VÒNG ĐAI DUYÊN HẢI ẤN ĐỘ (Phần 11) TIỂU BANG ODISHA (phần C) ẤN GIÁO (3) ĐỀN BÀ CHẰNG CHAMUNDA/DURGA.

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

Phải tuân thủ luật Tác quyền Copyright.

VÒNG ĐAI DUYÊN HẢI ẤN ĐỘ.

(Phần 11)

Nguyễn Xuân Quang.

TIỂU BANG ODISHA (phần C) ẤN GIÁO.

C. ẤN GIÁO (3).

C.2. Đền Thờ Dòng Nữ.

ĐỀN VAITAL THỜ BÀ CHẰNG CHAMUNDA/DURGA.

Đền Vaital hay còn gọi là Baitala được xây vào thế kỷ thứ 8. Đền thờ thần nữ Chamunda là hóa thân của thần nữ Durga dưới khuôn mặt hung thần nữ đầy khiếp đảm.

Xin nói qua một chút về Durga, Thần Mẫu Chiến Thắng (Durga, Mother Goddess Triumphant) này.

Xin nhắc lại nền Văn Minh Thung Lũng Sông Ấn (Indus Valley Civilisation) của người bản địa Dravidian Ấn Độ giống văn hóa Sông Hồng Việt, cả hai đều có văn hóa sông nước, nông nghiệp, theo mẫu quyền thờ Thần Mẫu sinh ra từ Cây Đa, Cây Si.

Người Aryans đè bẹp, đồng hóa nền văn hóa này bằng thứ văn hóa võ biền, phụ quyền cực đoan của họ, rồi từ từ tạo ra các vị thần nam mang tính võ biền sắt máu. Đấng tối cao ở thượng thế của họ là Indra ngự trị tất cả. Vào khoảng thế kỷ thứ 2 sự hòa nhập giữa các quan niệm Aryans với Dravidian tiền-Aryan tạo ra Tam Vị Brahma, Vishnu và Shiva, ba vị thần vĩ đại của Ấn giáo.

Theo truyền thuyết, ở vào một thời của các vị thần này, có một con Trâu-Quỉ Mahisha hung dữ khủng khiếp, chậy cuồng điên trong vũ trụ, đi tới đâu nó tàn phá tới đó. Ba mươi ba (33) vị thần tổ chính của cả vũ trụ tìm cách ngăn chặn nó nhưng không tài nào được.

Lưu ý

Xin nhắc lại Ấn giáo có tới 330 triệu vị thần. Đây là những khuôn mặt bái vật, huyền thoại, thần thoại do các nhà tư tưởng, triết gia, các tu sĩ tạo ra để giải thích cái cốt lõi của Ấn giáo là Abrahman, sự hiện hữu thật sự, tự-hiện hữu, không thay đổi, vĩnh hằng. Abrahman có đấng tạo hóa là Brahma có một khuôn mặt biểu tượng là một vòng tròn mang tính vĩnh hằng tức có một khuôn mặt hư vô. Như vậy rõ ràng Ấn giáo là di duệ hay bị ảnh hưởng của vũ trụ giáo.

Con số 330 triệu vị thần này do 33 vị thần tổ chính như nhắc tới ở đây, cai quản cả vũ trụ.

Như đã biết, tôi đã giải thích rõ con số 33 qua 330 triệu vị thần này rồi. Chỉ xin nói thêm là ta có một loài rùa nước ngọt có tên là ba ba (33). Như đã biết con rùa diễn tả vũ trụ thuyết, vũ trụ tạo sinh, dịch lý vì thế thường thấy nó đi chung với Phục Hy. Như đã nói ở trên 33 vị thần tổ chính và tổng cộng 330 triệu vị thần của Ấn giáo dùng để diễn đạt triết thuyết Ấn giáo, di duệ của vũ trụ giáo, do đó ta hiểu tại sao chúng ta có một loài rùa gọi là con 33. Rùa 33 đích thực là rùa biểu tượng cho vũ trụ giáo, dịch ruột thịt với 33 vị thần vũ trụ và 330 vị thần con của Ấn giáo.

Trở lại với truyền thuyết thần nữ Durga, thì cuối cùng trong tuyệt vọng, 33 vị thần nhà trời này ngồi lại với nhau, hợp sức lại, lấy Lửa của mình tạo ra một ngọn Lửa. Ngọn lửa này tạo ra một vị thần mới. Đó là thần nữ Durga. Tại sao lại tạo ra ngọn Lửa ? Vì lửa biểu tượng cho mặt trời, sức mạnh, chiến tranh, chiến thắng. Như thế Durga có bản thể là thần Lửa, thần nữ Mặt Trời, thần Chiến Thắng. Durga là Mother Goddess Triumphant là vậy. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, Durga có một khuôn mặt là Nàng Lửa tương ứng với Nàng Lửa Âu Cơ, thái dương thần nữ của Việt Nam.

Durga được trao sức mạnh, Lửa của tất cả thánh thần của vũ trụ để đi đánh dẹp Quỉ-Trâu. Với cây kiếm của Vishnu bà chặt đầu Quỉ Trâu. Nhưng khi máu vọt ra, mỗi giọt máu lại biến thành một con quỉ giống loại Quỉ Trâu. Về sau Durga phải cầu cứu Bẩy Thần Mẫu (Septamatrikas) phụ giúp. Cuối cùng các thần nữ giết được Quỉ Trâu đem lại trật tự, hòa bình cho vũ trụ. Tại sao phải nhờ tới một Nữ Thần có bản thể Lửa mới diệt được Trâu Quỉ ? Ta thấy Trâu là con thú sống được dưới nước có hai sừng tức thuộc phía dòng Nước thái dương của ngành nòng. Vì thế thần nữ Durga gốc Lửa tức cũng cùng dòng Nòng Lửa, Nước thái dương như Trâu Quỉ do đó thế mới diệt được Quỉ Trâu dễ dàng. Trường hợp này giống như Lạc Long Quân có bản thể Nước, Cá, Rắn, Rồng nên mới diệt được Ngư Tinh Xà hay Ngư Tinh ở biển đông.

Điểm chính yếu của truyền thuyết này là gì ?

Thứ nhất là tái sinh ra, làm tái xuất hiện lại thần mẫu sau nhiều thế kỷ bị đè bẹp, tiêu diệt. Durga bản thể Lửa cùng bản thể của thần Lửa Agni, thần mặt trời Surya, thần chiến tranh của Aryans. Durga là ‘vị thần mới của Ấn giáo, có nghĩa là Durga mạng Lửa thay thế cho các Thần Indra, Thần Lửa Agni, Thần Chiến Tranh, thần Mặt Trời Surya của Aryans. Ta thấy rõ Thần Mẫu Durga là Thần Mẫu Chiến Thắng không phải chỉ là chiến thắng Quỉ Trâu mà là chiến thắng cả các vị thần nam võ biền, ‘macho’ của Aryans.

Sau khi có thần Mẫu Durga, Ấn giáo tạo dựng lại, cải thiện lại có một khuôn mặt hòa dịu, thoải mái hơn vì có sự hiện diện của phía nòng âm nữ, phía Thần Mẫu, Thần Nữ Durga. Tính nòng nọc (âm dương) trong Ấn giáo cân bằng hơn.

Dĩ nhiên thần mẫu Durga có nhiều khuôn mặt thiện ác khác nhau. Ở đây có khuôn mặt hung thần nữ Chamunda hay Charchika.

Xin nói thêm một chút về ngôn ngữ học để hiểu và dễ nhớ tên vị hung thần nữ hóa thân của Durga này. Thần nữ Chamunda, Charchika có Cha-, Char- biến âm với:

1. Việt ngữ Chả, Chạo là các món ăn nướng trên lửa (nói chả lụa là sai vì thứ này không có nướng mà chỉ hấp, phải gọi là giò lụa. Nói bún chả, chả quế thì đúng). Người Trung Hoa gọi thịt nướng là chá xíu hay xá xíu, Mã Nam Dương gọi là saté, Trung Đông gọi là kabof, kebof, Tây phương gọi là (shish) kabab hay (shish) kebab, Nga gọi là shaslik (thịt xuyên qua lưỡi kiếm nướng than), người Mỹ thích món char-broiled hamburger.

2. Anh ngữ Char, cháy thành than, cháy đen, thiêu rụi, charcoal, charbon (Pháp ngữ) là than.

3. Việt ngữ Chang (nắng như đổ lửa, nắng như thiêu như đốt) và với Chằng liên hệ với lửa như Chằng Lửa.

Rõ như ban ngày hung thần nữ Chamunda, Charchika một hóa thân của Thần Mẫu Lửa Durga có một khuôn mặt là Bà Chằng, Bà Chằng Lửa, Bà Chằng Tinh.

Trung, Nam dùng từ Bà Chằng Lửa nhiều hơn miền Bắc có lẽ bị ảnh hưởng của Phạn ngữ, của Ấn giáo qua người Chăm (Champa).

a. Hình dáng tổng quát bên ngoài.

Về hình dạng bên ngoài đền thờ thần nữ dòng nọc âm thái dương này có những điểm gì khác lạ?

clip_image002.Đền Vaital.

Đền có tháp chính bằng đầu hình nửa trụ ống và đại sảnh mái bằng hình chữ nhật tương tự như Đền Parashurameshvar đã nói ở trên. Do đó tháp có sơ đồ mặt bằng hình thon tròn (lỗ âm hộ) và đại sảnh hình chữ nhật (âm đạo), gộp lại là hình yoni ăn khớp trăm phần trăm với đền thần nữ này. Phần chỏm tháp hình nửa trụ ống bán nguyệt nằm ngang mang âm tính (thay vì nhọn đỉnh mang dương tính). Kiến trúc mang tính nòng âm êm đẹp hơn. Theo các nhà khảo cổ mái hình ống nằm ngang này là một ví dụ điển hình của loại đền Khakhara thuộc nhóm Gopuram (Tháp) Dravidian Nam Ấn. Theo tôi, đền này mang tính nòng âm:

-Thứ nhất nếu nhìn theo các nhà khảo cổ cho đây là nét kiến trúc Dravidian thì văn hóa Dravidian ở Nam Ấn là văn hóa sông, biển, nông nghiệp theo mẫu quyền, thờ Mẹ Tổ cũng thuộc về nhánh nòng âm như Lạc Việt.

Do đó kiến trúc này mang tính nòng âm.

-Theo vũ trụ giáo mái bằng ngang hình ống bán nguyệt tròn là theo duy âm nữ mang hình ảnh nòng âm đạo. Còn theo âm nam thì mái có thêm hai đầu nhọn cong lên thường gọi là mái lõm hình thuyền, trăng sừng, hình sừng, yên ngựa (nên các tác giả hiện nay cũng gọi một loại dạng tháp này là tháp mái yên ngựa).

-Mái đền ở đây có hình ống bán nguyệt vì đi với khuôn mặt nữ của thần nữ Chamunda/Durga. Bằng chứng là trên nóc có ba kiến trúc hình bầu, hình bình ở trên có ba cọc nhọn nên còn gọi là Đền Tini-mundia, ba hình này được tin là biểu tượng của ba sức mạnh của Đại Thần Nữ Chamunda- Mahasaraswari, Mahalakshmi và Mahakali. Ba nòng âm OOO tức Khôn (ứng với Nàng O Nước OO Khôn Vụ Tiên). Bình có nọc nhọn mang dương tính. Như vậy ba kiến trúc này diễn là khuôn mặt Khôn nữ mang dương tính ứng với khuôn mặt dũng mạnh, ‘diều hâu’, hung bạo của Thần nữ Chamunda, hóa thân của Durga.

-Đối chiếu với các tháp Champa Việt Nam ta thấy cũng có đền loại này như ở Tháp Bà Po Nagar, Nha Trang. Tháp Bà thờ Thiên Y A Na hay Bà Thánh Mẫu Chúa Ngọc. Đúng ra tháp vốn làm ra để thờ một vị thần nữ Ấn giáo. Tượng trong chính điện mang khuôn mặt Uma, Parvati vợ Shiva nhưng ở ngoài tháp chính có tượng Durga. Hiển nhiên kiến trúc Tháp Bà có một khuôn mặt mang tính nòng âm nữ. Ta thấy rõ một tháp ở Tháp Bà có kiểu mái hình nửa ống tròn giống như ở tháp Chamunda này.

clip_image003Tháp Cri Cambhu ở nhóm tháp Bà Po Naga, Nha Trang (ngồn: graylinecruise.blogspot.com).

Ở quần thể tháp Mỹ Sơn vừa có tháp nhọn thờ Shiva dạng linga vừa có tháp mái ống này thì phải hiểu tháp mái ống bán nguyệt mang âm tính thuộc nhánh nòng âm.

clip_image004Tháp Mỹ Sơn B5 có mái nửa ống tròn (hình chụp năm 2007).

Ở đây hai đầu mái nhọn vểnh lên hình trăng sừng, hình sừng, hình thuyền mang tính thái dương ngành nọc thái dương.

Tương tự tháp Bánh Ít, Bình Định có hai tòa tháp: một lớn hình trụ vuông nhọn đỉnh mang dương tính thuộc nhánh nọc dương Shiva. Một tòa tháp nhỏ có mái hình ống bán nguyệt hai đầu không cong lên lắm sừng mang âm tính thuộc nhánh nọc âm Vishnu hay nòng âm nữ Durga lửa thái dương.

clip_image005Tháp Bánh Ít, Bình Định (nguồn: diendan.quynhontourist.vn).

Tháp Bánh Ít ở dạng lưỡng hợp nòng nọc (âm dương) nhánh nọc thái dương.

Hiển nhiên ta thấy rất có lý là các tháp Champa có mái nửa ống này có liên hệ với văn hóa Dravidian Nam Ấn có tháp mái ống vì văn hóa Champa giao lưu với văn hóa Ấn giáo Nam Ấn qua đường biển (xem Ý Nghĩa Kiến Trúc Tháp Chàm Việt Nam).

-Đối chiếu với trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn thì mái này giống các mái lõm cong (thường cho là hình thuyền) trên các ngôi nhà nọc trên trống đồng Lạc Việt sông nước.

Tóm lại đền này có một kiến trúc đặc biệt là tháo có mái nửa ống hình trụ tròn mang tính nòng âm vì thế thường thấy ở vùng có văn hóa nòng âm sông biển, nông nghiệp thờ thần Mẫu như vùng Nam Ấn. Vì vậy các nhà khảo cứu Ấn Độ gọi là kiểu kiến trúc Nam Ấn.  Thật ra nòng âm còn có nghĩa rộng hơn. Nòng âm thuần âm là phái nữ. Các đền thờ phái nữ cũng có tháp mái loại này. Nòng âm nam, các đền có mái loại này nhưng hai đầu cong lên thành mái hình thuyền, hình sừng, hình yên ngựa. Những điểm này có thể kiểm chứng qua các tháp Champa Việt Nam bị ảnh hưởng của Ấn giáo Nam Ấn qua đường biển. Nhìn một tháp hay một quần thể tháp Ấn giáo hay Champa có mái này ta biết ngay có sự hiện diện của nhánh nòng âm, nòng âm nữ hay nòng âm nam hay có sự lưỡng hợp nòng nọc (âm dương).

b. Bên Trong Tháp.

-Thần chủ Chamunda/Durga.

Ở chính điện có tượng chính Chamunda hay Charchika, một khuôn mặt hung thần của Durga, dân địa phương gọi là Kapaḷini có tám tay ngồi trên một xác chết hai bên có chó ăn thịt xác chết (jackal) và con cú. Tượng có lưỡi đỏ thè ra nên cũng cho là ruột thịt với thần nữ Kali (lưỡi đỏ thè ra vì uống máu). Thân gầy trơ xương, bụng lép kẹp, mắt lõm sâu trang sức với chuỗi sọ người. Tay cầm con rắn, cung, khiên, kiếm, chĩa ba và mũi tên xuyên qua cổ con Trâu-Quỉ. Với

Hình ảnh kinh dị này Chamunda được cho là có một khuôn mặt mật giáo (Tantric). Chung quanh thần nữ ở các hốc tường cũng có các cảnh được cho là của nghi thức tế lễ mật giáo (xem dưới).

Ta thấy thần Chamunga/Durga có khuôn mặt hung thần của chết chóc. Đặc biệt có con cú và con chó ăn xác chết. Con cú dòm nhà chết và con chó ăn xác chết tương tự như con chó jackal Anubis, thần tẩm liệm của Ai Cập cổ. Cả cú và chó ăn xác chết biểu tượng cho chết chóc, cõi âm.

Với thần Chamunda ở chính điện, quả đúng Đền Baitāḷa là một điện thần nữ Shakti.

c. Phía Ngoài Đền.

Phía ngoài mặt đền được trang trí khắc chạm tuyệt mỹ với các vị thần Ấn giáo, các cảnh sinh hoạt nhân sinh, trang trí…

-Các thần Ấn giáo.

.Thần chủ: thần nữ Chamunda/Durga.

clip_image007Thần Chamunda/Durga giết con Trâu Quỉ (ảnh của tác giả).

.Durga và Shiva Nhất Thể.

Tượng bán nam-bán nữ Ardhanarishwara.

clip_image009Tượng bán nữ bán nam (Ardhanarishwara) Durga-Shiva.

Nửa người phía dương bên phải là người nam Shiva, nửa người phía âm bên trái là người nữ Durga (nên nhớ đây là Đền thờ Chamunda, một hóa thân của Durga, nên nửa người nữ phải là Durga chứ không phải là Parvati, vợ Shiva thấy ở các tượng bán nam bán nữ ở đền thờ Shiva).

.Shiva và Gia đình.

./Shiva.

Ở cửa sổ trên chaitya (nhà nguyện) có Shiva 10 tay dưới khuôn mặt thần nhẩy múa Nataraja trong Vũ Điệu Vũ Trụ.

clip_image011Shiva dưới khuôn mặt thần nhẩy múa Nataraja trong Vũ Điệu Vũ Trụ (ảnh của tác giả).

./Shiva và vợ Parvati.

clip_image013Shiva và vợ Parvati (ảnh của tác giả).

./Parvati.

Parvati dưới dạng thần nữ Shakti.

clip_image015Parvati trong linga (ảnh của tác giả).

Parvati ở một mặt của linga. Ở đây linga có hình trụ vuông bốn mặt diễn tả linga của nhánh âm nữ thái dương (hình vuông là khuôn mặt thái dương của vòng tròn).

./Ganesha.

Con của Shiva và Parvati.

clip_image017Ganesha (ảnh của tác giả).

.Vishnu.

Ở đền thờ nòng nữ này hiển nhiên có sự hiện diện của Vishnu (theo duy dương có khuôn mặt nam, theo duy âm có khuôn mặt nữ) thuộc dòng nòng âm.

clip_image019Vishnu một tay cầm vòng hạt biểu tượng Khôn dương và một tay cầm ốc tù và (ảnh của tác giả).

Vì vậy tượng thần Vishnu ở đây trông rất bề thế. Vishnu thuộc nhánh nòng âm ứng với Khôn. Tay cầm vòng hình nòng O biểu tượng cho Khôn. Vòng bằng hạt tròn có một khuôn mặt là những chữ nọc-chấm đặc mang dương tính. Khôn dương là khí, gió. Ốc tù và sống dưới nước (ốc biểu tượng cho nước như ốc đảo là ‘đảo nước’ trong sa mạc) biểu tượng cho Khôn âm, nước. Rõ như ban ngày Vishnu thuộc phía nòng âm Khôn.

.Thần Mặt Trời Surya.

Như đã nói ở trên Durga tạo ra từ Lửa là Thần Nữ Lửa có một khuôn mặt thái dương thần nữ có hóa thân ở đây là Bà Chằng Lửa Chamunda nên ở đây có sự hiện diện của thần mặt trời Surya, vốn có gốc Aryans. Ở cửa số dưới của đại sảnh (jagamohana) là tượng thần mặt trời Surya rất đẹp đi cùng với hai chị em là thần Bình Minh Usha và Ánh Sáng Pratyusha, bắn tên ra hai bên và với thần Aruna (Hừng Đông) ở phía trước lái chiếc xe mặt trời 7 ngựa (lưu ý số 7 là số Càn, lửa thái dương, mặt trời).

Sự hiện diện của Surya ở đây cho thấy Durga đã đồng hóa hay chiếm ngôi vị của Surya.

.Thần Gậy Lakulisha.

Trên mặt tháp và trụ đá ở trước mặt đại sảnh mái bằng có khắc nổi những tượng giống hệt tượng Phật Tổ ngồi tay bắt Thủ Ấn Chuyển Luân Pháp (Dharma-Chakra-Pravartana mudra) (xem Hình Tiêu Biểu Tháng 3-2018; Tượng ‘Công Ngủ’ Dạng Phật).

clip_image021Tượng Lakulisha trông giống tượng Phật với Thủ Ấn Chuyển Luân Pháp (ảnh của tác giả).

Đây là tổ sư Lakulisha sáng lập phái khổ hạnh Pasupata thấy có ghi trong chữ viết từ thế kỷ thứ 5 thuộc giáo phái Shiva. Lakulisha có nghĩa là ‘vị thần với cây gậy, cây chùy, cây rìu’ tức vật nhọn có một khuôn mặt là linga. Vì vậy thần có hai đặc diểm là cây gậy, có lúc giống nõ linga và con ‘công ngủ.

Dĩ nhiên khởi thủy vị này không có các nét đặc thù của Phật, không đội lốt Phật mà chỉ là một vị thần Ấn giáo thuần túy có điểm đặc thù là có con công ngủ (ithyphallus) và có cây gậy là biểu tượng của nõ linga như thấy qua hình dưới đây:
clip_image022
Lakulisha, Pratihara, thế kỷ thứ 9 Sau Dương Lịch (nguồn: wikipedia).

Cây đinh ba cho biết Lakulisha thuộc môn phái Shiva. Ta thấy rất rõ hình tượng này không mang hình ảnh Phật, không có hào quang và không có thủ ấn Chuyển Luân Pháp.

Như vậy Lakulisha là một vị giáo chủ thuộc Ấn giáo thuần túy vốn không dính dáng gì tới Phật.

Lưu ý tượng này có niên đại vào thế kỷ thứ 9 Sau Dương Lịch mà Lakulisha không có hình Phật trong khi tượng ở Đền Vaital này xây vào thế kỷ thứ 8 lại có hình y hệt tượng Phật. Như thế cho thấy Lakulisha đội lốt Phật ở vùng Nam Ấn này có chồng chéo với Phật giáo rất nhiều.

Dựa vào đâu ta nói tượng này là tượng Phật Tổ?

Chỉ xin nhắc lại vài điểm mấu chốt:

-Tượng ở đây có hào quang. Phật có hào quang. Shiva hay một vị thần của một môn phái nào của Shiva nguyên thủy không có hào quang.

-Tay tượng ở thế thủ ấn Chuyển Luân Pháp. Thủ ấn này như đã nói ở trên là điểm đặc thù của Phật Tổ Shakya Muni nguyên thủy không thấy trong Ấn giáo và Yoga (chỉ có các loại thủ ấn khác). Giả sử nếu có thì là lấy của Phật Tổ và đem dùng sai vì những vị thần Ấn giáo và các yogi ít khi hay không bao giờ thuyết Pháp theo kiểu ‘quay bánh xe Pháp’ như Phật Tổ.

.Dựa vào các tướng ngoại hình của tượng này:

So sánh với 32 tướng của Phật: tượng này có các tướng của Phật như chóp nổi cao trên đỉnh đầu (hình vòm vũ trụ), tóc xoăn xoắn ốc, tai dài ngang cằm, hàm sư tử, vóc dáng cường tráng, vai vững mạnh, thân thẳng

Trong khi đó Shiva mặt và đầu tóc thường diễn tả theo hình dạng qui đầu hay linga.

.Thân Phật thường không có nhiều trang sức. Thân Shiva thường bôi tro than và đeo nhiều trang sức.

.Dựa vào tư thế: ở đây tượng Phật ngồi trên hoa sen, biểu tượng đặc thù của Phật giáo. Trong khi Shiva nguyên thủy thường ngồi trên đỉnh núi tuyết Ngân Sơn Kailash, nơi sinh và ngai vàng của Shiva.

.Ta cũng thấy không bao giờ các Lakulisha có hào quang như Phật ngoại trừ ở vùng Nam Ấn này.

……

Tóm lại đây là tượng Phật cắm thêm con công ngủ và cây gậy vào tạo ra thần Gậy Lakulisha (xem dưới).

.Các Tượng Nữ.

clip_image024Người đẹp soi gương Darpana sundari (ảnh của tác giả).

Cặp tình nhân mithuna.

clip_image026(ảnh của tác giả).

.Trang Trí.

Đặc biệt là có các cảnh đi săn, bắt voi rừng…

Dục Tính ở Đền Này.

Đây là đền đầu tiên thấy có các cảnh diễm tình (erotic scenes).

clip_image028Hình đồng tính luyến ái nữ (ảnh của tác giả).

Đây là hình tượng đồng tính luyến ái nữ (Lesbian). Hai người nữ ôm nhau hôn và cọ sát. Cánh tay người thứ hai (người bị che khuất) ôm người nữ đứng trước là cánh tay phái nữ, nhỏ nhắn, thon đẹp và cho thấy người này nhỏ con là ‘chồng’ và người trước có mông ‘nở hậu’, ‘đít lồng bàn’ đầy nữ tính là “vợ’. Nên nhớ đây là đền thờ thần nữ nên có cảnh Lesbian là chuyện hữu lý. Ở đây cho thấy Ấn giáo đã đi vào thời kỳ phục hưng, sống lại đã đạt tới tột đỉnh, vào lúc đền này được xây là thế kỷ thứ 8. Đây là giai đoạn sáng tạo nhất trong cách diễn đạt ý tưởng Ấn giáo trong nghệ thuật. Người thứ hai gần như bị che khuất hết chỉ được diễn tả qua một cánh tay duy nhất mà nói lên được tất cả chủ ý muốn diễn đạt. Cánh tay, như vừa nói ở trên, nhỏ nhắn, thon thả, mềm mại cho biết người này là một người nữ. Cánh tay choàng qua vai người nữ thứ hai đứng trước, ôm cứng phần lưng trên người này như đang rướn người lên để hôn và cọ sát vì qua cánh tay nhỏ cho thấy người này nhỏ và thấp hơn và rướn người lên cũng vì khoái cảm, cho biết hai người nữ đang trong cơn khoái lạc…

Tình thuật kamasutra với các hình ở các kiểu khác nhau ở đây có lẽ thích đáng trong các hiện tình, ‘bài bản’ của sự tế lễ mật giáo (The figures depicted in various positions were probably relevant in the context of the tantric rites) hơn là khoái lạc nhục dục thấy trong Ấn giáo (nhất là ở vào giai đoạn muộn về sau này).

Ấn Giáo và Phật Giáo ở Đền Này.

Sau đây là vài điểm chính cho thấy có sự hiện diện của Phật giáo ở đền này:

.Tượng Chamunda khiếp đảm ngồi trong chính điện như đã nói ở trên được cho là một hóa thân mật giáo (tantric avatar) của Durga. Các hốc trong tường cũng có các cảnh được cho là các nghi thức tế lễ mật giáo.

Ở trên tường phía bắc của tháp, từ dưới lên có người với sọ là một chiếc cốc đầy máu. Trên bệ có thêm hai chiếc đầu trên một chiếc khay có ba chân, ở hai bên có con chó ăn xác người đang ăn một thân người cụt đầu ở phía bên phải và một người đàn bà cầm một đầu lâu ở phía bên trái.

Ở ngoài trước đại sảnh có một trụ đá được cho là trụ hiến tế người hay trụ dâng hiến tế loài vật.

Các học giả Ấn Độ tin đền là một trung tâm chính thờ phượng và huấn luyện Mật giáo. Đền là một mẫu kiểu về thờ phượng pha trộn các yếu tố từ giáo phái đặc biệt của Phật giáo và Ấn giáo ( temple is believed to be the major center for Tantric worship and training. The temple showcases a style of worshipping with a mix of elements from particular sects of Buddhism and Hinduism).

.Mái tháp kiểu mái xe ngựa thời Tây Tiến ở Hoa Kỳ có hai tầng hình nửa trụ ống ám chỉ, gợi ý cho thấy sự ảnh hưởng của các kiến trúc hang động Phật giáo (The two-storeyed semi-cylindrical wagon roof of the deul strongly suggests the influence of Buddhist cave architecture).

.Tượng Thần Gậy Lakulisha dạng Phật.

Như đã nói ở trên, ở cửa sổ và ở trụ đá trước đại sảnh có các tượng Lakulisha giống hệt tượng Phật với thủ ấn chuyển luân Pháp.

Như đã nói ở trên Thần Gậy lúc đầu thuần túy của Ấn giáo phái Shiva chỉ có con công ngủ như Shiva và cầm cây gậy. Rồi sau đó ở nhiều nơi, nhất là các vùng có Phật giáo, tượng ở tư thế ngồi trầm tư của phái yoga nhưng đặc biệt là tay bắt ấn chuyển luân Pháp của Phật Tổ. Đặc biệt ở đây tượng Lakulisha mang hình ảnh đích thực tượng Phật.

Nếu bỏ con công ngủ và cây gậy thì là tượng Phật trăm phần trăm. Tại sao? Như vừa nói đền này là một trung tâm thờ phượng và huấn luyện của phái Mật Tông Phật giáo. Đền Ấn giáo nữ rất gần cận với mật giáo vì mật giáo mang âm tính mà phái nữ dưới con mắt nam giới cực đoan nhiều khi cho là âm ma, tà phái.

Như thế Lakulisha đội lốt Phật khi Phật giáo đã ngự trị Ấn giáo vào thời cực thịnh hay Phật giáo đã bị Ấn giáo hóa lúc bị suy đồi?

Trước hết cắm con công ngủ vào tượng Phật tôn kính của một tôn giáo có lúc đã là kẻ đè bẹp mình rồi đem dùng cho một vị giáo chủ Ấn giáo, cho thấy Phật giáo đã bị suy đồi rồi (nếu Phật giáo còn thống lĩnh Ấn giáo thì chuyện này không thể xẩy ra). Nói một cách khác là Phật giáo ở vùng Nam Ấn đã bị Ấn giáo hóa. Đền Vaital này xây vào thế kỷ thứ 8, vào thời diểm này Ấn giáo đã phực hưng hoàn toàn.

Điểm này thấy rõ qua sự vô cảm và không che dấu của giáo phái Pasupatas (các tín đồ đầy nhiệt huyết của Shiva) đối với Phật giáo có lẽ đã tạo hứng khởi cho sự diễn tả châm biếm Đức Phật trên một trụ hiến tế trước tháp Vaital mà một thời đã là một trung tâm quan trọng có các tế tục bí giáo của Mật giáo (The unconcealed apathy and animosity of the Pasupatas [ardent Shiva worshippers] towards Buddhism has probably provided the inspiration for the ironical representation of the Buddha on the sacrificial post found in front of the Vaital deul that was once an important centre for the esoteric rites of the Tantrics) (http://divyadarisanams.blogspot.com).

Ở đền này chỉ thấy các tượng sư tử Ấn giáo đi một mình không đi cùng tượng voi Phật giáo. Voi Phật giáo đã bị ăn thịt mất rồi chăng? Ta cũng thấy rõ sự suy tàn của voi Phật giáo qua cảnh đi săn voi ở đền này!

Các tượng Thần Gậy ở đây đích thực là tượng Phật có cắm con công ngủ và thêm cây gậy vào. Chứng tích cho sự phục hưng của Ấn giáo đã lên cao điểm (vào thế kỷ thứ 8) và Ấn giáo đã đàn áp và Ân giáo hóa Phật giáo.

Dấu ấn Phật giáo ở đền này rất rõ.

Kết luận

.Đền này thờ Chamunda, một hóa thân hung thần của Thần Mẫu Durga có bản thể là Lửa. Chamunda là khuôn mặt Bà Chằng Lửa của Durga. Thần Mẫu Durga là vị thần Mới phái nữ có bản thể Lửa thay thế cho các vị thần nam có bản thể Lửa của Aryans, Veda, bất lực không trị được Trâu Quỉ. Sự thờ phượng Durga là hình bóng của sự thờ phượng Thần Mẫu của văn hóa Thung Lũng Sông Ấn của người bản địa Dravidian. Sự tái xuất hiện của sự thờ mẫu sau khi bị người Aryans đè bẹp, tẩy trừ cho thấy văn hóa bản địa Ấn Độ đã đồng hóa ngược văn hóa phụ quyền cực đoan Aryans. Sự chiến thắng con Trâu Quỉ Mahisha (kết quả của sự cai trị và tín ngưỡng của Aryans) của Durga, Thần Nữ Chiến Thắng, cho thấy nền văn hóa nòng âm hiền hòa, êm đềm bản địa đã chiến thắng văn hóa nọc dương cực đoan Aryans. Điểm này giống văn hóa Bách Việt đối với văn hóa Đại Hán như thấy rõ qua văn hóa Nam Việt Vương.

Ấn giáo với sự tái hiện diện của nòng, âm, nữ

có khuôn mặt êm dịu, hài hòa hơn.

.Vùng Nam Ấn còn giữ được văn hóa bản địa Dravidian nhiều hơn miền Bắc Ấn sau khi bị Aryans xâm chiếm, đồng hóa nên thờ thần Mẫu Durga qua khuôn mặt Chamunda đối kháng lại Aryans đã vùng dậy mãnh liệt và chiến thắng thấy qua ngôi đền này.

.Vì thế đền làm theo kiến trúc mang tính nòng âm nữ với tháp có mái nửa trụ ống nằm ngang mà các nhà khảo cứu Ấn Độ gọi là kiểu kiến trúc vùng Nam Ấn có văn hóa Dravidian sông biển, nông nghiệp thờ Thần Mẫu… Đặc biệt sơ đồ mặt bằng của đền có hình yoni thon tròn mang tính thái âm, thuần nữ.

Kiến trúc nòng âm Nam Ấn này giúp ta hiểu rõ được kiến trúc của tháp Champa Việt Nam như ở Tháp Bà Nha Trang và ở các quần thể tháp còn mang tính nòng nọc (âm dương) hai cực như ở Mỹ Sơn, Tháp Bánh Ít… tất cả có tháp với mái hình nửa ống tròn nằm ngang. Nhìn một tháp hay một quần thể tháp Ấn giáo hay Champa có mái này ta biết ngay có sự hiện diện của nhánh nòng âm, nòng âm nữ hay nòng âm nam hay có sự lưỡng hợp nòng nọc (âm dương).

Mái hình yên ngựa nửa ống hình trụ này cũng xác thực các ngôi nhà mái hình thuyền trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn là thuộc ngành nòng âm nhánh nọc âm thái dương Lạc Việt, Lạc Long Quân. Trống đồng nào có nhà mái hình thuyền là trống biểu tượng của Người Việt Mặt Trời Lạc Việt.

.Sự hiện diện của Phật giáo rất rõ nét thấy qua:

-Đền thờ thần Mẫu, âm, nữ nên hòa nhập với phái Mật Tông của Phật giáo, một khuôn mặt mang tính âm cực đoan của Phật giáo vì thế đền được coi là một trung tâm thờ phượng và huấn luyện Mật giáo. Điều này xẩy ra dễ dàng vì như đã biết Bhubaneshwar là trung tâm Phật giáo lớn của Ashoka sau khi ông cải đạo qua Phật giáo.

-Mái tháp hình nửa trụ ống được cho là bị ảnh hưởng của kiểu kiến trúc mái đền hang động Phật giáo.

-Các tượng Thần Gậy Lakulisha ở đây giống hệt tượng Phật với thủ ấn chuyển luân Pháp. Tượng là tượng Phật chỉ cắm thêm vào con công ngủ và cây dậy.

Tượng Phật này cũng cho thấy Ấn giáo vào thế kỷ thứ 8 đã phục hưng toàn thịnh trở lại đã châm biếm, phỉ báng đạo Phật hay Ấn giáo hóa Phật giáo.

-Các cảnh kamasutra ở đây có thể có chủ thể chính diễn tả các triết thuyết của Mật Tông.

II. THỦ PHỦ PURI.

Thủ phủ Puri là đỉnh thứ hai của Tam Giác Vàng Odisha. Địa hạt Puri có những đền tôn giáo nổi tiếng sau đây:

-Đền Chúa Vũ Trụ Jagannath (Lord of the Universe) tại thủ phủ Puri.

Thủ phủ Puri coi như là một đỉnh của Tam Giác Vàng Odisha Thủ đô Bhubaneswar-Thủ phủ Puri-Tỉnh Konark.

clip_image029

Đây là ngôi đền lớn và biết đến nhất ở thủ phủ Puri, tiểu bang Odisha. Đền là một trong bốn thánh địa chính ở Ấn Độ, là nơi hành hương trọng đại của người Ấn giáo.

clip_image031 Đền Chúa Vũ Trụ Jagannath (Đền không cho người ngoại đạo Ấn giáo vào trong, phải chụp từ sân thượng thư viện, dĩ nhiên phải mất tiền).

Tại sao gọi là Đền Vũ Trụ? Đền vũ trụ có yếu tố đặc thù nào? Vũ trụ có Vũ là Vỏ là bầu, bọc tức không gian và Trụ là nọc, dương mặt trời. Vũ trụ gồm mặt trời-không gian. Ta thấy ngay trên chóp đền có hình mặt trời tạo hóa 8 nọc tia sáng nằm trong vòng tròn không gian diễn tả vũ trụ, càn khôn, sinh tạo.

clip_image033Chỏm tháp hình bầu nậm nòng nọc (âm dương) sinh tạo, tạo hóa, trên có hình vũ trụ: mặt trời-không gian (lưu ý có ba người đang treo cờ, phướn cho buổi lễ sắp tới) (ảnh của tác giả).

Nhìn chóp này là biết ngay đền là đền vũ trụ (trong khi chóp đền Shiva có cây đinh ba diễn tả quẻ Càn, lửa thái dương có một khuôn mặt ứng với mặt trời. Chóp đền Vishnu có hình trái tim hay lá đa hoặc hình cái bầu diễn tả khuôn mặt nọc thái âm có một khuôn mặt ứng với không gian dương).

Tại sao gọi là đền vũ trụ? Đền thờ khuôn mặt chính là thần Jagannath nhưng thật sự trong chính điện thờ thêm hai vị nữa là Chúa Balabhadra và thần nữ Subhadra. Đền không cho người ngoại đạo Ấn giáo vào trong, chúng tôi đành tìm mua kỷ vật bức tranh Tam Vị Nhất Thể này.

clip_image035Bộ ba Tam Vị Nhất Thể ở điện chính trong đền.

Lưu ý: thần mặt trắng bên trái biểu tượng thượng thế, cõi trên, cõi trời (không khí, ánh sáng có mầu trắng). Thần nữ ở giữa mặt vàng biểu tượng trung thế, cõi giữa, cõi đất (mầu vàng là mầu hoàng thổ). Thần bên phải mầu đen biểu tượng hạ thế, cõi dưới, cõi nước (mầu đen là mầu nước thái âm). Hiển nhiên đền này thờ tam thế nên là Đền Vũ Trụ.

Ba vị này là Trimurti (Trinity), có một khuôn mặt là Tam Vị Nhất Thể sáng tạo ra vũ trụ. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là ba vị Đá Cần, Đá Cài và Nàng Kịt trong truyền thuyết sáng thế Mường Việt (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Ngoài ba vị thần sáng thế, vũ trụ này trong quần thể đền có hàng ngàn các vị thần con chăm sóc tam thế. Đây là lý do đền được cho là thiêng liêng và là nơi hành hương mơ ước một đời của người Ấn giáo.

clip_image037Đoàn người đi hành hương (ảnh của tác giả).

Ngoài thủ phủ Puri, địa hạt Puri còn có các đền đài nổi tiếng như:

-Đồi Dauli: Sắc Lệnh Đá Ashoka.

Đã viết ở trên rồi.

-Đền Nường Yoni 64 Yogini, Hirapur.

Sẽ có bài viết riêng. Xem Ấn Độ: Đền Nường Yoni 64 Yogini, Hirapur, Puri vào số tới.

III. Tỉnh Konak.

Tỉnh Konark cũng thuộc địa phận Puri nhưng được coi là một đỉnh của tam giác Vàng Thủ đô-Bhubaneswar-Thủ phủ Puri-Tỉnh Konark vì có một đền lừng danh là Đền Mặt Trời Konark, một địa danh Di Sản Văn Hóa Thế Giới UNESCO.

Sẽ có bài viết riêng. Xem Ấn Độ: Đền Mặt Trời Konark, Puri.

(còn nữa). Số tới: Ấn Độ: Đền Nường Yoni 64 Yogini.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: