ẤN ĐỘ: ĐỀN THỜ NƯỜNG YONI.

(*nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

Phải tuân thủ luật Tác quyền Copyright.

ẤN ĐỘ: ĐỀN THỜ NƯỜNG YONI.

Nguyễn Xuân Quang.

Thờ Nõ Nường, sinh thực khí, là một bái giáo cổ nhất của loài người. Việt Nam cũng có. Nền văn hóa Thung Lũng Sông Ấn qua các khảo cổ vật cũng cho thấy có thờ phượng yoni và linga (Sự Đời Như Cái Lá Đa). Không một nơi nào xây dựng đền thờ có hình nường yoni một cách vĩ đại như ở Ấn Độ. Chúng ta nghe nói tới và thấy rất nhiều đền thờ Nõ Linga ở Ấn Độ (Ý Nghĩa Nõ Linga Trong Ấn Giáo) nhưng ít khi nghe và thấy đền thờ Nường Yoni. Cả Ấn Độ chỉ có 4 đền thờ có hình yoni đích thực, ba đền ở Nam Ấn và một đền ở nơi khác. Ngoài ra cũng còn có các đền thờ yoni, thờ mẫu khác nhưng không có hình yoni đích thực. Điều này dễ hiểu, như đã biết, người Aryans võ biền theo xã hội phụ quyền cực đoan đã tẩy xóa sạch văn hóa bản địa Thung Lũng Sông Ấn (theo văn hóa sông nước, mẫu quyền, thờ Mẹ Tổ, Thần Nữ) vì vậy các đền thờ nường yoni chỉ thấy rất ít, đếm được trên đầu ngón tay ở Ấn Độ là vậy.

Qua ngôi Đền Vaital thờ Chamunda, khuôn mặt hung thần nữ của thần mẫu Durga ta thấy sự thờ phượng thần nữ rất nổi trội tại Bhubaneswar vì thế tại đây có nhiều đền thần nữ khác, một vài đền thờ yoni trong đó nổi tiếng là Đền 64 Yogini ở Hirapur, thành phố Bhubaneswa, tiểu bang Odisha này.

ĐỀN THỜ 64 YOGINI HIRAPUR.

Đền nằm ở một làng hẻo lánh Hirapur cách Bhubaneswar 20 km, phải dùng các đường làng hẹp nhỏ có chỗ còn là đường đất, đá. Phải đi tua riêng. Hirapur có Hira là Kim Cương và pur là búa (chợ búa), phố, phường, phủ, mường, buôn bản. Theo truyền thuyết ngày xửa ngày xưa tại làng này có mưa kim cương vì thế mới có tên là Buôn, Bản, Mường Kim Cương.

Đền được cho là xây vào thế kỷ thứ 9 Sau Dương Lịch. Đây là ngôi đền 64 Yogini nhỏ nhất ở Ấn Độ, có lẽ vì cổ nhất.

Yogini là gì? Từ Yogini hiện hiểu theo nghĩa chỉ một bậc thầy nữ về yoga và là một từ dùng theo nghi thức chỉ một tôn sư tâm linh phái nữ trong Ấn giáo hay Phật giáo ở Ấn Độ, Nepal và Tây Tạng. Ở Nam Ấn có từ jogini chỉ nữ tu hiến thân cả đời cho tín ngưỡng.

clip_image002

clip_image004Đền 64 Yogini ở Hira, Bhubaneswar, Ấn Độ. Đền làm theo hình lỗ yoni vòng tròn, lộ thiên không có mái.

Nhưng có một điểm dễ nhớ là Yogini có âm gần cận  với yo(gi)ni rất dễ nhớ.

Tiện đây cũng nói một chút về ngôn ngữ học để hiểu rõ nghĩa từ yoni. Yoni biến âm với Việt ngữ don (y=d như Mường ngữ ỷ roch = dì ruột). Don có một nghĩa là con nghêu, con sò. Ở Thái Bình và Quảng Ngãi có món ăn đặc sản là canh don . Sò nghêu có một khuôn mặt biểu tượng cho bộ phận sinh dục nữ. Theo biến âm d = l (như dần dần = lần lần), ta có don = lồn. Nhiều người thích ăn canh don!

Điểm này cho thấy văn hóa Nam Ấn Độ nghiêng hẳn về phía nòng âm, sông biển (vì vậy trong 4 đền hình yoni thì ba đền ở Nam Ấn). Đền hình nường yoni đối ứng với đền hình nõ linga dưới dạng lưỡng cực, nòng nọc (âm dương), nường nõ đề huề. Đền thờ nường này biểu tượng cực âm, nữ.

…….

Tại sao lại là số 64?

Con số 64 này làm ta lên tưởng tới 64 quẻ dịch. Như thế con số 64 này phải có ý nghĩa theo dịch học.

Ta thấy 64 có hai số 6 và 4.

a. Trước hết 6 + 4 = l0

-Hư vô, vô cực.

. Số 10 có số 1 dương và số 0 âm. Số 10 nhìn theo nòng nọc (âm dương) đối cực là số triệt tiêu tức số 10 là số bù = 0. Số 0 là số không, zero ở cõi tạo hóa có một khuôn mặt là hư vô, vô cực.

-Thái cực.

Nhìn dưới dạng nòng nọc (âm dương) nhất thể số 10 có một khuôn mặt là thái cực.

-Lưỡng nghi.

Ở tầng lưỡng cực số 1 là mặt trời, cực dương và số 0 là không gian, cực âm. Số 10 có một khuôn mặt là lưỡng cực, lưỡng nghi.

b. 6-4 = 2.

Số 2 có một khuôn mặt là lưỡng nghi.

c. 6 : 4 = 3/2.

Số 3 có một khuôn mặt là tam thế. Số 2 đã nói ở trên.

d. 6 x 4 = 24.

Có 2 đã nói ở trên. Số 4 có một khuôn mặt là tứ tượng.

Như vậy con số 64 diễn tả trọn vẹn cả qui trình vũ trụ tạo sinh từ hư vô (0), thái cực (10), lưỡng nghi (2), tứ tượng (4), tam thế (3), vĩnh hằng (số 0 có một khuôn mặt vô cùng tận, vĩnh hằng) nghĩa là diễn tả trọn vẹn triết thuyết vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo, dịch học. Đền 64 Yogini này diễn tả khuôn mặt tạo hóa sinh tạo của Tổ Mẫu Tối Cao của nhân loại, của Mahamaya nói riêng ở phía yoni.

Tương tự Linga Shiva cũng có 64 khuôn mặt nhưng ở phía nọc dương linga. Ví dụ đền Kailasanathar ở tiểu bang Tamil Nadu thờ 64 khuôn mặt Shiva/Linga.

clip_image006Đền Kailasanathar thờ 64 khuôn mặt của Shiva/Linga.

Lưu ý: ở mỗi điện nhỏ làm theo tam thế, cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) có chỏm tháp mang hình dạng nấm linga.

Như đã nói ở trên con số 64 làm liên tưởng tới 64 quẻ dịch mang trọn vẹn ý nghĩa sinh tạo. Vì thế ta thấy ở đây cũng trả lời cho sự thắc mắc của những người học dịch là tại sao dịch học dừng lại ở 64 quẻ mà không là 128 và hơn nữa, tới vô cùng tận. Câu trả lời là 64 quẻ đã diễn tả đủ hết ý nghĩa của vũ trụ tạo sinh, của dịch rồi.

1. Đền Mang Dấu Ấn Bái Giáo.

Thờ nường yoni cũng giống như thờ nõ linga có nguồn cội nguyên thủy là thờ bái giáo, thờ sinh thực khí. Rồi trở thành thờ các thần nữ địa phương, thần làng, nữ thần hoàng ở những nơi có văn hóa mẫu hệ, thờ Mẹ Tổ. Ở Việt Nam trước đây và cả bây giờ cũng thờ nữ thần hoàng. Ví dụ như ở Làng Diềm, Luy Lâu, Bắc Ninh có nữ thành hoàng là bà Nhữ Nhương, một khuôn mặt của thái dương thần nữ Âu Cơ (Nhận Diện Danh Tính Âu Cơ). Sự thờ yoni và nữ thành hoàng trước đây quan trọng hơn cả Ấn giáo. Dần dà các vị nữ thành hoàng này biến đổi và tiến hóa trở thành thờ yogini trong Ấn giáo, Phật giáo (nhất là môn phái Mật Tông) và Mật giáo (Tantrism). Các đền thờ yoni, yoni-linga cho thấy rõ sự chuyển tiếp từ thờ bái giáo qua vũ trụ giáo. Vì thế ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy các đền thờ yoni như ở đền thờ 64 Yogini ở đây mang trọn vẹn ý nghĩa vũ trụ tạo sinh của vũ trụ giáo, của dịch học.

Ngoài đền có 64 Yogini đôi khi ở một vài nơi khác có 81 hay 42 Yogini.

2. Hình Dáng Tổng Quát Bên Ngoài.

Đền Yogini mang tính nguyên thủy có hình giống cái lỗ tròn nường yoni. Ví dụ như đền này làm theo yoni vòng tròn nòng O mang âm tính thái âm đúng theo dạng thiên nhiên lỗ tròn của yoni (có đền có hình yoni vuông). Đền lộ thiên (không có mái) gọi là đền hypaethral.

Các nhà làm văn hóa Ấn Độ không hiểu rõ tại sao lại để hở. Theo dịch học, hở, rỗng là âm (hở biến âm với , hào hư trong dịch là hào âm) và kín, đặc là dương (tre đặc là tre đực). Đực biến âm với thực (đ = th như đủng đỉnh = thủng thỉnh). Hào thực trong dịch là hào dương.

Trường hợp này giống như trống đồng mặt kín dương và đáy hở âm.Trống đồng là trống nọc nòng  (dương âm ),  Chim-Rắn, Tiên Rồng  của Việt Nam, tuyệt nhiên không thể nào là của Trung Quốc (có văn hóa du mục, võ biền, phụ quyền cực đoan).  Đền mang tính thuần âm, ngành nòng âm nữ thái âm nên để hở lộ thiên là vậy.

clip_image008Sơ đồ mặt bằng của đền (nguồn: Suresh Balabantaray, Sixty Four Yogini Temple Hirapur).

Sơ đồ cho thấy đền có hai phần chính: đền có vòng thành ngoài tròn và điện ở tâm hình trụ vuông.

3. Phía Ngoài Đền.

-Mặt ngoài tường đền.

Phía mặt ngoài vòng đền có tượng 9 vị thần Katyayanis, 9 khuôn mặt của nữ thần Parvati, vợ Shiva gọi là Naba Katyayanis (Naba là 9).

clip_image010Katyayanis số 8 một tay cầm dao, một tay cầm cốc sọ người. Một nữ phụ tá cầm dù che. Bệ dưới chân có một con chó nhà và một con chó ăn xác chết jackal (ảnh của tác giả).

Katyayanis nầy mang khuôn mặt hung thần âm nữ vì cầm dao, cốc sọ người và có con chó ăn xác người nên được cho là có thể liên hệ với Mật giáo.

….

-Cổng vào.

Cổng đền hướng về phía đông, hướng mặt trời cũng cho thấy rõ tính lửa ngành mặt trời của các yogini. Có hai vị thần gác cửa, hộ pháp Dvarapalas ở hai bên cửa.

clip_image012Hai vị thần gác cửa Dvarapalas (ảnh của tác giả).

-Tiền phòng.

Cổng dẫn vào tiền phòng là chỗ nối cổng với phần vòng tròn đền.

Hai bên tường tiền đình có hai thần nam. Thần bên phải mặt mày dữ tợn, cầm sọ người, đeo chuỗi cổ và vòng cổ chân rắn. Tay cầm cốc sọ người. Người gầy trơ xương, bụng hóp, lép kẹp… là Hung Thần Kala Bhairav.

clip_image014Kala Bhairav (ảnh của tác giả).

Bhairav nghĩa đen là Khiếp Đảm, kinh khủng, là một khuôn mặt hung tợn của Shiva. Hung thần Bhairav thường canh giữ bốn phương trời và có một khuôn mặt bảo vệ phái nữ. Kala Bhairav cũng có một nghĩa là Chúa Tể Thời Gian (Lord of Time).

Vị thần bên trái gần giống như tượng này chỉ khác vài chi tiết là thần Bikal Bhairav.

4. Bên Trong Đền.

64 Yogini chia ra làm hai nhóm chính: nhóm ở điện trụ vuông ở trung tâm đền có 4 Yogini và nhóm thứ hai ở vòng phía trong thành đền có 60 Yogini. Trong nhóm sau này có thần chủ của đền.

-Thần chủ Mahamaya.

Thần mẫu tối cao, nữ thần chủ ở đây là Mahamaya. Mahamaya có Maha- là lớn, vĩ đại biến âm với Việt ngữ Mạnh và Maya có một nghĩa là Mẹ biến âm với Việt ngữ Má, Mạ. Nước Maya Trung Mỹ thuộc ngành nòng âm là một thứ Nòng Việt Trung Mỹ với Maya có một nghĩa là Mạ, Má, Mẹ (Tương Đồng với Maya). Mahamaya là Thần Mẫu Vĩ Đại, Thần Tổ Mẫu. Vì vậy dân địa phương gọi đền này là đền Mahamaya.

clip_image016

clip_image018(ảnh của tác giả).

Nữ thần chủ Tổ Mẫu Vĩ Đại Mahamaya.

Rất tiếc bị trang phục che hết chỉ còn thấy một phần mặt.

Đại Thần Mẫu Mahamaya lớn hơn các vị còn lại. Mặt phúc hậu có 10 tay. Tại sao có 10 tay?

Như đã nói ở trên số 10 diễn tả trọn các giai kỳ của vũ trụ tạo sinh, có trọn nghĩa của vũ trụ thuyết. Tô Mẫu Vĩ Đại Mahamaya có một khuôn mặt là Đấng Tạo Hóa ngành nữ. Mahamaya ngồi trên tòa sen nở rộ (vì hoa sen theo âm biểu tượng cho nước thái âm, có một nghĩa là bộ phận sinh dục nữ), đội vương miện mukuta (mukuta có mu- biến âm mẹ con với Việt ngữ mũ, mão), đeo vòng cổ, vòng eo, vòng cổ chân lộng lẫy.

Mahamaya ở vị trí số 31 của vòng 60 nữ thần Yogini. Ta thấy 3-1 = 2, số 2 là số Khảm, nước âm cõi trời; 3 + 1 = 4, số 4 là số Cấn, non (núi âm); 3 : 1 = 3 và 3 x 1 = 3, số 3 là số Đoài vũ trụ khí gió, Khôn dương. Như vậy 31 mang nghĩa bao gồm Nước, Đất, Không khí, bầu trời nghĩa là ba cõi Trời, Đất, Nước của phía nòng âm, nữ. Mẹ Tổ Tối Cao Mahayana có một khuôn mặt tạo hóa tam thế hay ba tiểu thế cõi thế gian của ngành nòng âm nữ.

Tóm lại Thần Mẫu Vĩ Đại Mahamaya là Tổ Mẫu Sinh Tạo Tối Cao Tối Thượng của tam thế thấy qua 10 cánh tay và ở vị trí 31 trong 60 Yogini ở vòng thành đền.

-Vòng thành đền.

clip_image020Mặt trong vòng thành đền có tượng 60 yogini (ảnh của tác giả).

64 Yogini chia ra làm những nhóm khác nhau mang tính nòng nọc (âm dương) khác nhau của ngành nòng thái âm nữ. Điểm này thấy rõ qua các thần nữ này có vóc dáng khác nhau, đứng theo một tư thế khác nhau, trang sức khác nhau (đeo vòng cổ, vòng hoa, vòng cổ tay, cổ chân, hoa tai, trang phục đầu và kiểu tóc khác nhau). Mỗi Yogini một vẻ.

Vì đây là đền thần nữ nên cách xếp đặt kiến trúc theo chiều âm, khởi sự từ phía bên trái. Ta phải bắt đầu đi từ phía bên trái tức theo chiều kim đồng hồ:

clip_image022Yogini số 1: Maya/Bahurupa/ Chandika. Số 2: Tara, Số 3: Namada.

……

Ngoài các Yogini hình người ra còn có nhiều yogini hình thú vật, rõ nhất là thần nữ đầu voi:

clip_image024Yogini số 38 Matangi/Shitala/Vainayaki/Ganeshani/ Gajanana (ảnh của tác giả).

Mặt voi, bụng xệ, đứng trên con lừa. Vì có mặt voi nên vị thần nữ này được cho là khuôn mặt nữ của thần Ganesha.

-Điện Trụ Cột (Chandi Mandap).

Ở trung tâm vòng yoni có một điện thờ dạng trụ cột (chandi mandap) hình vuông mang dương tính cũng lộ thiên, có cửa vòm hình dương vật linga:

clip_image026Điện trụ cột vuông cửa vòm hình dương vật.

Trụ mang hình ảnh một linga nọc trụ vuông cắm ở tâm lỗ tròn yoni. Nhìn dưới nhánh nòng âm yoni của đền các thần nữ Yogini thì đây là nguyên lý trong âm yoni có dương linga. Nhìn dưới diện lưỡng cực thì đây là lưỡng hợp nòng yoni với nọc linga.

Ta thấy rõ điện trụ cột này là linga qua hình ảnh của bốn tượng Hung Thần Bhairav, bốn hóa thân của Shiva ở bốn góc điện:

clip_image028Bhairav số 1 ở góc Đông Nam chỉ có một chân gọi là Ekapada Bhairav (Ekamột ruột thịt với Việt ngữ cả là số một, lớn như anh cả, thợ cả và pada ruột thịt với gốc Hy Lạp pod-, gốc tái tạo Ấn-Âu n *ped là chân. Hán Việt bộ, Việt ngữ bước biến âm với pod-, ped-, pada). Ekapada Bhairav là Hung Thần Một Chân. Lưu ý thần có ‘công ngủ’ của Shiva.

Bốn Bhairav đều có ‘công ngủ’ của Shiva. Hiển nhiên Bhairav là một khuôn mặt của Shiva. Rõ như ban ngày điện trụ vuông là linga Shiva.

Trước đây được tin là tại đây thờ thần Shiva dưới dạng thần nhẩy múa Nataraja trong vũ điệu vũ trụ gọi là Maha Bhairav (Đại Thần Bhairav) có nghĩa là Shiva có khuôn mặt tạo hóa tương ứng với khuôn mặt tạo hóa của Thần Mẫu Vĩ Đại Mahamaya ở đây. Tượng này đã bị dời đi.

Bốn tượng Bhairav ở bốn trụ góc là thần tứ trụ có một khuôn mặt gác bốn phương trời ứng với tứ tượng dương. Như đã nói ở trên 64 Yogini có 60 ở vòng thành đền còn 4 Yogini ở điện trụ Shiva đi cặp với bốn Bhairav này. Ta suy ra ngay bốn Yogini ở đây ứng với tứ tượng âm. Thật vậy.

.Yogini số 61 là Sarva Mangala.

Hiện đã bị lấy đi. Một vài người cho rằng tượng này đem tới Yamuna Kuda gần sông Kuakhai. Mặc dầu không thấy hình nhưng ta thấy tượng này đem tới bờ sông thờ (Yamuna một nhánh sông Hằng) thì tượng này phải liên hệ với Nước. Tên Sarva cũng có cùng gốc Sa-là nước, Việt ngữ sả, xả nước là sối, xối nước, mưa xối xả, cây sả là cây dùng nấu nước trà, nước tắm, gội đầu, Hán Việt xà là rắn biểu tượng của nước. Gốc Phạn Sara- là nước và sarpa là serpent, rắn, có một khuôn mặt biểu tượng Nước. Ta thấy rất rõ Sarva biến âm mẹ con với Sarpa, Rắn.

Như vậy Yogini này ứng với tượng Nước âm.

. Yogini số 62: Ajita.

clip_image030Yogini Ajita (nguồn: Suresh Balabantaray, Sixty Four Yogini Temple Hirapur).

Tóc kiểu chóp thon nhọn trông như hình núi âm (non) đứng trên con mang gạc (munjact) sừng hai mấu nhọn, thú biểu của thần Đất giống như hươu mang gạc kijang (tên Mã Lai) thú biểu của Kì Dương Vương. Yogini này ứng với Tượng Đất âm. Con mang gạc này nhỏ con chân thấp trông giống con chó, đến mùa nhẩy cái tiếng gọi con cái giống như tiếng chó sủa nên còn có tên là hươu sủa (barking deer). Con hươu mang gạc, hươu sủa ở đây giống hệt con hươu mang gạc kijang thú biểu của Vua Hươu Mặt Trời Kì Dương Vương thấy trên trống Sangeang Nam Dương: clip_image032.

Con thú biểu tượng ở dưới chân tượng này xác thực khuôn mặt biểu tượng cho tượng Đất của Yogini Ajita.

Một điều lý thú nữa là Ajita có thú biểu hươu sủa này thấy qua khuôn mặt Ajita trong Phật giáo. Trong Phật giáo Ajita là A Di Đà, vị Phật Tương Lai. Ngài sinh ra từ một gia đình rất nghèo, lúc sinh ra không có quần áo phải bọc trong da hươu. Trong Ấn giáo và Phật giáo Ajita đều có thú biểu là con hươu.

.Yogini số 63: Surya Putri.

clip_image034Yogini Surya Putri (ảnh của tác giả).

Có cây nọc dương nhưng  đầu thon mang âm tính ở một bên đầu. Cọc là dương có một khuôn mặt biểu tượng lửa, mặt trời. Ở đây cọc mang âm tính là mặt trời âm thái dương dòng nữ. Vương miện hình ngọn lửa tròn đầu mang âm tính. Tay phải cầm cung tay trái rút trên trong ống tên. Cung tên khí giới biểu tượng cho chiến tranh, lửa, mặt trời. Đứng trên con ngựa phi. Ngựa phi liên hệ với mặt trời. Thần mặt trời Surya cưỡi xe ngựa. Thần mặt trời của Điền Việt trên một trống đồng biến cải thành trụ tế lễ cũng cưỡi ngựa (Đồ Đồng Điền Việt). Yogini Surya Putri này liên hệ với thần mặt trời Surya ứng với tượng Lửa âm.

Ở đây ta có thể dùng hình ảnh tượng Yogini mang dòng máu thần mặt trời Surya này để kiểm chứng, xác thực cho thấy tên Việt của chúng ta có nghĩa là Mặt Trời.

Việt là Rìu, Búa clip_image036. Giải tự chữ Việt búa bên phải ta có chữ qua (que, gậy, khí giới nhọn): clip_image038 và bên trái có chữ phủ, clip_image040. Giải tự thêm chữ qua, ta có: nét sổ chéo hình cây que, cây qua, lao, búa, còn lại là chữ dực có nghĩa là cung tên clip_image042. So sánh ta thấy cây nọc thẳng ở đây là rìu, búa trong chữ Việt . Mũi tên là que nhọn, là qua, là lao trong chữ Việt. Cung là chữ dực trong chữ Việt. Chữ Việt có tất cả khí giới biểu tượng mặt trời của Yogini Surya Putri dòng mặt trời Surya. Như vậy rõ như dưới ánh sáng mặt trời Việt có nghĩa là mặt trời. Người Việt là Người Mặt Trời.

Một điểm lý thú (dù cho là không có thật đi nữa) là ta cũng thấy Yogini Surya Putri này đứng trên con ngựa, biểu tượng xe mặt trời. Ngựa có đặc tính là chậy, tẩu (như thấy qua chứng cam tẩu mã). Yogini này có tất cả các yếu tố và mang hình ảnh chữ Việt viết với bộ tẩu trong tên Việt Nam!

Yogini số 64: Vayu Veena.

clip_image044Yogini Vayu Veena (nguồn: Suresh Balabantaray, Sixty Four Yogini Temple Hirapur).

Vayu có nghĩa là khí, gió, thần gió. Vay(u) biến âm mẹ con với Việt ngữ Bay (gió bay). Như thế Yogini này ruột thịt với Khí, Gió, thần Gió. Ta thấy rất rõ Yogini Vayu Veena có búi tóc hình cầu O biểu tượng bầu vũ trụ, bầu không gian, bầu trời ứng với Khôn. Búi tóc hình cầu Khôn nằm bên phải, phía dương. Khôn dương là khí gió. Váy dây có tua  bay trong gió. Đứng trên con sơn dương có sừng xoắn ốc. Sừng này biểu tượng cho gió xoáy, gió lốc. Thần Gió nam cũng thường cưỡi con sơn dương này. Hai bên có hình trông như khói hay dải vải bay như sóng trong gió.

Đây đích thị là Yogini ứng với tượng Gió.

Như thế bốn Yogini đi cùng với bốn Bhairav ở bốn trụ của Điện Cột Trụ Shiva có khuôn mặt ứng với tứ tượng âm đi cặp với tứ tượng dương của Bhairav.

Như vậy 60 Yogini ở vòng thành là các vị thần con của bốn vị thần Yogini lớn ở cõi tứ tượng ở điện giữa. Chia đều ra mỗi vị thần Yogini ứng với mỗi tượng (Nước, Đất, Lửa Gió) là một đại tộc có 15 vị thần Yogini con ở vòng thành. Ví dụ:

-Đại tộc Nước ứng với Yogini Nước Sarva Mangala có các tộc nước thấy ở vòng thành như:

.Yogini Ganga (Sông Hằng).

clip_image046Yogini số 55: Ganga (ảnh của tác giả).

Ganga có bốn tay, búi tóc hình củ hành biểu tượng bầu trời Khôn. Ở đây phái nữ là Khôn thái âm tức Nước vũ trụ. Tay phải cầm nhánh hoa sen nở rộ. Hoa sen biểu tượng cho nước. Tay trái cầm con rắn naga-pasa. Rắn biểu tượng cho nước chuyển động. Đứng trên lưng ‘Makara’, một loài thủy quái nửa thú trên đất nửa thú dưới nước, ở đây đầu thú có sừng mang dương tính thái dương và đuôi là đuôi cá (Miền Nam gọi Makara là con Nạ có gốc Na- là nước, ruột thịt với rắn Naga, có lẽ bị ảnh hưởng của Campuchia).

Lưu Ý: thần sông Hằng đứng trên thủy quái nửa thú đất, nửa thú nước, có sừng mang dương tính tương đương với cá sấu mõm dao sống được trên đất và dưới nước có mõm dao mang dương tính. Vì thế cá sấu cũng là thú biểu của thần sông Hằng. Vì có khuôn mặt dương nên thần sông Hằng biểu tượng cho nước phía âm ngành thái dương, tức nước lửa, nước dương phía âm nữ có nước dương Chấn đại diện trong xã hội phụ quyền cực đoan. Ta thấy rõ điểm này trong truyền thuyết Việt Nam. Lạc Long Quân Mặt Trời Nước, nước dương có thú biểu là con cá sấu Việt thần thoại hóa thành con dao (giao) long của tộc Giao Việt. Thần Ganga là thần nước thái dương phía nòng âm nữ.

.Yogini Yamuna.

Yamuna là nhánh sông dài nhất của sông Hằng.

clip_image048Yogini 4: Yamuna đứng trên thú biểu con rùa (ảnh của tác giả).

Lưu Ý: rùa có mu hình vòm biểu tượng cho bầu vũ trụ, bầu trời vì thế thần sông Yamuna biểu tượng cho nước thái âm mang tính sinh tạo cõi trời phía âm nữ.

-Đại tộc Lửa ứng với Yogini Mặt Trời Surya Putri. Ví dụ như:

. Yogini Agneyi Lửa số 52.

clip_image050Yogini Agneyi Lửa số 52 (Agneyi ruột thịt với thần Lửa Agni) tay phải cầm kiếm giơ ngang đầu có lửa bao quanh (ảnh của tác giả).

. Yogini Bà Chằng Lửa Chamunda số 56.

clip_image052

Yogini 56: Chamunda (ảnh của tác giả).

Ở  bài trước, tại đền Vaital thờ Chamunda chúng ta không được vào chính điện nhìn tượng, tại đây ta thấy được tận mắt tượng mang một khuôn mặt Chamunda. Ở đây có 4 tay, thân gầy trơ xương, vú mướp chẩy xệ. Một tay trên cầm chuỗi sọ, một tay trên kia giơ bộ da sư tử lên trên đầu. Hai tay dưới cầm dao và chiếc đầu lâu. Đang nhẩy nhót trên một con hươu.

Điểm lý thú ở đây là Bà Chằng Lửa Chamunda đi với sư tử làm liên tưởng tới các bà chằng lửa sư tử Hà Đông Việt Nam.

-Đại tộc Gió ứng với Yogini Gió Vayu Veena. Ví dụ như Yogini Gió Vayu bega số 55:

clip_image054Yogini 55: Vayu bega có Vayu (ảnh của tác giả).

Vayu là Gió, thần Gió, tóc búi hình vành khăn bầu trời, đứng trên con trâu yak cái có đuôi hình quạt mo tròn, quat biểu tượng cho gió. Theo qu = v như quấn = vấn, quạt = Phạn ngữ vâta, gió = vạt (áo), phần, mảnh áo bay trong gió.

…….

Như thế 60 Yogini ở vòng thành là các vị thần con, là các tộc của bốn vị thần Yogini lớn, đại tộc ở cõi tứ tượng ở điện giữa. Chia đều ra Mỗi vị thần Yogini ứng với mỗi tượng (Nước, Đất, Lửa Gió) có 15 vị thần Yogini con ở vòng thành.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt ta thấy Hùng Vương thuộc tượng Lửa Đế Minh, cháu ba đời thần mặt trời Viêm Đế (ở đây dựa theo phía Linga Shiva có 64 khuôn mặt đối ứng với 64 khuôn mặt yoni của Yogini) có 15 vị thần con nam giới (dòng Lang Hùng), mỗi người chăm lo một vùng, một bộ. Nếu là Hùng Vương lịch sử thì Liên Bang Văn Lang chia ra 15 bộ thì cũng dựa theo dịch học. Và ta cũng thấy bọc trứng Lang Hùng có thể chỉ có tới 64 quả trứng thay vì 100 trứng. Sở dĩ nói là một bọc trăm trứng vì thường bị ám ảnh bởi Bách Việt. Đúng ra phải hiểu theo dịch học. Số 100 có số 1 có một nghĩa là mặt trời thái dương và hai số không 00 là hai nòng OO, không gian thái âm. Bọc trứng chim Lang Hùng là bọc trứng mặt trời, đội lốt bọc trứng vũ trụ có mặt trời và không gian nên có hai nhánh dương mặt trời Chim, Tiên và nhánh âm không gian Rắn, Rồng ngành Việt mặt trời thái dương.

Nhìn tổng thể cả ngôi đền làm theo và diễn tả trọn vẹn triết thuyết vũ trụ tạo sinh của vũ trụ giáo, dịch học. Đền Yoni lỗ tròn trên hết có một khuôn mặt hư vô, của ngành nòng âm. Con người sinh ra từ lỗ hư vô yoni  khi chết lại trở về vớii lỗ hư vô. Đền nòng Tròn Yoni có điện nọc Trụ Linga nhìn dưới dạng nhất thể nòng nọc (âm dương) là thái cực. Nhìn riêng rẽ theo lưỡng cực là lưỡng nghi. Bốn tượng Bhairav dương ứng với tứ tượng dương và bốn tượng Yogin đi cùng là tứ tượng âm, cả hai tạo thành bát tượng ứng với tám quẻ, bát quái. Ta có Dịch sáng thế.

Dục Tính ở Đền Này.

Ta thấy mặc dù đền này là đền phái nữ và nghiêng nhiều về Mật giáo nhưng chỉ có các thần nữ với thân hình đầy nhục tính nhưng không có cảnh tình thuật kamasutra. Tất cả Yogini ngực trần nhưng không ‘ở lỗ’ ngoại trừ chỉ có một thần nữ ở truồng. Như đã nói ở trên, mặt ngoài thành vòng tròn có 9 Katyayanis, 9 khuôn mặt của nữ thần Parvati, vợ Shiva. Trong 9 thần nữ này chỉ có thần nữ thứ 9 ở truồng:

clip_image056Nữ thần Katyayanis thứ 9 ở truồng (ảnh của tác giả).

Thần nữ ở truồng này phải mang một ý nghĩa tín ngưỡng chứ không phải diễn tả nhục tính của Ấn giáo (vì là một khuôn mặt của Parvati). Ở trần truồng có thể là thuộc tộc Nước (xuống nước bị ướt quần nên ở truồng cho tiện!). Chử Đồng Tử, Cậu Con Trai Sống ở Bến Nước (Chử là Cừ, cọc cắm bên bờ nước) nhìn theo duy tục ở truồng là vì nhà nghèo cha con chỉ có một cái khố nhưng nhìn theo dòng giống Chim-Rắn, Tiên Rồng  thì vì là Cậu Con Trai Sống ở Bến Nước nên thuộc tộc nước Hùng Lạc nên ở trần truồng). Trên trống đồng Quảng Xương, các tộc người Rắn Việt Mặt Trời thuộc tộc Nước Hùng Lạc  đều trần truồng clip_image001   (Trống Quảng Xương, Một Chương Sử Đồng). Ở đây ta cũng thấy người này cầm dao để ngang đầu có hình sóng nước. Tay trái cầm gậy đầu giống rắn hổ mang. Rắn có một khuôn mặt biểu tượng cho nước.

Như vậy đền còn giữ tính gốc là thần hoàng, thần Mật giáo không bị ảnh hưởng của Ấn giáo cực đoan sau này vì không có sự hiện diện của thú vui thể xác cùng cực qua các cảnh kamasuta thác loạn như thấy ở Đền Mặt Trời Konark (có bài viết riêng đăng vào số tới).

Thờ Yogini là Mật Giáo (Tantrism).

Như đã nói ở trên thờ Nường Yoni khởi thủy từ sự thờ bái giáo phồn thực. Rồi trở thành vị thần hoàng nữ trong văn hóa thờ Mẹ, thờ Thần Mẫu. Theo dòng thời gian, vì phái nữ với khuôn mặt siêu âm nữ bị xem là âm ma, ma mãnh, vào thời xã hội phụ quyền cực đoan thờ âm nữ được xem thờ âm ma, âm quái nên trở thành hay liên kết với Mật giáo có nhiều ma thuật. Ví dụ như đã biết đền thần nữ Bà Chằng Chamunda/Durga được coi là một trung tâm thờ phượng và huấn luyện của phái Mật Tông Phật giáo. Ta cũng thấy Phật giáo Tây Tạng có phái Mật Tông rất nổi bật vì Phật giáo Tây Tạng là phái Bodhisattva Avalokiteśvara, ở Tây Tạng là một vị nam giới nhưng ở Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Đại Hàn là Phật Bà, Quán Thế Âm Bồ Tát. Vì thế đền 64 Yogini này cũng được xem là Đền Mật giáo.

Về sau Mật giáo nâng các vị thần nữ này lên địa quan trọng và thay đổi hình thức khác đi có các quyền lực ma thuật mạnh mẽ lên tín đồ.

Kết Luận

Đền thờ yoni rất hiếm hoi ở Ấn Độ này cho ta thấy rõ:

-Đền có hình lỗ yoni tròn còn giữ nguyên gốc cội nguồn nhất. Đền này coi như cổ nhất vùng này rồi phát tán đi các vùng khác ở Nam Ấn và tới miền khác.

-Dân bản địa Ấn Độ thờ phồn thực trong đó có thờ yoni rất trọng đại vì theo văn hóa thờ Mẹ, thần Mẫu là tổ tối cao như thấy qua Văn Hóa Sông Ấn là văn hóa vùng sông nước, thờ thần mẫu, nông nghiệp giống văn hóa Sông Hồng.

-Có sự chuyển tiếp từ thờ yoni qua thờ thần làng, thần hoàng nữ, vũ trụ giáo rồi trở thành hay kết hợp với Mật giáo.

-Đền diễn tả 64 khuôn mặt thần âm nữ đối ứng với 64 khuôn mặt Linga/Shiva tương ứng với con số 64 của Dịch, bao trùm hết ý nghĩa của vũ trụ thuyết.

-Sự thờ phượng yoni còn hiện hữu, tái xuất hiện ở các đền đài qui mô và quan trọng hơn Ấn giáo ở một vài vùng nhất là ở các quê hẻo lánh như ở Hirapur này và đặc biệt ở vùng Nam Ấn sông biển này (3 trong 4 đền Yoni ở Ấn Độ) cho thấy văn hóa bản địa Ấn Độ đã thắng hay đồng hóa ngược văn hóa Veda của người Aryans tạo ra.

-Mặc dầu cho là một đền thờ yoni mang đậm mầu sắc Mật giáo nhưng dục tính thú vui xác thịt chưa thấy, chứng tỏ nhục dục thiên nhiều về phía Ấn giáo, bằng chứng là trong các đền Ấn giáo vào thời Ấn giáo phục hưng cực thịnh ta thấy có cảnh kamasutra rất thác loạn như ở Đền Mặt Trời Konark.

Xem Đền Mặt Trời Konark đăng số tới.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: