GIÁO SƯ TRẦN NGỌC NINH: I KHOA Và Y KHOA.

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

Phải tuân thủ luật Tác quyền Copyright.

GIÁO SƯ TRẦN NGỌC NINH: I KHOA Và Y KHOA.

Nguyễn Xuân Quang.

Kính Thầy,

Em viết bài này với tinh thần Vô Úy của Thầy. Nếu có điều gì Thầy không vừa lòng xin Thầy tha thứ. Nếu có điểm nào Thầy vừa lòng thì xin Thầy coi đây là những đóa hoa chữ nghĩa em kính tặng Thầy vào lúc cuối đời.

Nguyễn Xuân Quang.

*

*             *

Gần đây có một làn sóng chống đối nổi lên về việc viết chữ I thay cho Y khi Viện Việt Học (mà giáo sư Trần Ngọc Ninh là linh hồn của Viện này) in các tờ thông báo, tờ chương trình cho một buổi ca nhạc do các Thầy Thuốc Áo Trắng trình diễn, trong đó chữ Y thay thế bằng I theo kiểu viết của giáo sư Trần Ngọc Ninh.

Chuyện I và Y dường như là một chuyện dài chính tả. Có người nhìn và viết I và Y dựa theo các qui luật ngôn ngữ học, có người nhìn và viết theo cảm quan, ngữ cảm của riêng mình. Người nói thế này người nói thế kia. Người chủ trương giữ nguyên cách viết như hiện nay đã quen. Người chủ trương sửa đổi thay Y bằng I. Giáo sư Trần Ngọc Ninh là người đầu tiên ở Miền Nam trước đây sửa đổi cách viết Y thành I ngắn: ‘Sự chọn lựa đã xong. Nhưng tại sao lại phải là tôi đứng ra làm cái việc dại dột, thiếu đức-tính “nhân-dân” ấy? Là vì tôi xuất thân trong nghề I (nguyên-âm) (Bệnh Từ Chương trong Giáo Dục của Việt Nam).

Phải nên nhớ là giáo sư không hề bắt buộc ai phải làm theo mình: ‘Khi nào tôi thấy một người có một bệnh phải mổ và có thể mổ được thì tôi giảng giải và nói rõ quyết-định; bệnh nhân và người nhà có quyền từ chối, nhưng nếu bằng lòng thì kí giấy và vào bệnh-viện. Không bằng lòng thì cũng kí giấy và đi về’.

Giáo sư làm bởi vì ‘Tôi lại là một thày giáo. Thày giáo phải làm đúng như mình đã dạy học-trò. Thày giáo là người nói đúng, dạy đúng và vô uý’.

Vô úy là một một đức tính đáng kính phụcphải có của một người có đầu óc sáng tạo và khai phá.

Bộ Giáo Dục Việt Nam hiện nay cũng chủ trương sửa đổi cách viết chữ I này.

Chính vì sự trùng hợp này mà giáo sư Trần Ngọc Ninh được những người đi buôn mũ tặng cho một chiếc mũ ‘made in China’.

Mục đích chính của bài viết này là tìm hiểu I và Y tới tận ngọn ngành, tức tới tận Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que hầu giúp ta hiểu rõ bộ mặt thật, tìm ra căn cước đích thực của I và Y. Tuy nhiên vì phạm vi bài viết tôi không đi sâu vào cách sửa đổi, cách viết, qui tắc, qui luật, các ngoại lệ, biệt lệ…

Trước hết câu hỏi được đặt ra tại sao I và Y đang ‘yên ấm’ như hiện nay mà lại muốn sửa đổi I = Y?

Động cơ thúc đẩy chính là các nhà ngôn ngữ học muốn điều chỉnh lại cho I hoàn chỉnh theo đúng theo ngữ học ‘hiện đại’ của I. Cả trăm năm nay I đã được nhìn theo nhiều khuôn mặt và viết dưới các dạng ký tự khác nhau, ví dụ I trong chữ Quốc ngữ đã từng được viết là I có hai chấm trên đầu Ï vào hồi trước khi Từ Điển Việt Bồ La ra đời.

Nhưng câu hỏi được đặt ra là dựa vào đâu?

Dĩ nhiên dựa vào bản thể của I theo ngôn ngữ học hiện nay. Giáo sư Trần Ngọc Ninh cho biết:

‘có hai âm [i], một là nguyên-âm[i], hai là bán-âm … khác nhau về sự phát âm và thanh, lại khác nhau về công-dụng trong cấu-tạo của tiếng-từ (word).

….

Thế nhưng mà nguyên-âm [i] thì có một kí-tự là /i/ làm con chữ, còn bán-âm [I] thì mồ côi, có mặt mà không có kí-tự.

Còn chữ viết?

Hầu hết các bảng mẫu-tự abc của những nước dùng bảng này để viết đều có hai chữ /i/ và /y/.

…. Tôi dùng /i/ làm kí-tự cho nguyên-âm và /y/ làm kí-tự cho bán-âm” (Bệnh Từ Chương trong Giáo Dục của Việt Nam).

Như vậy việc làm của giáo sư Trần Ngọc Ninh và các nhà ngữ học Việt Nam khác dựa trên cơ sở ngôn ngữ học là nguyên âm I có hai khuôn mặt là nguyên âm và bán âm. Nhìn bao quát hợp lý.

Bây giờ để tìm hiểu căn cước đích thực của I, xem có thật sự I chỉ có hai khuôn mặt nguyên âm và bán âm mà thôi hay còn nhiều hơn và rắc rối hơn không?

Tôi xin truy nguyên, tìm hiểu tới tận nguồn cội của I, khởi đầu đi từ dạng cổ đại của I và Y trong chữ nguyên thủy Nòng Nọc Vòng Tròn-Que xuống tới hệ mẫu tự ABC hiện nay. Hy vọng tìm được một tia sáng mới nào soi sáng thêm vào I và Y để hiểu rõ hơn chăng?

Trong phạm vi bài viết này tôi chỉ xin nhắc tới vài điểm của Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que liên hệ ở đây (nếu có thắc mắc gì xin tìm đọc các bài viết về Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que trên blog của tôi bacsinguyenxuanquang.wordpress.com.

Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que là chữ viết nguyên thủy của loài người có hai chữ cái là chữ nòng vòng tròn O lấy từ hình dạng lỗ sinh dục nữ ở dạng sinh động và chữ nọc que I lấy từ hình dạng nõ bộ phận sinh dục nam ở dạng sinh động.

Tất cả chữ viết về sau này đều là con cái hay bị ảnh hưởng của Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que. Mẫu tự ABC hiện nay kể cả chữ Quốc ngữ là di duệ của Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que. Dĩ nhiên chữ I và Y cũng vậy. Nói một cách khác I và Y cũng có tính nòng nọc (âm dương) (Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que và Mẫu Tự ABC).

Bây giờ ta hãy tìm hiểu I và Y đi từ chữ cổ đại ruột thịt với chữ nòng nọc vòng tròn-que xuống tới mẫu tự ABC hiện đại.

1. Chữ I và Y trong các chữ cổ đại.

Theo James Churchward, trong The Sacred Symbols of Mu nguyên âm I có trong các mẫu tự cổ đại Mu, Maya và Ai Cập cổ đại như sau:

clip_image002Mẫu tự Mu, Maya và Ai Cập cổ đại (James Churchward, The Sacred Symbols of Mu).

Lưu ý: James Churchward dùng từ Mu chỉ Lục Địa Mẹ Motherland đã chìm xuống đáy biển Thái Bình Dương (Mu chính là Việt ngữ Mụ, ruột thịt với Mẹ) và Maya chỉ Maya Thái Bình Dương không phải là Maya Trung Mỹ.

Ở bảng trên ta có:

clip_image004

Ta thấy ngay I viết dưới dạng nọc que mang dương tính.

-Trong mẫu tự Mu.

Ta thấy I diễn tả bằng:

.Một nọc que nghiêng về phía trái, chiều âm

clip_image005 Như vậy I mang tất cả ý nghĩa của chữ nọc que (Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que: Chữ Một Nọc Que). Ở đây I là nọc que nghiêng về tay trái nên mang tính âm, của nhánh, đại tộc âm của ngành nọc dương.

….

.Hai nọc que nghiêng về phía tay trái, chiều âm

clip_image006 Như vậy I mang tất cả ý nghĩa của từ hai nọc que (Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que: Từ Hai Nọc Que). Ở đây II là nọc que nghiêng về tay trái nên mang tính thái dương âm.

Như vậy I ở dạng nguyên thủy trong mẫu tự Mu là dạng chữ nọc, dương cùng mang âm tính ở tầng I (lưỡng nghi) và tầng II (tứ tượng).

Ta thấy I ở dạng nọc dương và mang âm tính vì mẫu tự Mu là của vùng Đất Mẹ Mu có một khuôn mặt mặt trời nữ thái dương.

-Trong mẫu tự Maya.

Ta thấy I diễn tả bằng:

.Một nọc que nghiêng về phía phải, chiều dương clip_image007 Như vậy I mang tất cả ý nghĩa của chữ nọc que (Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que: Chữ Một Nọc Que). Ở đây I là nọc que nghiêng về tay phải nên mang tính dương trội ở nhánh nọc âm.

.Hai nọc que nghiêng về phía tay trái, chiều âm

clip_image008giống như ở mẫu tự Mu với ý nghĩa đã nói ở trên.

Ta thấy trong mẫu tự Maya I đã có hai tính nòng nọc (âm dương) khác nhau. I nọc que nghiêng về phía phải mang tính dương còn hai nọc que nghiêng về tay trái mang tính âm.

Như thế từ xã hội mẫu quyền Đất Mẹ Mu đã chuyển qua xã hội Maya có thêm khuôn mặt phụ quyền.

-Trong mẫu tự Ai Cập cổ đại.

I được diễn tả bằng:

-Từ ba nọc que III tức nọc, lửa I thái dương II. Ba nọc que nghiêng mang âm tính và nghiêng về phía tay phải, chiều dương clip_image009 tức nọc thái dương phía dương của nhánh âm.

-Từ hai nọc que clip_image010 giống như ở mẫu tự Mu và Maya đã nói ở trên.

Ta thấy trong mẫu tự Ai Cập cổ đại cũng đã có hai tính nòng nọc (âm dương) khác nhau: I ba nọc que nghiêng về phía phải mang tính dương còn hai nọc que nghiêng về tay trái mang tính âm. Ta cũng thấy ở đây i mang tính ba nọc que III tức ở tầng ba cạo (ba hào, trigram) tầng tám quẻ (bát quái) tức muộn hơn trong chữ Mu và Maya [chỉ mang tính nọc ở tầng lưỡng nghi (một nọc que) và tầng tứ tượng (hai nọc que)]. Điểm này dễ hiểu vì chữ Ai Cập cổ đại là cháu của chữ Mu và là con của chữ Maya như thấy xếp theo thứ tự ở bảng trên.

Tóm lại i, I ở dạng chữ cổ đại diễn tả rất rõ ràng, minh bạch bằng một nọc que I, hai nọc que II và ba nọc que III nói chung là mang tính nọc với nghĩa mang tính sinh tạo ở cả ba tầng lưỡng nghi, tứ tượng và bát tượng và nghiêng về hai phía tức có cả hai tính nòng nọc (âm dương).

Ta cũng thấy chữ I cổ đại trong chữ Mu, Maya và Ai Cập cổ đại chỉ có hai âm khác nhau với hai khuôn mặt nòng nọc (âm dương) khác nhau của khâu I. Điểm này ăn khớp với hai khuôn mặt nguyên âm và bán âm của I theo ngôn ngữ học ngày nay. Thay vì theo người cổ đại diễn tả i bằng các chữ nọc que với tính nòng nọc (âm dương) ngả theo chiều nòng bên trái hay chiều nọc bên phải, ngày nay phân biệt là I mang tính nguyên âm và bán âm.

Tiếp tục đi xuống nữa, chữ Ai Cập cổ đại sinh ra các hình ngữ như linh tự Ai Cập, Phoenicia.

.Các Hình ngữ.

1. Chữ i, I trong linh tự Ai Cập.

Linh tự Ai Cập I diễn tả bằng nhiều hình ngữ có tính nòng nọc (âm dương) khác nhau và nhìn thấy rõ hơn, nhận thấy ngay.

-Dạng I một lá cây sậy.

clip_image012

Thường hình này đa số cho là hình cây sậy.

Nhìn bao quát một lá cây sậy với số 1 là số dương, I này mang dương tính.

Nếu nhìn theo diện lá cây sậy thì cây sậy có thân thẳng như cây, như cây que, cây nọc (I). Theo biến âm s=c, sậy = cây. Sậy là một thứ cây thẳng đuột không có cành nhánh như cây que. Cây, que là nọc, trụ, dương. Cây sậy mang dương tính nọc que. Nhưng diễn tả I bằng chiếc lá đầu cong mang âm tính tức I có một khuôn mặt âm O của dương I là thiếu dương OI. Ngoài ra lá mang âm tính như lá đa (trong khi quả, cành, thân cây mang dương tính). Lá cây sậy là âm O của dương I tức thiếu dương OI. Thiếu dương là nguyên thể của Đất.

Kiểm chứng lại với dạng I viết theo dạng hai nọc que nghiêng trái của mẫu tự cổ đại clip_image014 ta cũng thấy một lá cây sậy là một nọc que nghiêng trái. Nọc que dương I nghiêng về phía trái O ta cũng có OI thiếu dương.

Như thế I có một khuôn mặt biểu tượng cho lửa đất thiếu dương, tượng thiếu dương đất.

-Dạng I một hoa cây sậy.

Nhưng nhiều khi hình I nói ở trên được cho là hình hoa cây sậy thay vì là lá:

clip_image016I hoa cây sậy.

Theo tôi trông có vẻ giống hoa hơn lá vì hoa sậy quả đúng ở vị trí thẳng đứng (lá sậy không thẳng đứng).

Nếu nhìn theo hoa cây sậy thì hoa sậy giống hoa lau (lau sậy cùng một họ) còn gọi là cờ (cờ lau). Phướn cờ có một khuôn mặt biểu tượng cho gió thiếu âm. Như vậy ở đây I có một khuôn mặt thiếu âm, tức dương I của O hay IO, nguyên thể của gió.

Với khuôn mặt gió này ta cũng thấy lá cây sậy ở trên trông cũng giống lông chim. Lông chim có một khuôn mặt biểu tượng cho gió. Ví dụ điển hình là thần Gió Shu của Ai Cập cổ có biểu tượng là chiếc lông chim.

Lưu Ý.

Hai khuôn mặt thiếu dương đất OI và thiếu âm gió IO này của I hoán đổi với nhau được bằng cách chỉ cần đọc theo hai chiều nòng nọc (âm dương) khác nhau. Thiếu dương OI đọc ngược lại thành thiếu âm IO và ngược lại. Tộc dương cho I mang tính thiếu dương chủ, ngược lại tộc âm cho I mang tính thiếu âm chủ. Vì thế I có hai khuôn mặt thiếu dương và thiếu âm là vậy. Vì thế I có thể là lá và hoa sậy là vậy.

-Dạng I hai lá cây sậy.

clip_image018

Nhìn bao quát hai lá hay hai hoa cây sậy với số 2 là số âm I này mang âm tính.

Hai lá hay hoa cây sậy có cùng nghĩa như một lá hay hoa đã nói ở trên chỉ khác tính sinh tạo ở hai tầng lưỡng nghi và tứ tượng.

-Dạng I lá hay hoa cây sậy kèm theo hai nọc que nghiêng về phía tay trái, chiều âm:

clip_image020

Hai nọc que ở đây có nhiệm vụ như một dấu.

Hai nọc que là thái dương, lửa. Hai nọc que nghiêng về phía trái, âm là lửa âm tức lửa thiếu dương Li (IOI, có O mang âm tính) trong khi lửa thái dương ba nọc que III, Càn mang tính siêu dương (không có yếu tố âm).

Mặt khác hai nọc que là thái dương nghiêng về phía trái âm cụng có thể đọc là thái dương II của âm O là IIO, Đoài. Đoài vũ trụ có một khuôn mặt khí gió (cần phân biệt với Đoài thế gian là ao đầm của dịch muộn thế gian Hoa Hạ).

Như thế I ở dạng này cũng có hai khuôn mặt đất và gió nhưng ở tầng tứ tượng (hai nọc que).

-Dạng I hai nọc que nghiêng.

clip_image022

I dạng này giữ lại dạng I Ai Cập cổ đại đã nói ở trên.

-Dạng I tương đương với E.

clip_image024

(nguồn: ancient-egypt-online.com).

clip_image026

Tại sao? Vì chữ E trong chữ cổ đại:

clip_image028

cũng giống chữ I trong chữ cổ đại:

clip_image029

Chỉ khác là I, và II của E ở dạng thẳng đứng mang dương tính, còn ở I thì nghiêng mang âm tính. Trong chữ Quốc ngữ ta cũng có I =E như Mị Nương, Mỵ Nương = Mệ Nàng, Mẹ Nàng.

Ở đây cũng cho thấy I có hai khuôn mặt nòng nọc (âm dương) khác nhau.

Mẫu tự E có một khuôn mặt biểu tượng thiếu âm nguyên thể của khí, gió. Khuôn mặt gió này thấy rõ trong mẫu tự E Phoenicia, con cháu của linh tự Ai Cập:

clip_image031Chữ E trong mẫu tự Phoenicia.

E này có hình cờ phướn một biến dạng của linh tự Ai Cập I hoa cây sậy. Như đã biết cờ phướn có một khuôn mặt biểu tượng cho khí gió, thiếu âm. Như thế I = E cũng có một khuôn mặt thiếu âm.

-Linh tự Ai Cập I ở dạng hình tam giác, thiết diện của kim tự tháp có đỉnh quay về phía tay trái: clip_image033.

Núi kim tự tháp nhọn đỉnh có một khuôn mặt biểu tượng thiếu dương đất dương. Ở đây núi tháp nhọn đỉnh quay về phía tay trái mang âm tính diễn tả đất dương của nhánh nòng âm.

Ta thấy rất rõ linh tự Ai Cập I diễn tả bằng hình ảnh, biểu tượng xác thực rất rõ I đa diện mang tính nòng nọc (âm dương) khác nhau, đầy đủ, nhiều hơn là chỉ có hai khuôn mặt nguyên âm và bán âm ngày nay. Thật vậy, I với khuôn mặt một lá/hoa cây sậy biểu tượng nọc, dương, cực dương và tượng thái dương. I với hai lá/hoa cây sậy biểu tượng âm, cực âm và tượng thái âm (của khâu I). I lá/hoa cây sậy và hình tam giác biểu tượng thiếu dương. I với khuôn mặt hoa sậy hay tương đương với E có một khuôn mặt thiếu âm.

Như thế I mang nghĩa lưỡng nghi, tứ tượng, mang trọn vẹn ý nghĩa vũ trụ tạo sinh.

Tiếp tục đi xuống nữa là mẫu tự Ai Cập sinh ra chữ Phoenicia.

2. Chữ i, I trong linh tự Phoenicia.

Như vừa mới nói ở trên mẫu tự Phoenicia không có chữ I nhưng có E, một khuôn mặt thiếu âm của I.

Mẫu tự Phoenicia có Y.

clip_image034

Vì không có I nhìn theo ngôn ngữ học ngày nay Y có thể có mang một khuôn mặt bán âm của I.

.Các dạng chữ I ngày nay.

-Chữ I Hy Lạp.

Chữ Hy Lạp là con đẻ của mẫu tự Phoenicia.

Ta có I gọi là Iota I.

Iota ở dạng nọc que, trụ nọc thẳng mang tính nọc nhưng bằng đầu mang âm tính tức nọc que âm. Đối chiếu với dạng chữ nòng nọc (âm dương) cổ đại thì tương đương với i nọc que ngả về phía tay trái.

Trong mẫu tự Hy Lạp hiện nay không có chữ Y.

Giáo sư Trần Ngọc Ninh cũng xác nhận

‘Chữ /y/ là gốc Hi-lạp (Greek) rất ít dùng’ (Bệnh Từ Chương trong Giáo Dục của Việt Nam).

Như đã biết Y mang âm tính như thế mẫu tự Hy Lạp mang tính dương ngự trị.

-Chữ I trong mẫu tự Ả Rập.

clip_image036

Ở đây ta thấy I và Y như nhau. I Ả Rập hình sóng chữ S có gạch ở dưới. Gạch là một biến dạng của nọc chấm đặc mang dương tính. Nếu nhìn theo duy dương I này trông như một lá phướn bay xoáy cuộn diễn tả gió chuyển động, gió dương, thiếu âm.

-Chữ I trong đa số mẫu tự Âu châu và trong Việt ngữ ngày nay.

Các mẫu tự này thường lấy theo mẫu tự Latin là i, I.

Nhưng trong mẫu tự ngày nay thường có Y hiện diện. Latin cũng có chữ Y gọi là I Graeca.

Việt ngữ i và y lấy từ Latin. Ta thấy ở đây có thể có một khuôn mặt bán âm của i nằm trong Y.

Chữ Y.

Vì muốn thay I cho Y, ta cũng phải tìm xem xét căn cước của Y ra sao.

Trong phạm vi bài viết chỉ xin thật vắn tắt vài điểm liên hệ ở đây.

Ngày xưa Y được xếp vào nguyên âm như thấy trong mẫu tự Latin. Như thế Y hiển nhiên có một khuôn mặt nguyên âm. Ngày nay Y được xếp vào phía phụ âm như thấy trong chữ Quốc ngữ. Như thế Y có một khuôn mặt phụ âm như thấy trong trong Anh ngữ Yoke (The letter Y stands for a consonant in “yoke”). Khuôn mặt phụ âm của Y này trong Anh ngữ và trong một số mẫu tự Tây phương tương đương với J, G (Y = J = G). Ví dụ Anh ngữ yard = Pháp ngữ jardin = Anh ngữ garden, vườn. Trong Việt ngữ phụ âm Y tương đương với D, Gi (tức J). Ví dụ Yếm (yếm là thứ để che, che vú phụ nữ) = Diếm = Giếm là che dấu như dấu diếm. Mường ngữ như ỷ hai = dì hai, ỷ roch = dì ruột.

Ta cũng thấy I = J = D = Gi như tên Chúa Ki-Tô Hy-Lạp là Iesu = La-Tinh Iesus = Anh Jesus = Pháp Jésus = Việt ngữ Dê Su = Giê Su. Như vậy I và Y có chung một khuôn mặt phụ âm. Đây có thể là một khuôn mặt của bán âm.

Như vậy Y có ít nhất là ba khuôn mặt phụ âm, nguyên âm và bán âm.

Bây giờ ta lướt qua thật nhanh Y từ chữ cổ đại cho tới bây giờ xem sao.

Trong chữ cổ đại Mu, Maya và Ai Cập cổ đại:

clip_image038

So sánh I và Y

clip_image040

ta thấy cả hai đều diễn tả bằng một nọc que, hai nọc que và ba nọc que chỉ khác là quay về các chiều khác nhau tức mang tính nòng nọc (âm dương) khác nhau thôi.

Tóm lại theo các dạng chữ nòng nọc (âm dương) cổ ở trên ta thấy I và Y có những khuôn mặt mang tính nòng nọc (âm dương) khác nhau, có khi đối nghịch nhau ở các tầng sinh tạo khác nhau của nhánh nọc que âm nghiêng (/, //, \\, ///. \\\).

.Trong linh tự Ai Cập.

-Dạng diễn tả theo chữ nòng nọc vòng tròn-que trong mẫu tự cổ đại:

clip_image042

Ta thấy ngay khuôn mặt Y diễn tả bằng hai nọc que nghiêng trái này giống I hai nọc que nghiêng trái:

clip_image043

-Dạng hai lá/hoa sậy.

clip_image045

Ta cũng thấy ngay khuôn mặt Y diễn tả bằng hai lá/hoa sậy này giống I hai lá/hoa sậy:

clip_image047

Như thế ở diện I âm (hai lá/hoa là số âm) và ở tầng tứ tượng (hai nọc que) này ta có thể thay I cho Y.

.Trong mẫu tự Phoenicia.

clip_image034[1]

So sánh chữ Y này với mẫu tự Phoenicia E (= I linh tự Ai Cập thiếu âm) có hình cờ phướn ta thấy Y là một biến dạng của hình phướn cờ của E Phoenicia (xem dưới).

.Trong các mẫu tự ABC hiện tại.

-Hy Lạp

Chữ Hy Lạp là con đẻ của mẫu tự Phoenicia.

Như đã nói ở trên trong mẫu tự Hy Lạp hiện nay không có chữ Y hay ở dạng ít thấy.

-Ả Rập

I và Y Ả Rập như nhau:

clip_image036[1]

Y và I trông như một lá phướn xoáy bay diễn tả gió chuyển động, gió dương, thiếu âm.

Y và I Ả Rập tương đương với linh tự Ai Cập I = Y diễn tả bằng hai hoa sậy.

-Các mẫu tự ABC hiện đại trong đó mẫu tự ABC Việt Nam.

Y này là con cháu của Latin hay các mẫu tự ruột thịt với Latin nên Y cũng có các đặc tính như vừa nói ở trên.

So Sánh I và Y Dưới Lăng Kính Nòng Nọc (âm dương) của Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que.

Hãy so sánh I và Y theo tính nòng nọc (âm dương) để tìm hiểu những điểm khả thi có thể thay Y bằng I.

1. Ở dạng chữ cổ đại.

a. Những điểm tương đồng:

-Một nọc que

I và Y có hình một nọc que quay về phía phải, dương trong mẫu tự Maya và Mu.

-Ba nọc que

I và Y có hình ba nọc que quay về phía phải, dương trong mẫu tự Ai Cập cổ đại và Maya.

b. Những điểm dị biệt.

-Một nọc que

.Tất cả Y một nọc que đều quay về phía phải, dương trong mẫu tự Mu, Maya, Ai Cập cổ đại. Trong khi I một nọc que trong Mu và Maya quay về phía trái, âm.

-Hai nọc que

Y hai nọc que trong Mu quay về phía tay phải, dương trong khi ở I tất cả hai nọc que quay về phía trái, âm.

-Ba nọc que

Đặc biệt trong chữ Maya Y duy nhất có một khuôn mặt là ba nọc que III nghiêng về phía trái, âm \\\ tương đương với hình tam giác (do ba nọc que hợp lại) ngược (mang âm tính). Như đã biết tam giác ngược có một khuôn mặt biểu tượng cho âm hộ. Vì thế Y có một khuôn mặt biểu tượng cho âm hộ mà người Tây phương cho Y có hình cái cốc có chân chalice, biểu tượng cho bộ phận sinh dục nữ yoni:

clip_image049Y hình cốc có chân (chalice) tương đương với tam giác ngược biểu tượng cho bộ phận sinh dục nữ, yoni ngành nọc thái dương.

Như thế Y có một khuôn mặt âm, nữ, nường, yoni của nhánh thái dương. Đối ứng với Y nường, yoni này ta có I, nõ, linga. Hiển nhiên với hai khuôn mặt đối nghịch tính nòng nọc (âm dương) này I không thể thay thế cho Y được.

Nói chung trong các chữ cổ đại, với những khuôn mặt tương đồng nòng nọc (âm dương)

I và Y có thể thay thế cho nhau được. Ngược lại những khuôn mặt nòng nọc (âm dương) đối nghịch I và Y không thể thay thế cho nhau được.

2. Ở dạng hình ngữ.

-Linh tự Ai Cập

.Tương đồng

Ta thấy rõ khuôn mặt I và Y diễn tả bằng hai lá/hoa sậy này giống I hai lá/hoa sậy:

clip_image047[1]

Ta suy ra I âm hai lá/hoa sậy có thể thay thế Y hai lá/hoa sậy được.

.Dị biệt.

Y không có ở dạng một lá/hoa sậy nghĩa là Y mang tính nòng âm.

Ta suy ra I dương một lá/hoa sậy không thể thay thế Y được.

-Chữ Phoenicia.

Mẫu tự I Phoenicia

clip_image051

trông có cảm tưởng như một vật gì bay trong gió?

Nhưng như vừa mới nói ở trên có I một lá/hoa sậy tương đương với Phoenicia E, một khuôn mặt thiếu âm gió của I.

clip_image052Chữ E trong mẫu tự Phoenicia hình phướn cờ, một biến dạng của I hình hoa sậy.

So sánh Phoenicia E (= I linh tự Ai Cập thiếu âm) với Phoenicia Y clip_image053 ta thấy hình phướn cờ của E có ba tua gió đã biến dạng trở thành phướn cờ của Y chỉ còn hai tua gió. Tua thứ ba tụt xuống dưới chân cờ phướn và quay ngược hướng về phía phải, dương.

Ta suy ra I không thể hoàn toàn thay thế cho Y. Chỉ có I dưới dạng thiếu âm E Phoenicia mới có thể thay thế riêng khuôn mặt thiếu âm của Y.

Cần phải có những ngoại lệ, biệt lệ.

3. Các mẫu tự hiện đại.

-Chữ I Hy Lạp.

Trong mẫu tự Hy Lạp hiện nay chỉ có I Iota nhưng không có chữ Y, như thế khuôn mặt bán âm của i không có hay nếu có thì ở dạng liệt, thứ yếu, tiềm ẩn không hiện ra ngoài.

-Chữ I Ả Rập.

Như đã nói ở trên I và Y như nhau

clip_image036[2]

Y và I trông như một lá phướn xoáy bay diễn tả gió chuyển động, gió dương, thiếu âm.

Y và I Ả Rập tương đương với linh tự Ai Cập I = Y diễn tả bằng hai hoa sậy.

Như vậy I có thể thay thế Y ở diện thiếu âm.

-Chữ I trong đa số mẫu tự Âu châu và trong Việt ngữ ngày nay.

Thường lấy theo mẫu tự Latin cổ, Y gọi là I Graeca.

Ta thấy I và Y trong các mẫu tự hiện đại có riêng hai chữ và phát âm khác nhau. Riêng trong chữ Quốc ngữ trước đây gọi phân biệt là /i/ và /I gờ-zét/, bây giờ gọi chung là /i/ và để phân biệt I ngắn và Y dài.

Như vậy qua Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que, qua các dạng chữ cổ đại, hình ngữ linh tự Ai Cập, Phoenicia, các dạng chữ hiện đại ta rút tỉa ra được các điểm sau đâu:

-I có những khuôn mặt nòng nọc (âm dương) khác với Y. Thật ra không cần suy nghĩ gì cả chỉ cần nhìn mặt chữ ta đã thấy I và Y đã có tính nòng nọc (âm dương) khác nhau rồi. Cả hai giống nhau ở điểm là cùng thuộc chữ nọc que nhưng I gồm một nọc que mang tính sinh tạo ở tầng lưỡng nghi còn Y do ba nọc que ghép lại mang tính sinh tạo ở tầng bát tượng. I chỉ thiên mà dương tính trội và Y chỉ địa mang âm tính trội.

-Trong linh tự Ai Cập, I có:

.Một khuôn mặt nọc dương I một lá/hoa sậy. Nhìn dưới dạng nòng nọc I có một khuôn mặt nõ. Y không có dạng một lá/hoa sậy này. Trong trường hợp này I không thay thế Y được.

.Y chỉ có một khuôn mặt âm hai lá/hoa sậy nên tương đồng với I ở dạng hai/lá sậy. Trong trường hợp này ta thay I cho Y không hề trở ngại gì.

.Y có một khuôn mặt ba nọc que âm thái dương biểu tượng cho yoni.

Như thế I ở dạng nõ và Y ở dạng nường không thể thay thế được.

.Ngoài ra I và Y còn các khuôn mặt nòng nọc (âm dương) khác nữa nên cần có thêm nhiều qui tắc, qui luật, ngoại lệ, biệt lệ phức tạp ứng với các khuôn mặt nòng nọc (âm dương) khác, ở các tầng sinh tạo khác của I và Y.

Ví dụ giáo sư Giáo sư Trần Ngọc Ninh dùng I sĩ, nghề I, I Khoa… thay cho Y sĩ, nghề Y, Y Khoa dựa theo đúng khuôn mặt nguyên âm của I chẳng hạn nhưng Y là một từ Hán Việt. Ai cũng biết Thuần Việt và Hán Việt khác nhau. Tính nòng nọc (âm dương) của I và Y trong Thuần Việt và Hán Việt khác nhau (như I khác nhau trong mẫu tự Mu và Maya đã nói ở trên). Trong trường hợp các từ Hán Việt này, từ xưa tới nay đã viết Y, theo tôi nên giữ Y thay vì đổi qua I. Đây là một ngoại lệ, một biệt lệ khi, Y là một từ Hán Việt thì nên viết Y thay vì đổi qua I.

Vì thế cho nên những người không muốn áp dụng các qui luật ngôn ngữ một cách máy móc, những người coi chữ nghĩa có hồn sống, biến sinh viết chữ theo cảm quan, ngữ cảm, theo nề nếp cũ e dè, ngại hay từ chối sửa đổi. Môn phái này vạch ra là sửa đổi làm rắc rối cuộc đời, làm mất trong sáng, làm thui chột bớt chữ nghĩa Việt, làm mất thẩm mỹ chữ Việt, vân vân và vân vân.

Đây cũng là lý do tại sao giáo sư Trần Ngọc Ninh và Bộ Giáo Dục Việt Nam sau gần nửa thế kỷ mà quần chúng, ‘nhân dân’ vẫn không hoàn toàn chấp nhận sửa đổi theo.

Tổng kết lại, mẫu tự i, I và Y có gốc từ chữ nòng nọc vòng tròn-que mang trọn ý nghĩa nòng nọc (âm dương) của vũ trụ tạo sinh, dịch học. Các mẫu tự ABC nói chung là con cháu của chữ nòng nọc vòng tròn-que. Theo dòng thời gian tính nòng nọc của i, I đơn giản hóa đi chỉ còn giống đực, giống cái và ngày nay cho là chỉ còn ở hai dạng nguyên âm và bán âm nói theo ngôn ngữ học ngày nay.

Giáo sư Trần Ngọc Ninh và các nhà ngôn ngữ học hiện nay hợp lý khi nhìn theo một cách giản lược hiện nay là I chỉ có hai khuôn mặt nguyên âm và bán âm, có thể chỉ ứng với hai khuôn mặt bao quát là nòng nọc (âm dương) nhìn chung.

Còn nhìn theo nòng nọc (âm dương) của thời cổ đại i phức tạp hơn, như ta đã thấy I ở dưới ba dạng nọc que: một nọc que I, hai nọc que II và ba nọc que III nghĩa là I có ba khuôn mặt sinh tạo không phải là chỉ có hai khuôn mặt nguyên âm và bán âm.

Nhìn chung ngày nay tính nòng nọc của mẫu tự ABC đã giản lược, thu lại chỉ còn tính giống đực, giống cái như thấy rõ trong Pháp ngữ qua mạo từ (phụ từ, article) lela. Nòng nọc (âm dương) chỉ còn đơn giản là đực và cái. Thậm chí, giống đực giống cái trong nhiều ngôn ngữ, chữ viết ngày nay chỉ còn thấy qua những tàn tích, những rơi rớt còn lại (remnant) mà thôi như trong Anh ngữ những từ chỉ tầu thuyền (ship), quốc gia (nation, country) liên hệ với nước (có tính thái âm) có giống cái (she, her) và Việt ngữ cũng có giống đực giống cái ở dạng như vậy. Tiếng Việt nói rộng ra có tính nòng nọc (âm dương), dịch học (Tiếng Việt Huyền Diệu). Thật sự nòng nọc (âm dương) không phải chỉ có tính đực cái đơn giản như thế mà thôi. Nòng, âm, cái (O) còn có âm (O) của âm (O) là thái âm (OO), dương (I) của âm (O) là thiếu âm (IO) và siêu âm (OOO). Nọc (I), đực, dương còn có dương (I) của dương (I) là thái dương (II), âm (O) của dương (I) là thiếu dương (OI) và siêu dương (III). Vì thế i chỉ nhìn dưới hai diện nguyên âm và bán âm chỉ hợp lý dựa theo quan niệm chữ nghĩa ngày nay nhưng chưa đủ còn thiếu sót khi nhìn I theo quan niệm nòng nọc (âm dương) của chữ nòng nọc vòng tròn-que cổ đại. Tính nòng nọc (âm dương), dịch tính của I không đơn giản như cái và đực, như nguyên âm, bán âm, như âm dài, âm ngắn.

Để dứt điểm, xin rút gọi, đơn giản lại cho dễ hiểu và dễ nhớ, ta hãy dựa vào linh tự, hình tự Ai Cập I và Y vì có hình vẽ giúp thấy rõ 20/20 (tôi gác qua bên các dạng chữ cổ đại của James Churchward vì các nhà ngôn ngữ còn nghi ngờ).

I và Y chỉ khi cùng ở dưới dạng hai lá/hoa sậy thì mới tương đồng với nhau clip_image054 và thay thế cho nhau được. Còn ở các dạng khác của I như dạng I mang tính thuần dương nõ và Y mang tính thuần âm yoni (nhánh nọc dương) không thể thay I cho Y được. Còn lại những dạng khác như dạng một lá/hoa sậy, dạng tam giác quay về phía trái, dạng I/E phướn gió rơi vào các ngoại lệ, biệt lệ.

I và Y như vợ chồng tương đồng và tương khắc. Đời đời vẫn còn mãi chuyện dài chính tả I và Y. I và Y rắc rối cuộc đời chữ nghĩa như nõ I nường Y.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: