VÒNG ĐAI DUYÊN HẢI ẤN ĐỘ (Phần 10):TIỂU BANG ODISHA (phần C) ẤN GIÁO (2).

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

Phải tuân thủ luật Tác quyền Copyright.

 

VÒNG ĐAI DUYÊN HẢI ẤN ĐỘ.

(Phần 10)

Nguyễn Xuân Quang.

TIỂU BANG ODISHA (phần C) ẤN GIÁO (2).

C. ẤN GIÁO.

C.1 Đền Thờ Shiva.

II. ĐỀN MUKTESHVARA.

Đền Muktesvara, một trong những đền nổi bật nhất ở Bhubaneswar. Mukteshvara có một nghĩa là ‘Thần Chúa của Tự Do’. Đền thờ Shiva.

Đựa theo kiểu làm, đền được định là làm vào thế kỷ thứ 10 theo trường phái kiến trúc Kalinga và được coi là ‘Hòn Ngọc của Kiến Trúc Odisha’.

clip_image002Quần thể đền Mukteshvara thờ Shiva.

clip_image004Nhóm bát giác trong quần thể đền (ảnh của tác giả).

a. Hình dáng tổng quát bên ngoài.

Đền cao 10.5 m gồm một tháp chính rekha deul (còn gọi là vimana ở phía trên điện chính) và pidha jagamohara (đại sảnh kiến trúc hình tháp), hướng về phía tây.

clip_image005

Lưu ý đại sảnh ở đây kình tháp khác với đại sảnh ở đền Parashurameshvar có mái bằng hình chữ nhật.

Tháp chính của đền trông giống dạng dương vật. Trên chóp tháp có chiếc đinh ba, biểu tượng của Shiva. Rõ ràng là đền thờ Shiva.

Ngoài ra đền có một kiến trúc nổi tiếng nhất là cổng vòm cung torana tuyệt đẹp:

clip_image007Cổng vòm cung torana.

Xin nhắc lại torana cùng nghĩa với torii của Thần Đạo Nhật Bản (xem bài viết Nhật Bản: Cổng Torii, Biểu Tượng Thần Đạo). Cổng torana và torii cũng có một dạng giống như cổng tam quan của Phật giáo. Cổng torana nổi tiếng nhất của Phật giáo là cổng ở Tháp Sanchi, một kiến trúc đá lâu đời nhất ở Ấn Độ, khởi thủy được Hoàng đế Ashoka ủy thác cho làm vào thế kỷ thứ 3 Trước Dương Lịch.

Như thế ta thấy rõ qua cổng torana này đền mang ảnh hưởng của Phật giáo.

Cổng trang trí hình giai nhân, hình khỉ và chim công. Đặc biệt những hình người đẹp ngực trần rất duyên dáng, đeo chuỗi hạt và trang sức lộng lẫy nhưng ở tư thế mệt mỏi, rã rời, chán chường, tay giữ lũ khỉ như không muốn cho chúng lại gần. Đây là dạng kiến trúc không theo kiểu mẫu Ấn giáo thấy rất rõ ở đền này.

clip_image009Giai nhân ngực trần no tròn ở tư thế mệt mỏi, rã rời, chán chường (ảnh của tác giả).

Mặt trước và sau cổng giống nhau.

Hãy so sánh thần nữ này với thần nữ trên cổng torana phía đông của tháp Sanchi. Thần nữ ở torana Sanchi là nữ Thần Cây và Mắn Sinh (fertility) đứng dưới vòm cây xoài nặng trĩu quả (biểu tượng mắn sinh) và con voi, có một khuôn mặt liên hệ với Phật giáo.

clip_image011Tượng thần nữ ở cổng phía đông Tháp Sanchi (nguồn: John D. La Plante, Asian Art, Stanford University).

Nữ Thần Cây ở đây là thần nữ Cây Đa Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) sinh ra Mẹ Đời, người đàn bà đầu tiên của nhân loại, trong văn hóa Thung Lũng Sông Ấn giống như Cây Si của Mường Việt sinh ra Mẹ Đời Dạ Dần.

Các tượng nữ ở cổng torana này và ở Tháp Sanchi được cho là thuộc nhóm thần nữ yashini được thờ phượng vào thời rất sớm ở Ấn Độ:

clip_image013Hình hai thần nữ Yashishalabanjika, Kushana, Tây Bắc Ấn, thế kỷ thứ 2 Trước Dương Lịch, thường cầm cành cây hoa, biểu tượng cho mắn sinh của Phật giáo (ảnh của tác giả chụp tại Bảo Tàng Viện Quốc Gia Singapore).

Các yashini đều có những đường nét cong tròn lả lướt đầy gợi cảm, khiêu gợi. Lưng ong (Vừa khéo chiều chồng, vừa dễ nuôi con), nở hậu (xương chậu lớn dễ sinh con), nường mẩy, cặp vú no tròn vành vạnh như hai trái vú sữa khổng lồ (lớn vú bụ con) biểu tượng cho mắn sinh, sung mãn, phú quí, giầu có.

Nguồn gốc của Nữ Thần Cây có từ tục thờ Thần Mẫu của Thung Lũng Sông Ấn. Với tính cách là Mẹ Đời, Mẹ Tổ của nhân loại, các nhà nghiên cứu Phật giáo cho rằng đây cũng là hình bóng của Hoàng hậu Maya, mẹ Phật Tổ ở vườn Lumbini (Lâm Tì Ni). Khi bà đưa tay lên với cây Vô Ưu khiến cây nở hoa rợp trời, ngay lúc đó bà sinh ra Phật Tổ.

Điểm đặc biệt là tượng ở Tháp Sanchi này trông cũng uể oải, lừ đừ, chán chường (languidly) như tượng ở đền tại đây. Điểm này xác thực thêm cổng torana ở đây mang ảnh hưởng Phật giáo.

b. Bên Trong Tháp.

-Thần chủ Shiva.

Bây giờ ta thử xem đền thờ có thần chủ là Shiva thì linga của Shiva ở đây có gì khác lạ không?

Linga ở chính điện tại đây đặc biệt có dạng hình cầu tròn.

clip_image015Linga dạng cầu tròn tạo hóa (ảnh của tác giả).

Nõ linga còn ở dạng cầu tròn diễn tả bộ phận sinh dục còn ở dạng hạt mầm, hột giống, tuyến sinh dục (gonad) dương, hòn dái, sinh ra giao tử (gametes) đực. Như thế Shiva tại đền này có một khuôn mặt chính là nguyên tạo, tạo hóa ở cõi đại vũ trụ có một khuôn mặt ứng với hư vô, thái cực (xem bài viết Ý Nghĩa Nõ Linga Trong Ấn Giáo).

-Trang trí bên trong.

Đặc biệt bên trong đại sảnh (jagamohana): trần nhà chạm khắc rất tinh tế hình hoa sen nở rộ:

clip_image017Trần nhà chạm khắc rất tinh tế hình hoa sen nở rộ (ảnh của tác giả).

Phải chăng hình hoa sen mang ảnh hưởng của Phật giáo? Hình có chứa các khuôn mặt đại diện của Virabhadras (khuôn mặt cuồng nộ của Shiva) và Saptamatrikas (Bẩy Thần Mẫu) với các em bé trên đùi.

…….

c. Phía Ngoài Đền.

Phía ngoài mặt đền được trang trí khắc chạm tuyệt mỹ với các vị thần Ấn giáo, các cảnh sinh hoạt nhân sinh, hoa quả, chim thú…

.Shiva

Đặc biệt nhất là các tượng Shiva dưới dạng Thần Nhẩy Múa Nataraja trong Vũ Điệu Vũ Trụ như thấy ở phía trên gần chóp tháp ở mặt phía nam của tháp:

clip_image019Shiva trong Vũ Điệu Vũ Trụ (ảnh của tác giả).

Shiva dưới khuôn mặt này ăn khớp với khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa nguyên tạo của Shiva diễn tả bằng linga cầu tròn như đã nói ở trên.

.Gia đình

Hiển nhiên cũng có các vị thần trong gia đình Shiva như Parvati, Ganesha…

.Các thần khác

Có rất nhiều các vị thần khác cùng giáo phái với Shiva và giáo phái đối ngược là Vishnu.

.Sư tử thần bí.

Ở mặt phía nam của tháp đặc biệt có motifs hình giống như chiếc huy chương (medallion) gọi là Bho hình mặt sư tử huyền bí (murtimukha), trông giống mặt ác quỉ ngay dưới tượng Shiva trong Vũ Điệu Vũ Trụ:

clip_image021Motifs Bho (ảnh của tác giả).

Mặt này nhả ra những chuỗi hoa, hai bên có hai người lùn. Trong các ổ lõm có tượng các vị thần hay hoa sen.

Khuôn mặt này trông giống các khuôn mặt quỉ giữ cửa ở trước các đền đài trong các tôn giáo khác nên có tác giả cho rằng nó đóng một vai trò bảo vệ cho đền hay cho nhà vua, hoàng gia đã xây đền. Các trụ thẳng đứng hai bên trang trí với các điêu khắc mắt cáo tinh xảo.

.Tu sĩ khổ hạnh.

Có một số điêu khắc các nhà tu khổ hạnh gầy trơ xương ở vị thế thuyết dậy yoga hay trầm tư hoặc đang thư dãn thưởng thức âm nhạc.

clip_image023Các tu sĩ khổ hạnh (ảnh của tác giả).

Vì thế một số học giả cho rằng đền này có một vai trò là một trung tâm nhập môn mật giáo Tantric. Phái này có một quan điểm xuất thế vì vậy có tác giả cho rằng đây là lý do đền được đặt tên là Đền Tự Do Mukteshvara.

.Thần nữ dòng nòng thái âm.

Đền có nhiều tượng thần nữ. Ngoài nhóm tượng Bẩy Thần Nữ Saptamatrikas đã nói ở trên, còn có thần Sông Ganga và Yamuna (một nhánh sông Ganga).

-Thần sông Hằng Ganga:

clip_image025Nữ thần Sông Hằng Ganga đứng trên đầu cá sấu (cá sấu là biểu tượng của thần Ganga) (ảnh của tác giả).

-Thần sông Yamuna:

clip_image027Nữ thần Sông Yamuna đứng trên con rùa (ảnh của tác giả).

.Các nữ anh thư (nayikas) kiều diễm khắc theo kiểu triến trúc chạm nổi nhô ra (alto-relivo) .Cặp Người Rắn Nam Nữ Naga/Nagi ở các trụ.

clip_image029Tượng Người Rắn Nữ Nagi (thấy rõ qua cặp vú) (ảnh của tác giả).

clip_image031Tượng người Rắn Nam Naga (ảnh của tác giả).

Lưu ý

NagA là người rắn nam có tận cùng bằng chữ A là chữ mang tính nọc dương, A do ba nọc que III ghép lại mang tính dương I thái dương II. Trong khi NagI là người rắn nữ có tận cùng bằng chữ I là nọc que bằng đầu tức nọc que mang âm tính, có một khuôn mặt âm của dương, ở đây đối ngược với A dương thái dương thì I là âm thái dương, nữ ngành thái dương. Trong Phạn ngữ âm A mang tính dương thái dương và âm I mang tính âm thái dương ngành nọc nam đúng theo ngữ pháp của chữ nòng nọc vòng tròn-que ví dụ như deva là thần nam, devi là thần nữ, Hara là một khuôn mặt của Shiva và Hari là một khuôn mặt của Vishnu. Nói theo ngữ pháp ngày nay A có giống đực và I có giống cái.

Như đã biết Visnu thuộc dòng nòng âm nước, Rắn naga vì thế có tác giả cho người rắn ở đây là Vishu. Nếu cho Nagi là khuôn mặt của Vishnu thì ở đây cho thấy rõ như hai năm là mười là Vishnu có hai khuôn mặt nữ và nam (chứ không như chúng ta thường nghĩ Vishnu chỉ có một khuôn mặt nam).

Thật ra Naga/Nagi có nghĩa tổng quát là cặp nam nữ, thần sinh tạo thuộc nhánh nòng âm nước, rắn như thấy qua cặp người rắn Phục Hy-Nữ Oa.

clip_image033Phục Hy và Nữ Oa thuộc dòng nòng âm, nước vì cả hai đều có đuôi rắn.

Ở đây ta cũng thấy rõ Vishnu thuộc ngành nòng âm nước ứng với Thần Nông. Nữ Oa-Phục Hy Người Rắn thuộc văn hóa sông nước, nòng âm của Bách Việt không phải của Hoa Hạ, Trung Quốc vốn dân du mục võ biền. Dịch Phục Hy là dịch của Bách Việt sông nước không phải của Hoa Hạ, Trung Quốc. Ta cũng thấy rõ văn hóa Bách Việt theo sông nước, nòng âm, nông nghiệp nguyên thủy theo mẫu hệ có nhiều điểm tương đồng với văn hóa Thung Lũng Sông Ấn vốn theo nông nghiệp thờ thần nữ, Tổ Mẫu. Dân Thung Lũng Sông Ấn vốn là người Dravidian và Mường Việt cùng có Cây Đa, Cây Si sinh ra Tổ Mẫu loài người.

-Cảnh sinh hoạt nhân sinh.

Như cảnh săn bắn thấy ở dưới motifs Bho.

Đặc biệt nhất ở đây có các motifs nhào lộn rất bay bướm:

clip_image035Hai đầu bốn thân (ảnh của tác giả).

clip_image037Một đầu bốn thân (ảnh của tác giả).

Đây được cho là các hình trang trí, thật ra nhìn theo vũ trụ tạo sinh, các hình nhào lộn này cũng mang ý nghĩa dịch học. Hình hai đầu quay mặt về hai hướng trái và phải, nòng nọc (âm dương) diễn tả lưỡng cực, lưỡng nghi. Bốn thân là tứ tượng. Bốn thân chuyển động là tứ hành. Hình dưới chỉ có một mặt ứng với mặt trời (mặt có nghĩa là vật sáng) nằm trong hình tròn vòng cánh tay diễn tả không gian. Mặt trời không gian diễn tả càn khôn, nòng nọc (âm dương) nhất thể hay lưỡng nghi. Bốn thân hướng về tứ phương là tứ tượng. Bốn thân chuyển động là tứ hành.

-Các trang trí gồm hoa, quả, chim và thú…

Đặc biệt cũng có cảnh lũ khỉ đùa chơi. Khung ngoài cùng của hai cửa sổ đan mắt cáo ở phía bắc và nam của đại sảnh diễn tả các trò khỉ của đời sống lũ khỉ.

clip_image039Cảnh lũ khỉ đùa chơi. Lưu ý ở ngay giữa, một con khỉ đực tính ‘làm trò khỉ” với một con khỉ cái bị con thứ ba ‘khỉ khọn’ kéo đuôi giữ lại (ảnh của tác giả).

Dục Tính ở Đền Này.

Xin nhắc lại Ấn giáo theo vũ trụ giáo dựa trên nguyên lý linga-yoni. Thoạt khởi thủy diễn tả như ở bái giáo, thần giáo thờ linga yoni dạng thiên nhiên sau tín ngưỡng hóa, thần thánh hóa. Tiếp đến sự sinh tạo diễn tả bằng các cặp tình nhân nam nữ gọi là mithuna. Rồi đến các cảnh làm tình kamasutra.

Vì vậy qua tính dục ta có thể biết tổng quát về tuổi, thời kỳ của đền, đền xây vào thời nào của Ấn giáo (lúc đầu chỉ thờ linga yoni, rồi có các nữ thần mây mưa diễm tình Apsara, tiếp nữa có thêm các cặp tình nhân mithuna tỏ tình với nhau, cuối cùng là cảnh kamasutra. Vào thời Phật giáo ngự trị Ấn giáo tình dục bị loại bỏ hay giảm thiểu tối đa, làm một cách ẩn kín

(Phật giáo diệt dục, tính dục giảm thiểu tối đa, ngoại trừ ở phái mật tông). Các đền chùa Phật theo nguyên tắc không có các cảnh tình dục kiểu kamasutra (ngoại trừ phái mật tông), nếu có thường là bị ảnh hưởng của Ấn giáo. Vào thời Ấn giáo phục hưng tính dục bùng nổ trở lại, khi lên tột đỉnh diễn tả bằng các cảnh kamasutra thác loạn.

Ở đền này mới chỉ thấy các apsara khiêu gợi, nóng bỏng:

clip_image041Một apsara đang đánh đàn (ảnh của tác giả).

Trong như tiếng hạc bay qua,

……

Khiến người (hay hầu hay chó?) ngồi đó những ngơ ngẩn sầu! (Nguyễn Du, Kiều).

Các cặp tình nhân mithuna trần truồng bên nhau nhưng chưa thấy cảnh làm tình. Các nhạc sĩ cũng thấy trần truồng:

clip_image043Hình ảnh ‘con đĩ đánh bồng’ trần truồng (ảnh của tác giả).

Cũng nên biết Việt ngữ bồng là tiếng trống gõ kêu bồng bồng và cũng có một nghĩa là một loại trống. Con đĩ đánh bồng là con đĩ đánh trống. Thấy rõ trong ca dao, đồng dao như: ‘Bồng bồng cõng chồng đi chơi…’, ‘Bồng bồng cái lộc ra hoa’…… Ta thấy rõ trống ở đây thuộc loại trống cơm Việt Nam đúng như câu ‘Vỗ mấy bông mà nên bông’ trong bài đồng dao Vỗ Cái Trống Cơm. Trống cơm Việt Nam thuộc loại trống bông, trống bồng này tức là loại trống đánh được cả hai đầu một lúc, kêu bông bông, bồng bồng.

Ấn Giáo và Phật Giáo ở Đền Này.

Như đã biết tại Dauli gần Bhubaneswar này là nơi xẩy ra trận chiến tắm máu Kalinga đã khiến Ashoka cải đạo qua Phật giáo và ông lập nên một trung tâm Phật giáo chính ở đây với những Sắc Lệnh Đá Chính tại đây. Ông đã bắt tất cả mọi người trong đế quốc của ông chuyển đạo qua Phật giáo. Vì thế các đền Ấn giáo ở Odisha như ở đền này có thể bị ảnh hưởng của Phật giáo là chuyện tự nhiên.

Ngoài ra vào thời gian này Bhubaneswar là giao lộ của tư tưởng của các vị trị vì như Shasanka của Ấn giáo và Bhaumakaras của Phật giáo.

Ở đây yếu tố Phật giáo đã thấy hiện rõ qua cổng torana, một dạng cổng tam quan của Phật giáo và cổng torii của Thần giáo Nhật (cũng thường thấy trong các chùa Phật giáo). Thường các đền Ấn giáo không có loại cổng này. Ở Việt Nam một vài tháp Champa thấy có cổng này hình giống vòm ‘gothic’:

clip_image044Tháp Po Klong Garai, Phan Rang (nguồn: News.zing. vn).

Thật ra cổng làm theo hình chỏm tháp, một biến dạng của hình qui đầu của nõ linga. Nhìn cổng hình qui đầu nhọn nọc mũi mác mang tính lửa thái dương ta có thể đoán ngay đây là tháp thờ Shiva. Nhưng dù gì đi nữa tháp Champa thường không có cổng torana, cổng này cũng cho thấy có thể là bị ảnh hưởng của Phật giáo (tháp này làm vào cuối thế kỷ thứ 13).

……

Có hai trường hợp: trường hợp thứ nhất Phật giáo vào thời cực thịnh để lại ảnh hưởng tới Ấn giáo ở đền này làm đã khá muộn làm vào thế kỷ thứ 10. Thứ hai cũng có thể Ấn giáo đã phục hưng, vùng dậy trở lại. Ấn giáo hóa hay đồng hóa Phật giáo để ngự trị Phật giáo chiếm lại ngôi vị như thủa ban đầu lúc chưa có Phật giáo.

Sự biến chuyển này thấy rõ qua hình ảnh con sư tử biểu tượng của Ấn giáo và con voi, biểu tượng của Phật giáo.

Lưu Ý: Sư tử ngoài có một khuôn mặt biểu tượng cho Ấn giáo và voi, biểu tượng cho Phật giáo còn có những nghĩa khác, cần phải phân biệt.

Thoạt đầu Phật giáo đã mượn khá nhiều giáo lý của Ấn giáo. Gia đình Phật Tổ vốn theo Ấn giáo. Hoàng đế Ashoka cải đạo từ Ấn giáo qua Phật giáo và ông chủ trương đề huề với các tôn giáo khác, không tiêu diệt các tôn giáo khác trong đó có Ấn giáo. Vì thế thoạt khởi đầu sư tử Ấn giáo và voi Phật giáo kết hợp, thống nhất thành một như thấy qua tượng sư tử đầu voi:

clip_image046Tượng sư tử-đầu voi đang tắm gội cho một người (thần linh, quan quyền hay ‘đại gia’ thấy qua hình dáng phì lũ, bụng bự). Vòi voi làm vòi nước hoa sen. Đuôi voi cầm ‘nùi’ kỳ cọ (ảnh của tác giả).

Cũng có thể Ấn giáo giữ lại một chút Phật giáo trong giai đoạn chuyển tiếp để các Phật tử dù vốn là Ấn giáo gốc hay Phật tử thuần túy cải đạo trở về lại Ấn giáo (dù tự nguyện hay cưỡng ép) cảm thấy thoải mái không thấy trở ngại gì. Ở hình này Phật giáo còn ở địa vị đầu (đầu voi) nên lúc này Phật giáo còn có vai vế bên trên Ấn giáo. Phật giáo và Ấn giáo cùng ‘tắm gội’, tẩy trần cho con người như nhau.

Về sau Phật giáo và Ấn giáo ngang nhau như đã thấy nói trong các sắc Lệnh Đá Ashoka: sư tử Ấn giáo và voi Phật giáo lúc này ngang nhau như thấy sư tử và voi chầu hai bên ở hình lũ khỉ làm trò khỉ ở trên. Về sau Ấn giáo chiếm lại thượng phong diễn tả sư tử ở trên voi:

clip_image048Sư tử đứng trên voi ở dưới các tượng Người Rắn Nagi-Naga (ảnh của tác giả).

Hay ở các cạnh của tháp:

clip_image050Tượng sư tử một đầu hai thân đứng trên voi cũng một đầu hai thân ở  hai mặt tháp (ảnh của tác giả).

Sau nữa đến thời kỳ Phật giáo bị Ấn giáo hoàn toàn ngự trị trở lại. Voi Phật giáo phủ phục trước sư tử Ấn giáo:clip_image052Voi phủ phục trước sư tử (ảnh của tác giả).

Sư tử phun nước ‘tắm gội’ hay ‘phỉ nhổ’ Phật giáo? Sư tử không bao giờ phun nước, có lẽ nghiêng về nghĩa phỉ nhổ nhiểu hơn.

Ở các đền khác muộn hơn ta thấy cảnh sư tử Ấn giáo vồ cấu xé voi Phật giáo (xem Đền Mặt Trời Konak, sẽ viết).

Ở đây ta thấy rõ Ấn giáo ngự trị Phật giáo và đền làm vào thế kỷ thứ 10, lúc Ấn giáo phục hưng nên ta nghiêng về phía Ấn giáo đồng hóa hay Ấn giáo hóa Phật giáo để chiếm lại thượng phong, lấy lại tín đồ.

Kết luận

Đền này thờ Shiva với khuôn mặt tạo hóa thấy qua hình tháp mang dáng dấp linga, cây đinh ba trên đỉnh tháp, linga trong chính điện hình cầu tròn và Shiva dạng Nataraja trong Điệu Nhẩy Vũ Trụ sáng thế ở trên cao nhất trên mặt tháp….

.Đền này muộn (thế kỷ thứ 10) làm theo kiến trúc Kalinga có đại sảnh hình tháp thay vì mái bằng hình chữ nhật như thấy ở đền Parashurameshvar (thế kỷ thứ 6-7).

-Có mặt của Phật giáo thấy rõ qua cổng torana. Các thần nữ trên cổng torana được diễn tả không theo nguyên mẫu Ấn giáo như thấy người nữ mệt mỏi, chán chường giống như ở trên cổng torana Tháp Sanchi.

-Đã thấy tiến trình Ấn giáo lấy lại ảnh hưởng Phật giáo. Ấn giáo trong qui trình đồng hóa, Ấn giáo hóa Phật giáo thấy qua các cảnh sư tử Ấn giáo ngự trị voi Phật giáo nhưng chưa thấy cảnh sư tử vồ ăn thịt voi.

.Các tượng thần nữ rất duyên dáng và còn giữ được vẻ trong trắng. Chưa thấy cảnh làm tình, tình thuật kamasutra.

……

.III. Đền Lingaraj.

Đền Lingaraj hay Lingaraja được xây vào thế kỷ 11 Sau Dương Lịch thờ ‘Vua’ Shiva’. Tên Lingaraj có Linga và raj có nghĩa là vua cho ta biết ngay đền thờ “Vua’ Shiva. Đền là một quần thể lớn nhất trong thành phố.

clip_image054Tháp chính có dạng dương vật (chụp từ một dàn cao bên ngoài đền. Người ngoại đạo Ấn giáo không được phép vào trong đền chỉ được đứng trên một dàn cao nhìn vào và chụp ảnh. Dĩ nhiên phải mất tiền!).

Tổng quát bên ngoài đền giống kiến trúc của đền Mukteshvara gồm có tháp chính mang dáng dấp linga và đại sảnh có vòm mái hình tháp.

Linga ở đây có gì lạ không? Rất tiếc đền chỉ dành cho tín đồ Ấn giáo người ngoại đạo không được vào trong (Tôi tìm mua ảnh linga này nhưng vì là vật thiêng liêng bị cấm không được phép in ra nên cũng không mua được hình). Theo tài liệu cho biết trong chính điện, Linga của Shiva được coi là có nguồn gốc tự phát sinh ra (self-originated) có nghĩa là tự sinh ra theo cách trinh sản, tự mình sinh ra mình vì đã có sẵn hai mầm đực cái. Shiva linga này chỉ cao 8 đốt (inches) nhưng có đường kính tới 8 bộ (feet). Xin nhắc lại số 8 là số Khôn tầng 2 (0,8). Khôn đi với linga có một khuôn mặt Trụ Lửa Càn. Càn Khôn là tạo hóa, vũ trụ.

Khi đền sắp xây xong, văn hóa Jagannath (một hình dung từ nguyên thủy chỉ Vishnu và/hay Krishna) bắt đầu phát triển ở Odisha. Vì vậy vị thần chủ trì ở đây là Shiva có thêm khuôn mặt Vishnu ở dạng nhất thể của hai ngành nòng nọc (âm dương), ở dạng thần Hari-Hara:

clip_image056Thần Hara-Hari bán Shiva-bán Vishnu (nguồn: Devdutt Pattanaik, Myth = Mithya).

Hara chỉ thần Chúa Shiva và Hari chỉ thần Chúa Vishnu.

(Lưu ý: HarA có A là dương thái dương phía Shiva và HarI có I là âm thái dương phía Vishnu giống như Naga, Người Rắn Nam và Nagi, Người Rắn Nữ như đã nói ở trên).

Do đó thay vì chỉ thờ Shiva mà thôi đúng như tên gọi Lingaraj, sau này lại thờ cả hai Shiva và Vishnu. Tháp chính thờ Shiva nhánh nọc dương trên đỉnh có cắm chiếc đinh ba, biểu tượng của Shiva.

Tháp phụ thấp hơn thờ Vishnu phía nòng âm.

clip_image058Tháp phụ trên chỏm có cắm nọc hình trái tim hay lá đa biểu tượng của nhánh nọc âm thái dương (ảnh của tác giả).

Trên chỏm tháp có cắm nọc hình trái tim hay lá đa. Hình này là một từ nòng nọc vòng tròn-que do hai chữ nòng OO chập lại, nhọn đầu mang dương tính tức nọc âm thái dương. Theo duy dương, âm nam thì coi như là hình trái tim. Theo duy âm, âm nữ thì coi như là hình lá đa (Chữ Nòng Nọc vòng tròn-Que: Từ Hai Nòng OO).

Như đã nói ở trên người ngoại đạo không được vào trong đền nên chúng tôi không biết gì bên trong cả.

Tính Dục Ở Đền Này.

Đền này xây vào thế kỷ 11 lúc Ấn giáo đã phục hưng hoàn toàn và đạt tới cao điểm vì thế tính dục cũng đạt tới cao điểm. Ở đây đã có cảnh kamasutra. Đền này được xếp vào một trong những đền có cảnh kamasutra thác loạn nhất ở Ấn Độ (Khajuraho, Lingaraja, Mặt Trời Konark, Nanda Devi, Đền Chinh Phục giáo Osian, Bhoramdeo…). Rất tiếc là không được vào trong nên xin mượn một tấm hình trên mạng:

Cảnh kamasutra ở Đền Lingaraj (nguồn: naukrinama.com, Ajab Gajab, 8 Temples in India That Depict Kamasutra and Cerebrate The Art of Lovemaking).

Ấn giáo và Phật Giáo ở Ngôi Đền Này.

Tại sao lại thêm Vishnu vào đền này? Sự thêm Vishnu vào đền này cho thấy Ấn giáo vào lúc này (đền xây vào thế kỷ 11) đã hoàn toàn phục hưng, đã sống lại (Revival) và Phật giáo đã hoàn toàn suy đồi. Vào Thời Hậu-Triều Đại Gupta (600-1200 Sau Dương Lịch) tư tưởng Phật giáo đã bị biến đổi bởi Ấn giáo. Sự đồng hóa các vị thần Ấn giáo vào Phật giáo khiến Phật giáo đã vô hình chung chấp nhận tư tưởng Ấn giáo. Điểm này thấy rõ qua sự kiện Phật giáo thờ ba dạng thể Tam Thể (three bodies) và các vị bồ tát, cả hai đều bị ảnh hưởng của hệ thống Ấn giáo.

Sự Phục Hưng của Ấn giáo chuyển qua sự thờ phượng Vishnu và hóa thân (avatar) của Vishnu là Krishna mang tính chủ (gọi là văn hóa Jagannath như đã nói ở trên). Sự thờ phượng các vị bồ tát của Phật giáo (Phật giáo nguyên thủy chuyển qua Đại Thừa) đi song song với sự thờ phượng các hóa thân của Vishnu. Và Ấn giáo đã biến Phật Tổ thành hóa thân thứ 10 của Vishnu. Ta sẽ không ngạc nhiên thấy nhiều tượng Phật được con rắn hổ mang, một biểu tượng của Vishnu, che chở!

Tại sao Vishnu mà không phải là Shiva ‘cải hóa’ Phật giáo? Vì Phật giáo và Vishnu giáo gần cận nhau hơn. Phật giáo mang tính Tĩnh thuộc phía nòng, âm Vũ của Vũ Trụ giống như Vishnu, Thần Bảo Vệ trong khi Shiva mang tính Động thuộc phía nọc, dương, Trụ của Vũ Trụ, mang tính Hủy Diệt. Vào thời Phục Hưng của Ấn giáo, khuôn mặt Vishnu nổi trội hơn Shiva và gần Phật giáo hơn vì Ấn giáo còn giữ lại hậu quả của Phật giáo ngự trị lúc trước hay Ấn giáo chuyển qua Vishnu nhiều để lẫn vào Phật giáo cho dễ việc đồng hóa Phật giáo.

Ở Đền Mukteshvara xây vào thế kỷ thứ 10 ở trên ta đã thấy Ấn giáo ngự trị, đồng hóa, Ấn giáo hóa Phật giáo qua hai hình ảnh sư tử Ấn giáo và voi Phật giáo. Ở đền này xây sau một thế kỷ sự hiện diện của Vishnu thêm vào đền Vua Shiva Lingaraj cho thấy Ấn giáo đã hoàn toàn phục hưng, ngự trị, đồng hóa, Ấn giáo hóa Phật giáo. Rất tiếc không được vào bên trong để tìm thêm các hình ảnh làm bằng chứng thêm.

…..

Như thế ta đã đi thăm ba ngôi đền thờ Shiva tiêu biểu ở Bhubaneswar theo thứ tự thời gian: Đền Parashurameshvar xây thế kỷ thứ 6-7, Đền Mukteshvara thế kỷ thứ 10 và Đền Lingaraj thế kỷ thứ 11. Ba ngôi đền thờ Shiva mang ba khuôn mặt sinh tạo khác nhau: ở Đền Parashurameshvar Shiva với khuôn mặt linga nọc que mang tính sinh tạo tầng lưỡng cực, lưỡng nghi. Ở Đền Mukteshvara Shiva với khuôn mặt linga cầu tròn mang tính sinh tạo chính ở tầng hư vô. Ở đền Lingaraj Shiva với khuôn mặt tự sinh ra nhưng về sau đền lại mang tính sinh tạo Hara-Hari, Shiva-Vishnu nhất thể ứng với thái cực.

Qua dòng thời gian ba đền này cho thấy sự tiến hóa của Ấn giáo từ khi còn giữ được đạo gốc qua gia đoạn bị Phật giáo ngự trị rồi tới giai đoạn phục hưng, vùng dậy, ngự trị và đồng hóa, Ấn giáo hóa Phật giáo trở lại ở Nam Ấn.

Về kiến trúc ta thấy sự tiến hóa của các đền Ấn giáo đi từ dạng hình vuông với tháp đơn giản, đại sảnh hình chữ nhật mái bằng lúc ban đầu tới dạng tháp mang hình ảnh Núi Thế Giới. Thời Phục Hưng là thời sáng tạo nhất về nghệ thuật diễn đạt ý thức hệ Ấn giáo.

Ta cũng thấy sự tiến hóa về dục tính của Ấn giáo qua ba ngôi đền này đi từ thiên nhiên tới kamasutra thác loạn.

……

Kỳ tới chúng ta sẽ viếng thăm một ngôi đền thờ phái nữ Thần Tổ Mẫu Durga: Đền Vaital.

(còn nữa).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: