VÒNG ĐAI DUYÊN HẢI ẤN ĐỘ (Phần 9) TIỂU BANG ODISHA (phần C) ẤN GIÁO.

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

Phải tuân thủ luật Tác quyền Copyright.

VÒNG ĐAI DUYÊN HẢI ẤN ĐỘ.

(Phần 9).

Nguyễn Xuân Quang.

TIỂU BANG ODISHA (phần C) ẤN GIÁO.

C. ẤN GIÁO (Hinduism).

Ấn giáo là tôn giáo chính của Ấn Độ.

Xin nhắc lại sơ qua về cốt lõi của Ấn giáo. Về lý thuyết Ấn giáo rất đơn giản nhưng trong thực hành rất phức tạp. Căn bản là chỉ có sự hiện hữu đích thực gọi là Brahman. Mục đích của Ấn giáo là khám phá ra cái tính chất thật sự của bản ngã atman (self) và Brahman, cái tính chất đích thực của nguyên lý vĩnh hằng, không phân hóa của hiện hữu. Khi hai thực thể này hợp lại được thành một thì lúc đó chúng ta cảm nhận được Brahman là chúng ta.

Brahman tự-hiện hữu (self-existent), không thay đổi, vĩnh hằng. Brahman không phải là thánh thần (gods). Như đã biết, thượng đế trong Ấn giáo vô hình, vô tướng. Brahma có một khuôn mặt thượng đế vô hình tướng được diễn tả bằng một vòng tròn ứng với hư vô. Vì thế Ấn giáo là di duệ hay liên hệ với Vũ Trụ Giáo (Ấn Độ: Vòng Đai Duyên Hải 2: Ấn giáo và Vũ Trụ Giáo). Trong Ấn giáo các thần thánh (có tới 330 triệu) chỉ là các khuôn mặt đại diện cho Brahman. Ví dụ ở cõi tạo hóa sáng thế, khuôn mặt tạo hóa, thượng đế do Brahma đại diện. Khuôn mặt duy trì sự sống do thần bảo vệ Vishnu đại diện và khuôn mặt hủy hoại, tàn phá do thần hủy diệt Shiva đại diện.

Các vị thần con, thần hóa thân, thần phụ… ở các cõi dưới có thể đã được các triết gia, giáo sĩ giữ theo bái giáo hay bái giáo hóa dùng để truyền bá, đả thông giáo lý hay để cai trị lớp thứ dân qua các huyền thoại, thần thoại, lễ tục…

Mục đích chính là hợp nhất lại các vỡ vụn của con người (đời người vốn chỉ là ảo mộng) với Brahman. Chết không phải là hết. Cái ngã atman có thể được tái sinh đi tái sinh lại mãi cho tới khi ngã và Brahman là một. Khi đó giải thoát (moksha) khỏi vòng tái sinh, luân hồi (samsara) được hoàn tất. Hậu quả của ngã trong kiếp này được định bởi nhân của kiếp trước tức nghiệp (karma). Nếu một người có một cuộc đời hoàn thiện người đó thoát ra được vòng luân hồi. Nếu không họ sẽ bị tái sinh xuống một tầng thế giới thấp hơn có thể làm một loài vật và rồi phải đi lần lần lên tới khi trở thành con người trở lại. Cuối cùng nếu có được một đời hoàn thiện thì cũng đạt tới được Brahman.

….

Cũng như các tiểu bang khác, Odisha có rất nhiều đền đài Ấn giáo. Tại thủ đô Bhubaneswar này có những đền Ấn giáo nổi tiếng như Parashurameswar, Mukteswar, Lingaraj, Rajarani… Ngoài Bhubaneswar hai tỉnh còn lại là Puri và Konark của Tam Giác Vàng còn có Đền Vũ Trụ ở tỉnh Puri, đền Nường Yoni 64 Yogini nằm trong địa hạt Puri và Đền Mặt Trời Konark ở tỉnh Konark, cũng thuộc địa phận Puri.

Đền Ấn Giáo Tại Bhubaneswar.

C.1 Đền Thờ Shiva.

Chúng ta bắt đầu viếng thăm từ ngôi đền cổ nhất trong tiểu bang Odisha:

I. ĐỀN PARASHURAMESHVARA.

Đền được cho là xây vào năm 650 Sau Dương Lịch. Đền quay mặt về hướng Tây, đại diện cho một nhóm đền tiêu chuẩn có rất sớm ở Odisha.

clip_image002Đền Parashurameshvar (ảnh của tác giả).

Xin nhắc lại khi đến thăm một ngôi đền Ấn giáo ta phải biết ngôi đền đó thờ vị thần nào là thần chính, thần chủ. Đền thờ tất cả các vị thần sáng thế, Tam Vị Nhất Thể Brahma-Vishnu-Shiva? Hay thờ riêng từng vị một: chỉ thờ riêng Brahma? Riêng Shiva? Riêng Vishnu? Đền thờ các vị thần nữ? …

Đền này thờ Shiva. Trong Ấn giáo phần lớn, chiếm đa số là đền thờ Shiva vì Shiva được coi là Vị Thần Tổ Vĩ Đại (Mahadeva) toàn năng nhất của Ấn giáo. Như đã biết Shiva là vị thần Nõ Linga vốn là vị thần của bái giáo, thần giáo bản địa đã có trước tại Ấn Độ trước khi người Aryans xâm lăng Ấn Độ, trước nền văn hóa Veda, một dạng văn hóa kết hợp giữa văn hóa của người Caucase Aryans và văn hóa bản địa Ấn Độ. Họ đã lấy thần Nõ Linga Shiva bản địa sát nhập vào Thần Mặt Trời Surya, Thần Lửa Agni, Thần Chiến Tranh của họ tạo thành đấng Shiva, một Vị Thần Tổ Vĩ Đại (Mahadeva) toàn năng nhất cho Ấn giáo. Đây là lý do tại sao đền Ấn giáo đa số thờ Shiva và Ấn giáo có khuôn mặt nọc, dương mang tính chủ, mang tính ngự trị, thích hợp với tính võ biền du mục của người Aryans. Điểm này giống người Hoa Hạ vốn là dân võ biền, du mục từ trung nguyên xuống tiến chiếm vùng đất ở vùng Hoàng Hà và dưới sông Dương tử của Bách Việt. Họ đã biến văn hóa lưỡng hợp nòng nọc (âm dương) đề huề, thoạt đầu nghiêng về mẫu quyền sang văn hóa nọc, dương, phụ quyền mang tính chủ, ngự trị. Văn hóa Bách Việt tiền Hoa Hạ có thể có nhiều điểm tương đồng với văn hóa Ấn Độ bản địa trong đó có nền Văn Minh Sông Ấn tiền Aryans. Vũ Trụ Giáo trong Ấn giáo vì thế không chính thống, không có nòng nọc (âm dương) Chim-Rắn đề huề mà mang tính nọc, dương ngự trị, duy dương khác với vũ trụ giáo của Việt Nam có Chim-Rắn, Tiên Rồng đề huề.

Ta cũng đã biết Bhubaneswar có gốc từ tên Tribhubaneswar, Chúa Tể của Tam Thế (Tribhubana,) ám chỉ Shiva. Như thế khuôn mặt Shiva là khuôn mặt chủ ở Bhubaneswa.

Để có lớp lang chúng ta sẽ quan sát đền từ ngoài vào trong: thần chủ ở chính điện (ở đây là Shiva) và các vị thần Ấn giáo khác, các tu sĩ, cảnh sinh hoạt nhân sinh, các trang trí …. ở bên ngoài.

-Hình Dạng Tổng Quát Bên Ngoài.

Đền này thờ Shiva, khi thăm một đền Shiva trước hết ta phải tìm xem vóc dáng bên ngoài có những nét dặc thù nào của nõ linga Shiva không? Ví dụ tháp chính làm theo dạng nguyên thủy có hình nõ linga hay theo duy dương có góc cạnh tức hình tháp vuông (giống các tháp Champa thờ Shiva), chỏm tháp có cây đinh ba, biểu tượng của Shiva, trước đền có con bò Nandi, thú biểu của Shiva v. v…

Như đã biết qua các bài viết về kiến trúc các đền Ấn giáo Khajuraho, Angkor Wat, Tháp Champa… các đền Ấn giáo có cấu trúc làm theo vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo mà nói theo Ấn giáo là đền làm theo Núi Thế Giới (World Mountain) là Meru.

Đền này là một ví dụ sớm nhất của loại kiến trúc Nagara nhấn mạnh về các cơ cấu thẳng đứng. Đền gồm hai phần: điện thờ sanctum hay vimana và đại sảnh jagamohara. Vimana có tháp bada cạnh cong. Tháp mang dáng dấp nõ linga mang trọn ý nghĩa của vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo. Rõ nhất là trên chỏm tháp có chiếc đinh ba, biểu tượng của Shiva.

Đinh ba là một dạng chữ nòng nọc vòng tròn-que, là từ ba nọc que III, là lửa I thái dương II, quẻ Càn III. Shiva có một khuôn mặt là Trụ Lửa (Pillar of Fires) tức Càn. Đinh ba vì thế có một khuôn mặt biểu tượng cho Trụ Lửa Shiva. Nên mỗi khi nhìn thấy đền có đinh ba ở chóp tháp là biết ngay là đền thờ Shiva.

Về sau làm thêm đại sảnh ngang gọi là jagamohana. Đại sảnh cũng có chức vụ của một thứ cổng vào đền.

Tôi khám phá ra là tháp có ba mặt chia ba phần lồi lõm (triratha) nhưng có sơ đồ mặt bằng tổng quát vẫn có hình tròn chuyển qua dạng có góc cạnh vuông ứng với lỗ âm hộ dạng dương có góc cạnh.

clip_image004Sơ đồ mặt bằng tháp.

Đại sảnh hình chữ nhật ứng với âm đạo. Như thế đền mang hình ảnh tháp linga cắm trên yoni ngành dương.

-Thần chủ trong chính điện

.Shiva.

Ở một đền thờ Shiva, trong chính điện bao giờ cũng thờ linga (ngoại trừ linga ether hư vô vô hình được thay thế bằng tượng Shiva hình người).

Dĩ nhiên ở đây cũng thờ linga ở chính điện:

clip_image006Linga ở chính điện (ảnh của tác giả).

Linga này ở dạng nọc que cắm trên yoni tròn ở dạng lưỡng hợp nõ nường nọc nòng.

Trên đà cửa cũng thấy khắc cảnh thờ linga:

clip_image008(ảnh của tác giả).

Ở sân gần cổng vào đền có một linga đặc biệt gọi là ‘koti linga’ có 1001 linga.

clip_image010Lingam có 1.001 linga (1.000 linga nhỏ + 1 lớn).

Koti linga có koti có nghĩa đen là ‘hàng triệu’, ý muốn nói linga đa diện có muôn triệu khuôn mặt và Shiva biến hóa khôn cùng theo đúng nghĩa dịch học, có một khuôn mặt là tạo hóa sinh tạo.

Con số 1001 có 1-1 = 0. Zero 0 có một khuôn mặt là hư vô. 1 x 1 = 1. Và 1: 1 = 1. Số 1 có một khuôn mặt là nhất thể, thái cực. 1 + 1 = 2. Số 2 có một khuôn mặt là lưỡng cực, lưỡng nghi. Rõ như hai năm là mười, linga 1001 linga có một khuôn mặt sinh tạo ở cõi tạo hóa.

Đền thờ Shiva này với Shiva có một khuôn mặt là đấng tạo hóa (từ hư vô tới lưỡng nghi vì vậy linga có hình nọc que là nọc ở tầng lưỡng nghi).

Khuôn mặt sinh tạo tạo hóa, sáng thế này thấy rõ qua: tháp bada ở dạng linga, linga cắm trên yoni ở chính điện và có nhiều tượng Shiva dưới dạng thần Nhẩy Múa Nataraja trong Vũ Điệu Vũ Trụ (Cosmic Dance). Tượng Nataraja này ở dạng Shiva-Parvati bán nam-bán nữ, nhất thể (xem dưới).

Bên Ngoài Đền.

Có hình tượng các vị thần Ấn giáo, cảnh sinh hoạt nhân sinh và trang trí.

Lưu ý: Một đền Ấn giáo thường thờ một vị thần chủ như Brahma, Shiva, Vishnu nhưng bên cạnh đó cũng thờ các vị thần con, thần hóa thân của thần chủ đó hay các vị thần của phía đối nghịch nòng nọc (âm dương) với vị thần chủ đó dưới diện giao hòa hay đối ngược. Ví dụ như ở đây vị thần chủ chính là Shiva phía nọc dương nhưng cũng thờ các vị thần phía nọc âm nam Vishnu và ngay cả phía nòng âm nữ Durga. Dĩ nhiên những khuôn mặt thần phụ này nhỏ hơn, thứ yếu.

Các Thần Ấn giáo.

.Gia đình Shiva.

-/Shiva.

Vì là đền thờ Shiva hiển nhiên có một số lớn tượng Shiva dưới nhiều hình dạng và ở vào các giai đoạn khác nhau trong truyện truyền kỳ của Shiva (Shiva Purana). Chỉ xin đưa ra một vài hình ảnh:

clip_image012Shiva bốn tay (ảnh của tác giả).

(Dễ nhận diện qua con ‘công ngủ’ và tay cầm đinh ba).

Shiva trong Điệu Nhẩy Vũ Trụ Nataraja:

clip_image014Shiva trong Điệu Nhẩy Vũ Trụ Nataraja (ảnh của tác giả).

Tượng này trên mặt tháp ở dạng Shiva-Parvati bán nam bán nữ Ardhanarishvara nhất thể tám tay (xin nhắc lại Ardhanarishvara có: Ardha là nọc, nam khởi đầu bằng A là từ 3 nọc que ghép lại có một nghĩa là lửa thái dương, Càn. Ardha là nọc, nam liên hệ với cổ ngữ Việt Áng là cha. Đồng áng là mẹ cha (đồng có một nghĩa là me. Đồng bóng có một nghĩa là ‘bóng mẹ’). Việc đồng áng là việc trọng đại như mẹ cha. Nari- là nòng, nữ khởi đầu bằng N. Hai nòng OO, thái âm chuyển động thành S rồi dương hóa thành N. Như thế N có một nghĩa là nước chuyển động, nước dương có một khuôn mặt là Khôn thái âm của nhánh nọc dương (xem Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que và Mẫu Tự ABC). Nari ruột thịt với Việt ngữ cổ ná, nạ có một nghĩa là mẹ, nàng, nường, nữ. Áng ná là cha mẹ. Như thế Ardhanari là nọc nòng, nam nữ, Càn Khôn và -ishvara như đã biết có một nghĩa là thần linh như đã nói ở từ Bhubaneswar). Adhanarishvara là thần nam nữ, ái nam ái nữ nhất thể).

Shiva đánh bại quỉ vương Ravana.

clip_image016Quỉ vương Ravana nhấc Núi Thế Giới Kailasa, nhà ở của Shiva khiến Parvati hoảng sợ (ảnh của tác giả).

Shiva xoay núi lại và nhốt Ravana ở dưới (sẽ giải thích rõ trong tương lai).

-/Shiva và vợ Parvati.

Đám cưới Shiva và Parvati.

clip_image018Đám cưới Shiva và Parvati (ảnh của tác giả).

Trên linh kiện tường phía đông có cảnh đám cưới Shiva và Parvati. Hai người đứng giữa ăn mặc trang phục đám cưới. Thần Lửa Agni có lửa hai bên ngồi ở ngay phía phải Shiva. Bên phải Agni là Brahma ba đầu đang đổ nước từ bình ra. Bên phải Brahma là thần mặt trời Surya cầm hoa sen.

Hai nữ hầu cầm kiếm đứng bên trái Parvati. Bên trái người nữ hầu thứ hai là thần Vishnu hai tay cầm bình nước và hai tay còn lại cầm ốc tù và. Một người lùn đứng giữa họ đội một cái khay hay rổ đựng có lẽ là bánh kẹo.

Lưu ý

.Ở đám cưới này có hiện diện hai vị Thần Lửa Agni và Thần Mặt Trời Surya vốn gốc của người Aryans nên Ấn giáo ở đây đã mang mầu sắc của văn hóa Veda.

.Phía tay phải của Shiva là phía dương nên có các thần Lửa Agni, Thần Lửa thái dương Brahma, Thần mặt trời Surya nhánh nọc dương và phía bên trái của Parvati là phía âm nên có thần Vishnu mang tính âm nam đứng cùng hai nữ hầu nhánh nòng âm… đúng theo qui luật nòng nọc (âm dương) của dịch học và ngữ pháp chữ nòng nọc vòng tròn-que.

Shiva và Parvati ngồi bên nhau.

clip_image020Shiva và vợ Parvati (ảnh của tác giả).

Shiva rất dễ nhận diện ra vì có ‘công ngủ’ và có cây đinh ba để ở bên. Lưu ý Parvati đeo bông tai hoa mặt trời 6 cánh mang tính nữ thái dương (số 6 là số Tốn, số lão âm, âm thái dương) dòng nọc Lửa thái dương Shiva.

-/Con Kartikeya

Thần Karikeya với con công ở mặt tường phía đông, là thần chiến tranh là con của Shiva và Parvati, anh của Ganesha. Khuôn mặt thần chiến tranh này có lẽ lấy từ thần chiến tranh của người Aryans.

-/Con Ganesha.

Ở mặt phía nam của tháp có tượng Ganesha:

clip_image022

Lưu ý Kartikeya có một khuôn mặt là thần chiến tranh nên có biểu tượng là chim công mang dương tính, lửa, mặt trời trong khi Ganesha có một khuôn mặt là thần trí tuệ, khoa học và nghệ thuật có đầu voi, một loài thú hiền hòa.

-Các nhóm thần khác.

Ở mặt bắc của tháp có nhóm tượng thần, trong đó có thần thượng thế Indra, thần mặt trời Surya, Diêm Vương Yama, Vishnu….

-Giáo Phái Pashupat: Thần Gậy Lakulisha.

Tổ sư Lakulisha, sáng lập phái khổ hạnh Pasupata thấy có ghi trong chữ viết từ thế kỷ thứ 5 thuộc giáo phái Shiva. Lakulisha có nghĩa là ‘vị thần với cây gậy, cây chùy, cây búa’ tức Thần Gậy có một khuôn mặt là linga diễn tả bằng con công ngủ giống như Shiva:

clip_image024Thần Gậy Lakulisha ở đây có công ngủ ngồi ở tư thế thường tay cầm búa ở dạng nguyên thủy (ảnh của tác giả).

clip_image026Thần Gậy Lakulisha ở đây ngồi ở tư thế yoga tay bắt thủ ấn kiểu giống thủ ấn Chuyển Luân Pháp của Phật Tổ (ảnh của tác giả).

Về sau vị thần này có dáng dấp giống hệt Phật Tổ với thủ ấn Chuyển Luân Pháp như thấy ở Đền Vaital xây vào thế kỷ thứ 8 (xem dưới).

Với sự hiện diện của các vị Thần Gậy này nhiều học giả cho rằng đền này là một trung tâm sớm nhất của giáo phái Pashupat ngành Shiva.

-Tu Sĩ Khổ Hạnh.

Tại đây cũng thấy nhiều hình tượng khổ hạnh gầy trơ xương:

clip_image028Thần nữ khổ hạnh (ảnh của tác giả).

-Thần nữ dòng nòng thái âm.

Đền có nhiều tượng thần nữ Shakta. Đây là đền đầu tiên có tượng Bẩy Thần Nữ Saptamatrikas.

clip_image030Bẩy Thần Nữ (ảnh của tác giả).

Cũng có thần Sông Ganga và Yamuna (một nhánh sông Hằng Ganga).

Dĩ nhiên vị tổ mẫu tối cao Durga (vị thần chính ở Tháp Bà Nha Trang) cũng có mặt:

clip_image032Nữ thần Durga sáu tay (ảnh của tác giả).

(sẽ giải thích rõ ở Đền Vaital Thờ Durga ở dưới).

Các tượng nữ khác rất duyên dáng và còn giữ được vẻ trong trắng. Các thần nữ ở đây có chỗ còn thấy mặc yếm dây che hai đầu ti (núm vú, ti biến âm với Anh ngữ teat) còn giữ đạo hạnh của Ấn giáo lúc khởi đầu.

clip_image034

Các thần nữ mặc yếm dây che hai đầu ti (ảnh của tác giả).

Các vũ nhân nữ, các tiên nữ mây mưa apsara trần truồng với những đường cong tuyệt mỹ đầy gợi cảm:

clip_image036Tiên nữ mây mưa (ảnh của tác giả).

và những cặp tình nhân trần truồng

clip_image038Một cặp tình nhân (ảnh của tác giả).

nhưng chưa có cảnh làm tình kamasutra.

Cảnh Sinh Hoạt Nhân Sinh

Như cảnh hành hương, săn bắn…

Trang Trí.

Các trang trí gồm hoa, quả, chim và thú. Đặc biệt cảnh lũ khỉ đùa chơi…

Dục Tính ở Đền Này.

Ấn giáo theo vũ trụ giáo dựa trên nguyên lý linga-yoni nên có một khuôn mặt sinh tạo, tạo sinh quan trọng ở thế giới thần linh, siêu phàm và ở cả thế giới thế phàm, phàm tục con người. Thánh thần và con người trong việc sinh tạo đều hưởng thụ khoái lạc như nhau (con người là tiểu vũ trụ con của đại vũ trụ tạo hóa, thượng đế). Khởi thủy diễn tả như ở bái giáo, thần giáo thờ linga yoni dạng thiên nhiên, sau tín ngưỡng hóa, thần thánh hóa. Tiếp đến diễn tả bằng các cặp tình nhân nam nữ gọi là mithuna. Rồi đến các cảnh làm tình kamasutra.

Vì vậy qua tính dục ta có thể biết tổng quát về tuổi, thời kỳ của đền, đền xây vào thời nào của Ấn giáo (lúc đầu chỉ thờ linga yoni, rồi có các nữ thần mây mưa diễm tình Apsara, tiếp nữa có thêm các cặp tình nhân mithuna tỏ tình yêu đương với nhau), rồi nữa là cảnh kamasutra. Vào thời Phật giáo ngự trị Ấn giáo tính dục bị loại bỏ hay giảm thiểu tối đa hay diễn tả một cách kín đáo (Phật giáo diệt dục). Các đền chùa Phật theo nguyên tắc không có các cảnh tình dục kamasutra, nếu có là bị ảnh hưởng của Ấn giáo vào thời phục hưng của Ấn giáo. Vào thời Ấn giáo phục hưng tính dục bùng nổ trở lại, khi lên tột đỉnh diễn tả bằng các cảnh kamasutra thác loạn.

Ở đền này tính dục ở mức trung dung cho thấy đền khá cổ (vào thế kỷ thứ 6 thứ 7), Ấn giáo còn gần giáo lý đạo gốc.

Ấn Giáo và Phật Giáo ở Đền Này.

Như đã biết tại Dauli gần Bhubaneswar này là nơi xẩy ra trận chiến tắm máu Kalinga đã khiến Ashoka cải đạo qua Phật giáo và ông lập nên một trung tâm Phật giáo chính ở đây với những Sắc Lệnh Đá Chính tại đây. Ông đã bắt tất cả mọi người trong đế quốc của ông chuyển đạo qua Phật giáo. Vì thế các đền Ấn giáo sớm ở Odisha như ở đền này có khi bị ảnh hưởng của Phật giáo.

Ngoài ra vào thời gian này Bhubaneswar là ngã tư của tư tưởng của các vị trị vì như Shasanka của Ấn giáo và Bhaumakaras của Phật giáo.

Tuy nhiên ở đây yếu tố Phật giáo chưa thấy hiện rõ ngoại trừ một vài tượng Thần Gậy Lakukisha tay có thủ ấn dạng Chuy ển Pháp Luân của Phật Tỏ.

……

Kết luận

Đền này thờ Shiva với khuôn mặt tạo hóa thấy qua hình tháp mang dáng dấp linga cắm trên yoni tròn-vuông, hình Shiva ái nam ái nữ nhất thể dạng Nataraja trong Điệu Nhẩy Vũ Trụ sáng thế….

Đây là một đền làm theo kiến thúc Nagara cổ nhất ở Odisha mang ý nghĩa vũ trụ tạo sinh.

Ấn giáo ở đây mang mầu sắc văn hóa Veda. Tính chất cổ của Ấn giáo thấy rõ qua các điểm sau đây:

-Kiến trúc đầu tiên kiểu Katalinga lúc đầu với tháp đơn ba mặt trang trí.

-Các trang trí lộng lẫy với điêu khắc sớm nhất trong các hình tượng Ấn giáo và cây cỏ muông thú:

.Các tượng nữ rất duyên dáng và còn giữ được vẻ trong trắng.

.Các thần nữ ở đây có chỗ còn thấy mặc yếm dây che hai đầu ti.

.Chưa thấy cảnh làm tình, tình thuật kamasutra.

Càng muộn về sau các tiên nữ mây mưa apsara, các cặp tình nhân mithuna, các thần nữ càng khiêu sợi nhục tình hơn, càng khiêu dâm hơn. Các cảnh làm tình kamasutra càng được diễn tả cuồng bạo, thác loạn hơn.

-Chưa thấy Thần Gậy Lakulisha (vị sư tổ của một giáo phái Shiva) có khuôn mặt giống mặt Phật.

-Chưa thấy cảnh sư tử nằm trên hay vồ voi Phật giáo.

Tất cả cho thấy Ấn giáo còn giữ tính chất lúc khởi đầu.

…..

(còn nữa).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: