ra phòng cột như đang nhìn ra một đầm sen.

Hai bên là các vị Bồ Tát và năm đệ tử (tỳ kheo).

Lưu ý.

Sự hiện diện của Bồ Tát xác thực đây là Phật giáo đại thừa vì thế mà kiểu kiến trúc, điêu khắc, trang trí ở đây mang sắc thái đại thừa khác với các hang động Phật giáo nguyên thủy (tiểu thừa) ở Nam Ấn.

Bên dưới tòa sen có bánh xe Pháp và hai con hươu. Phật giáo Tây Tạng dùng nhiều biểu tượng bánh xe Pháp hai bên có hai con hươu này.

Tóm lại hang số 1 có cấu trúc của một tu viện Đại Thừa. Vì là tu viện nên có chủ thể diễn tả cảnh Đức Phật giảng dậy bài Pháp đầu tiên Chuyển Bánh Xe Pháp (First Sermon, Turning the Wheel of the Law) cho năm vị tỳ kheo ở Vườn Hươu Lộc Uyển Sarnath. Các điêu khắc trang trí diễn tả đời sống Phật, triết thuyết Phật giáo, cảnh đời hoàng gia, thế tục cùng các cảnh vật thiên nhiên… Điêu khắc và tranh tường đạt tới mức nghệ thuật siêu đẳng.

Các chủ đề của điêu khắc và tranh tường cho thấy sự hình thành và phát triển của Phật giáo Đại Thừa. Các tranh tường với các đồ trang sức cá nhân, trang phục đầu, vòng cổ, vòng tay, y phục… đã cung cấp các chứng liệu khảo cổ học hiếm hoi về sự thịnh vượng, giầu sang của triều đại Gupta bởi vì ở Ấn Độ dù là theo Phật giáo hay Ấn giáo khi chết đều hỏa táng nên không có các chứng liệu khảo cổ học qua các vật tùy táng như ở các vùng khác trên thế giới.

(còn nữa).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: