ẤN ĐỘ VÒNG ĐAI DUYÊN HẢI (phần 2): ẤN GIÁO VÀ VŨ TRỤ GIÁO (phần A).

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

Lưu ý  phải tuân thủ luật Copyright đã đề viết rành rành ở blog.

ẤN ĐỘ: VÒNG ĐAI DUYÊN HẢI

(phần 2).

ẤN GIÁO VÀ VŨ TRỤ GIÁO.

(phần A)

Nguyễn Xuân Quang.

Lời tác giả.

Để cho chuyến đi Ấn Độ thú vị hơn, hãy tìm hiểu qua về Ấn giáo.

*

Như đã biết nòng nọc (âm dương) là nguyên lý căn bản của vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo và dịch học. Cốt lõi văn hóa hóa của Ấn Độ giáo dựa trên sự thờ phượng nõ linga và nường yoni. Như thế rõ như hai năm là mười vũ trụ giáo có mặt trong Ấn giáo, trong văn hóa Ấn Độ.

Tôi đã viết rất nhiều về vũ trụ giáo trong Ấn giáo như qua các bài Cấu Trúc Đền Khajuraho và Vũ Trụ Giáo, Tháp Champa Việt Nam và Vũ Trụ Giáo, Angkor Wat và Vũ Trụ Giáo… Vì vậy bài viết này tôi chỉ tổng lược lại và dùng hình ảnh thu thập được qua các đền dài, bảo tàng viện trong các chuyến đi thăm Ấn Độ hầu chúng ta thấy tận mắt, sờ tận tay và có thật trăm phần trăm. Các hình ảnh này có độ thuyết phục tối đa cho những gì tôi viết về vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo, dịch học, Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que, Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc Âm Dương Đông Nam Á…

Ấn giáo là di duệ của vũ trụ giáo nhưng được diễn tả rất duy tục (có khi khiến nhiều người cho là tục tĩu), thế phàm, qua các hình tượng nõ nường, hình người làm tình, muông thú rất hiện thực, có thực trong đời sống hàng ngày. Các nhà tư tưởng, các triết gia, các tu sĩ Ấn Độ diễn tả vũ trụ giáo, dịch học rất ‘nõ nường’ nhằm cho đám quần chúng ít học hiểu được triết thuyết vũ trụ tạo sinh như thấy ngay ở thân mình. Đây là một thứ ẩn dụ (metaphor) dùng để thấm nhập vào đầu óc con người. Có khi đây là một thứ chiêu bài, một công cụ của giới tu sĩ Brahmins cố ý biến dân bản địa thành những kẻ ngu đần, mê tín dị đoan, cuồng tín hầu dễ cai trị. Vũ trụ giáo của Ấn giáo qua sự thờ phượng nõ nường, bái vật còn cho thấy rõ sự chuyển tiếp từ tín ngưỡng bái giáo, đa thần giáo nguyên sơ sang vũ trụ giáo và các tôn giáo sau này. Vì vậy hiện nay khuôn mặt vũ trụ giáo trong Ấn giáo bị che lấp bởi những lớp vỏ bọc bái giáo nguyên sơ bên ngoài. Do đó Ấn giáo nhiều khi bị nhiều người hiểu lầm là một thứ bái giáo tà ma, man rợ, kinh tởm như thờ chuột, thờ sâu bọ, thờ nõ, thờ nường…. Những hình tượng nhục tình lõa lồ bị coi như là một thứ khiêu dâm, con heo, tục tĩu.

Các nhà văn hóa Ấn Độ và thế giới hiện nay giải thích Ấn giáo lung tung ví dụ thần Brahma khi thì có 4 đầu, khi thì có ba đầu, khi thì có 5 đầu và đem truyền thuyết không dính dáng gì với nhau ra giải thích khiến không tài nào hiểu nổi. Ấn giáo có tới 330 triệu thánh thần khiến chúng ta đi lạc vào một mê hồn trận, một mê cung với vô vàn thánh thần và quỉ dữ…

Các triết gia, tu sĩ dùng các dạng thể, ảnh tượng dựa vào truyền thuyết nhuốm mầu sắc hoang đường để diễn đạt các chức năng và quyền lực của 330 triệu thần thánh của Ấn giáo.

Tôi sẽ dùng vũ trụ giáo, dịch học dựa trên nguyên lý căn bản nõ linga nường yoni để giải thích Ấn giáo cho có hệ thống, cho dễ hiểu, hiểu thấu đáo và dễ nhớ triết thuyết Ấn giáo.

Ví dụ hãy tìm cách giải thích theo dịch học con số 330 triệu thần thánh này.

Ta thấy rõ con số 330 triệu thần thánh của Ấn giáo quá ư là tròn trịa. Tại sao không là con số lẻ, tại sao không là những con số nào khác? Con số này phải suy tính ra từ một nguồn nào đó? Bắt buộc. Bắt buộc. Và bắt buộc. Con số 3 là con số quan trọng trong vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo, dịch học. Như đã biết tam thế là kết quả của qui trình vũ trụ tạo sinh. Hư vô, lưỡng nghi, tứ tượng sinh ra tam thế, thế giới này. Theo duy dương, nhìn theo ba tiểu thế, ba cõi thế gian, tam thế gồm thượng thế cõi trời gió, trung thế cõi đất và hạ thế cõi nước của ngành nọc dương.

Con số 33 có:

./ 3 – 3 = 0. Số 0 là số Khôn tầng 1. Khôn âm có một khuôn mặt là bầu trời, gió âm. Khôn dương tức bầu trời dương, gió dương ứng với số 3 (Đoài vũ trụ khí gió) (số 3 là số lẻ, số dương).

./3 + 3 = 6. Con số 6 là số Tốn, có một khuôn mặt ứng với cõi đất âm.

./3 x 3 = 9. Số 9 là số Chấn tầng 2 ứng với cõi nước dương.

Điểm này thấy rõ qua truyền thuyết Việt Nam. Ở cõi trời Hùng Lang vũ trụ (bọc hư vô Khôn, bọc trứng vũ trụ, bầu trời sinh tạo thế gian) có một khuôn mặt cõi trời sinh tạo ứng với số 3 (số Đoài IIO vũ trụ khí gió).

Ở cõi đất Nàng Lửa Âu Cơ thuộc ngành nọc lửa Viêm Đế-Đế Minh-Kì Dương Vương có một khuôn mặt đất (dẫn 50 con lên núi, lên non) ứng với số 6 (số Tốn OII có những khuôn mặt là âm O thái dương II, Nàng O Lửa II và âm (O) Lửa II tức âm của dương, thiếu dương, nguyên thể của đất, núi).

Ở cõi nước, Chàng Nước Lạc Long Quân ứng với con số 9 là số Chấn IOO tầng 2 (1, 9).

Theo dịch ta có các ma phương có con số trục là 3, 6, 9 đều có các nhánh cộng lại bằng 18.

clip_image001Ma phương 3/18

[Lưu ý trong ma phương này số 1 còn tương đương với số 10, tức ở dạng nhất thể (Oneness) nòng nọc (âm dương): dương 1 và âm 0].

clip_image003Ma phương 6/18.

[Lưu ý trong ma phương này số 1 còn tương đương với số 10, tức ở dạng nhất thể (Oneness) nòng nọc (âm dương): dương 1 và âm 0].

clip_image005Ma phương 9/18.

Lưu ý.

Số 10 gồm có 1 là dương và 0 là âm. Theo tương hợp, dương và âm có một khuôn mặt nhất thể tức 1 + 0 là 1, ta có 1 = 10. Theo tương phản đối cực thì âm và dương triệt tiêu, số 10 là số bù tức 10 = 0. Như thế số 10 có hai số 1 và 0 có hai khuôn mặt: khuôn mặt nhất thể là 1 và khuôn mặt đối cực nòng nọc (âm dương) là 0 (bù).

Ta cũng thấy theo duy âm số 9 tiến tới số 10 (lúc này bằng 0) là trở về khởi đầu số 0 của các con số âm. Theo duy dương số 9 tiến tới số 10 (lúc này bắng 1) là trở về khởi đầu số 1 của các con số dương.

Ta thấy Hùng Lang vũ trụ ứng với con số 3, nhánh Lửa Đất Hùng Kì (Kì Dương Vương-Âu Cơ) số 6 và nhánh Nước Hùng Lạc Lạc Long Quân số 9 cai trị tam thế và chia ra 18 đời.

Ta cũng thấy ngày giỗ tổ Hùng Vương mồng 10 tháng 3:

Dù ai đi ngược về xuôi,

Nhớ ngày giỗ tổ mồng mười tháng ba.

(ca dao).

đầy ý nghĩa và cũng dựa vào các con số của dịch học. Ngày là mặt trời, dương, một ngày là một mặt trời vì thế số 10 diễn tà ý nghĩa theo duy dương, ngành dương, Lửa tức phía Âu Cơ. Ta lấy nghĩa dương 1 làm tính chủ. Tháng là trăng (một nguyệt là một tháng, một moon là một month) tháng  là âm, vì thế số 3 diễn tà ý nghĩa mang tính chủ theo duy âm, ngành âm, tức phía Lạc Long Quân. Ta lấy nghĩa theo 0. Rõ như ban ngày là ngày 10 tháng 3 ăn khớp với cả hai nhánh mẹ, cha của Hùng Vương, là ngày giỗ Tổ của cả nhánh Hùng Kì (Hùng Âu) và Hùng Lạc, của cả Âu Lạc Việt. Ta thấy con số 10 diễn tả khuôn mặt nhất thể số 1 của bọc Trứng Lang Hùng và 0 là ở cõi tạo hóa là khuôn mặt sinh tạo, đấng tạo là là hư vô . Theo khuôn mặt thế gian là bầu trời, không gian sinh tạo của Tổ Hùng truyền thuyết. Nhìn dưới diện lịch sử số 10 diễn tả triều đại thái tổ gồm hai nhánh nọc dương Hùng Kỳ ứng với số 1, dương lửa, mặt trời  và nhánh Hùng Lạc ứng với số 0, âm, nước, không gian.

Số 3 ở cõi tạo hóa, theo duy dương (nhánh Lang Hùng) là số Đoài vũ trụ khí gió dương ứng với bầu trời, bầu vũ trụ tương đương với bầu vũ trụ, bầu trời 0 theo duy âm.

Tóm lại Hùng Vương lịch sử đội lốt Tổ Hùng truyền thuyết có ít nhất các khuôn mặt chính sau đây:

-Đấng tạo hóa hư vô, ứng với  một khuôn mặt hư vô của con số 0.

-Vũ trụ ứng với khuôn bọc trứng Lang Hùng, với khuôn mặt nhất thể của 1 và số 10.

-Mặt trời. 

Theo duy dương là mặt trời, Hùng Vương là Vua Mặt Trời ứng với số 1 với nghĩa là mặt trời [như thấy qua các từ chỉ mặt trời như Anh ngữ sun, Tây Ban Nha ngữ sol, Pháp ngữ soleil… ruột thịt với Việt ngữ son (một mình) solo, seul, solamente… (một mình)]. Đây là tổ chính của phía Hùng Âu, Hùng Kì.  

-Không gian, bầu vũ trụ, bầu trời.

Theo duy dương là bầu vũ trụ, bầu trời dương, không gian dương, khí gió dương ứng với số 3. Theo duy âm là bầu vũ trụ, bầu trời âm, không gian âm, khí gió âm ứng với  nhửng khuôn mặt của sô 0. Đây là tổ chính của phía Hùng Lạc.  

Vân vân…

Thêm nữa ta có 18 đời Hùng Vương và 15 bộ của Liên Bang Văn Lang. Cộng lại ta có 18 + 15 = 33.  Như thế 18 đời Hùng Vương và 15 bộ cai trị cai quản cả ba cõi thế giới. Nếu con số 18 và 15 này có thực trong thời Hùng Vương lịch sử thì cũng phải hiểu và giải thích theo dịch mới chuẩn được.

Buồn thay hiện nay người Việt không hiểu thấu đáo hết nghĩa của Vua Tổ của mình! Xây đền thờ vái lậy lung tung. Tệ hơn nữa ở Việt Nam hiện nay các nhà làm văn hóa còn ‘xuống cấp’ hiểu Hùng Vương là kẻ đứng đầu một bộ lạc, một tù trưởng. Ôi đất Việt bây giờ chỉ còn là một bộ lạc của Đại Hán!

Ta cũng thấy rõ con số 330 triệu có 33 có ba khuôn mặt: 0, 6, 9 ứng với cõi trời, cõi đất và cõi nước tức tam thế. Còn con số hàng trăm triệu chỉ có một nghĩa đơn giản là ‘rất nhiều như trăm nghìn triệu’. Như thế con số 330 triệu hiểu theo các con số dịch diễn tả các thánh thần ba cõi thế gian nhiều muôn triệu.

Nhờ có truyển thuyết và cổ sử Việt ta hiểu rõ con số 330 triệu thần thánh của Ấn giáo. Điều này cũng dễ hiểu vì Ấn giáo là di duệ của vũ trụ giáo mà cốt lõi văn hóa Việt Nam theo vũ trụ giáo dựa trên nguyên lý nòng nọc (âm dương), Chim-Rắn, Tiên Rồng.

Lưu ý.

Xin lưu tâm là sự giải thích dựa theo vũ trụ giáo của tôi có nghĩa theo triết thuyết vũ trụ tạo sinh có thể khác với các nghĩa hiện nay giải thích theo duy tục, theo giáo lý Ấn giáo, theo cái nhìn vị nhân sinh của Ấn giáo. Các vị thần thường được giải thích có nghĩa là phù hộ, phù trợ, che chở, bảo vệ, may mắn (may là hên và mắn là mắn sinh, đẻ nhiều, sinh xôi nẩy nở), được mùa, sản xuất nhiều, khỏe mạnh, sống lâu, hạnh phúc, trừ tà ma…

Bây giờ ta hãy lướt qua các giai kỳ trong qui trình vũ trụ tạo sinh:

-Hư Vô.

Thượng đế, đấng tạo hóa, thần tổ tối cao của Ấn giáo vô hình, vô tướng.

Khuôn mặt vô hình tướng của đấng tạo hóa tối cao trong Ấn giáo chính là một khuôn mặt của hư vô. Trong vũ trụ giáo, dịch hư vô thoạt đầu được diễn tả bằng vòng tròn đứt đọan vô hình tướng:

clip_image007

(xem Chữ Nòng Nọc vòng tròn-Que: Chữ Nòng O).

Vì thế mà trong Ấn giáo đấng tạo hóa được cho là thần Brahma khi còn ở dạng vô hình tướng thì ứng với hư vô ở dạng vòng tròn đứt đoạn. Sau đó theo tiến hóa hư vô tiến tới dạng định hình là một vòng tròn liền. Lúc này Brahma có biểu tượng là một vòng tròn liền. Rồi vòng tròn liền hư vô cực hóa trở thành lưỡng tính phái: Brahma và vợ Saraswati nhất thể được diễn tả bằng vòng tròn Brahma-Saraswati:

circle brahma

Vòng tròn Brahma (và vợ Saraswati) (nguồn: devdutt pattanaik, myth = mithya).

Như vậy đấng tạo hóa Brahma có một khuôn mặt là hư vô hay sinh ra từ hư vô.

Để dễ hiểu và dễ nhớ cũng cần biết Brahma có nghĩa là gì? Theo các nguồn đáng tin cậy nghĩa của Brahma không biết rõ là gì (The etymology of the Sanskrit word “Brahma” is not certain according to many reliable sources, including Encyclopedia Britannica and Wikipedia). Ta lại phải nhờ tới Việt ngữ.

Brahma có một khuôn mặt chủ là lửa thái dương, Càn như thấy rõ trước mặt Brahma thường diễn tả có ngọn lửa:

clip_image012Khuôn mặt chủ của Brahma là ngọn lửa ở trước mặt (nguồn: devdutt pattanaik, myth = mithya).

Như đã biết, về vật thể Brahma có Brah- biến âm với Việt ngữ bật (làm cho sáng, tỏa sáng như bật lửa, bật đèn, bật sáng. Theo biến âm b=m, bật = mặt, vật sáng như mặt trời, mặt trăng, mặt gương…; theo b = ph ta có brah, bật = Phật, đấng đã en-light-en-ment, có một nghĩa đen là ‘sáng ra’, ‘ngộ ra’, hiện dịch là giác ngộ). Brah- biến âm với Pha(raoh), vua Mặt trời, với Pháp ngữ phare, hải đăng, đèn ‘pha’, Anh ngữ phares, đèn pha. Như vậy Brahma có một khuôn mặt chính là ánh sáng, lửa, mặt trời tạo hóa, đấng tạo hóa mang tính nọc, lửa.

Còn vợ là Saraswati có Saras- là nước biến âm với Việt ngữ sả, xả (sối sả, xả nước), cây sả (là cây nấu làm trà nước, tắm gội), chim sả (chim trả) là chim bói cá….

clip_image014(nguồn: devdutt pattanaik, myth = mithya).

Ta thấy rất rõ khuôn mặt nước của Saraswati qua tay cầm hoa sen, một loài hoa nước và cưỡi con ngỗng, một loài chim nước.

Như thế Brahma là nọc, lửa, mặt trời và Saraswati là nòng, nước, không gian. Gộp lại Brahma-Sarawati là mặt trời-không gian, vũ trụ tức đấng tạo hóa ở dạng lưỡng tính phái. Vì thế mặt trời Brahma có một khuôn mặt là đĩa mặt trời nguyên tạo và vòng tròn Saraswati là bọc tròn không gian.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt (có cốt lõi văn hóa là Chim-Rắn, Tiên Rồng, vũ trụ giáo), Brahma đấng tạo hóa của tam thế. Ở thượng thế Brahma tạo hóa tương ứng với Viêm Đế (lửa thái dương, Càn), Saraswati ứng với Thần Nông nữ, Nước thái âm Khôn (có chim biểu là chim Nông, loài chim nước, Hán Việt là Đường Nga cùng loài với nga-ngỗng trời, thiên nga của Saraswati). Ở trung thế, cõi sinh tạo thế gian, Brahma thế gian ứng với Đế Minh (cháu ba đời Viêm Đế) và Saraswati thế gian ứng với Vụ Tiên (có một nghĩa là con vịt trời Le Le, một loài chim nước cùng loài ngỗng trời Thần Nông nữ, Saraswati), đội lốt Thần Nông nữ.

Như thế Đấng Tạo Hóa trong Ấn giáo cũng giống như Đấng Tạo Hóa trong Vũ Trụ Giáo có một khuôn mặt là hư vô. Con người sinh ra từ hư vô và khi chết trở về với hư vô có một khuôn mặt là thượng đế (vô hình tướng).

Cũng nên biết Brahma thường được coi là một thứ Deus otiosus (‘idle god’), một vị thần sau khi sanh các vị thần con sáng thế rồi thì về hưu không còn màng tới việc cai quản, điều hành việc thế giới nũa. Vì vậy Brahma thường chỉ được coi là một biểu trưng, ít được thờ phượng hơn hai vị thần con là Vishnu và Shiva. Do đó

Vishnu và Shiva nhiều khi được cho là đấng tạo hóa thay cho Brahma.

Vì sự cạnh tranh của từng giáo phái các tín đồ ở mỗi giáo phái đều cho thần tổ của mình hơn thần tổ của giáo phái khác. Ở phái thờ Vishnu thì cho Vishnu là thượng đế tối cao tối thượng. Ngược lại ở giáo phái Shiva thì Shiva là thượng đế.

Vì thế phải lưu tâm là khi vào một đền thờ Vishnu chẳng hạn ta thấy Vishnu đẻ ra Brahma.

clip_image016Vishnu sinh ra Brahma ngồi trên hoa sen có cuống hoa là cuống nhau (ảnh của tác giả chụp tại Hang Động Ellora, Aurangabad).

Thay vì theo chính thống phải theo thứ tự là Brahma sinh ra Vishnu rồi Shiva (theo duy âm) hay sinh ra Shiva rồi Vishnu (theo duy dương).  Trong giáo phái Shiva thì Shiva là đấng tạo hóa

tối cao. Ví dụ Shiva có thể chặt một đầu của Brahma (cho nên Brahma chỉ còn có ba đầu thay vì bốn đầu như thường lệ). Shiva có một khuôn mặt là hư vô-đấng tạo hóa. Ngược lại trong giáo

phái Vishnu thì Vishnu là đấng tạo hóa tối cao, có một khuôn mặt là hư vô-đấng tạo hóa.

Vì vậy ta phải nhìn và hiểu vũ trụ giáo trong Ấn giáo theo từng giáo phái.

Thái cực.

.Như vừa thấy ở trên, vòng tròn liền nét hư vô tạo hóa một khi đã gọi là vòng tròn Brahma và Saraswati thì nếu nhìn dưới dạng nhất thể, ta có có một khuôn mặt thái cực.

Vì thế mà thần Brahma có một khuôn mặt lưỡng tính phái nhất thể, bán nam bán nữ ứng với thái cực. Tương tự như vậy trong các vị thần tổ sinh tạo của từng nhánh, từng giáo phái cũng có một khuôn mặt lưỡng tính phái. Ví dụ Shiva, Vishnu nhìn dưới dạng nhất thể cũng có một khuôn mặt lưỡng tính phái ứng với thái cực của những ngành, phái liên hệ.

Ở trong cùng một ngành thì thường dưới dạng lưỡng tính phái nam nữ hay có khi ở dưới dạng nhất thể chồng vợ như Shiva-Parvati, Vishnu-Lakshmi diễn tả bằng hình tượng bán nam bán nữ Shiva-Parvati, Vishnu-Lakshmi. Ví dụ

Ở riêng trong ngành nọc dương lửa, Shiva ở dạng nhất thể bán nam-bán nữ Ardhanareswara (Ardha– là dương, cha, biến âm với Việt ngữ cổ áng là cha; nar biến âm với Việt ngữ , nạ là mẹ tức âm, nòng, nữ và eswarar là thần, Chúa tể), thần bán nam- bán nữ:

clip_image018Thần Shiva ở dạng bán nam bán nữ (nguồn: Devdutt Pattanaik, Myth = Mithya).

Còn ở hai ngành riêng biệt thì Shiva và Vishnu ở dạng nhất thể của hai ngành nòng nọc (âm dương) ở dạng thần Hari-Hara:

clip_image020Thần Hari-Hara bán Shiva-bán Vishnu (nguồn: Devdutt Pattanaik, Myth = Mithya).

Hari ứng với Vishnu và Hara ứng với Shiva.

Lưu ý.

Theo duy dương thì Vishnu là đàn ông, Hari-Hara là dạng nhất thể bán nam (dòng nọc dương)-bán nam (dòng nòng âm), ta có lưỡng tính phái đồng tính phái nam, đàn ông với đàn ông. Theo duy âm thì Vishnu có một khuôn mặt nữ, Hari-Hari là dạng nhất thể bán nam-bán nữ lưỡng tính phái nam nữ. Cần phải lưu tâm điểm này và ghi tâm là Vishnu cũng có một khuôn mặt nữ.

.Dạng nhất thể, thái cực thấy qua linga lưỡng tính phái.

Trong ngành nọc dương, nhìn dưới dạng nhất thể linga có một khuôn mặt thái cực như thấy qua linga lưỡng tính phái sinh ra Shiva:

clip_image022Shiva sinh ra từ một linga lưỡng tính phái có một khuôn mặt nhất thể, thái cực ở Hang Động Ellora, Aurangabad, Hang 16.

Linga này có hình con thoi đứng (hình hạt hạnh nhân) ở thân linga diễn tả yoni. Xin nhắc lại hình con thoi đứng (Hình hạt hạnh nhân) có một khuôn mặt biểu tượng cho yoni:

clip_image023

Linga có lỗ hình con thoi hạt hạnh nhân yoni ở dạng lưỡng tính phái nhìn dưới dạng nhất thể thái cực sinh ra Shiva (Ý Nghĩa Nõ Linga Trong Ấn Giáo).

.Tất cả nõ linga cắm trên yoni nhìn dưới dạng nhất thể cũng có một khuôn mặt thái cực.

.Đền Vũ Trụ.

Đền Lingaraj ở Bhubaneswar được xây vào thế kỷ 11 Sau Dương Lịch thờ ‘Vua’ Shiva’ (nhìn tên Lingaraj có Linga và raj là vua là biết ngay thờ “Vua’ Shiva). Đền là một quần thể lớn nhất trong thành phố.

clip_image025 Đền Vũ Trụ.

clip_image027Tháp chính có dạng dương vật (người ngoại đạo Ấn giáo không được phép vào trong đền chỉ được đứng trên một dàn cao ở bên ngoài nhìn vào và chụp ảnh).

Khi đền sắp xây xong, văn hóa Jagannath bắt đầu phát triển ở Odisha. Vì vậy vị thần chủ trì ở đây là Shiva và Vishnu ở dạng nhất thể của hai ngành nòng nọc (âm dương), ở dạng thần Hari-Hara như đã nói ở trên. Do đó thay vì chỉ thờ Shiva như tên gọi mà thôi, sau này lại thờ cả hai Shiva và Vishnu. Đền có tháp lớn thờ Shiva nhánh nọc dương hình linga trên đỉnh có cắm chiếc đinh ba, biểu tượng của Shiva.

Tháp phụ nhỏ, thấp hơn thờ Vishnu phía nòng âm.

clip_image029Tháp phụ trên chỏm có cắm nọc hình trái tim hay lá đa biểu tượng của nhánh nọc âm thái dương (ảnh của tác giả).

Theo duy dương của nhánh nòng âm là nọc âm thái dương, Vishnu có khuôn mặt âm nam thái dương thì chỏm tháp nhìn theo dương là hình trái tim. Theo duy âm Visnu có khuôn mặt nữ thì hình này là hình lá đa. Hình này là một từ nòng nọc vòng tròn-que do hai chữ nòng OO chập lại, nhọn đầu mang dương tính tức nọc âm thái dương (Chữ Nòng Nọc vòng tròn-Que: Từ Hai Nòng OO).

…..

Vì thế khi thờ cả hai vị tức dưới khuôn mặt trời vũ trụ thì trên chóp đền chính có hình mặt trời sinh tạo 8 nọc tia sáng nằm trong vòng tròn không gian diễn tả vũ trụ.

clip_image031Chóp tháp hình mặt trời-không gian, vũ trụ (ảnh của tác giả) (lưu ý có hai người đang treo cờ phướn sửa soạn cho buổi lễ).

Nhìn chóp này là biết ngay đền là đền vũ trụ. Như đã biết, trong khi chóp đền Shiva có cây đinh ba diễn tả quẻ Càn, lửa thái dương có một khuôn mặt ứng với mặt trời. Chóp đền Vishnu có hình trái tim hay lá đa hoặc hình cái bầu diễn tả khuôn mặt nọc thái âm.

Lưu ý.

Xin đừng hiểu nhầm hình đĩa tròn trong có mặt trời sinh tạo 8 nọc tia sáng mang hình ảnh không gian đĩa tròn-mặt trời có một khuôn mặt là vũ trụ thấy ở các đền thờ vũ trụ của Ấn giáo (Đền thờ này thờ cả Vishnu nòng âm Vũ không gian và Shiva nọc, dương, Trụ mặt trời) với Bánh Xe Pháp của Phật giáo. Bánh xe Pháp nhìn theo vũ trụ giáo cũng có một khuôn mặt là mặt trời sinh tạo 8 nọc tia sáng Trụ nằm tròn vòng tròn không gian hình đĩa Vũ (Phật Tổ‘ quay cả vũ trụ’ khi giảng Pháp). Các hình đĩa vũ trụ ở các đền Ấn giáo không phải là bánh xe Pháp có một khuôn mặt vũ trụ của nhà Phật.

.Ngày nay linga-yoni nhất thể được diễn tả trần truồng hơn:

clip_image032Linga lưỡng tính phái (nguồn: pinterest.com).

-Lưỡng nghi.

Cực dương

.Shiva với khuôn mặt biểu tượng linga có một khuôn mặt biểu tượng cho cực dương.

.Nõ linga riêng rẽ không có yoni mang tính thuần dương có một khuôn mặt biểu tượng cho cực dương.

clip_image034Một linga đứng riêng rẽ có một khuôn mặt biểu tượng cho cực dương (ảnh của tác giả chụp ở thánh địa Mỹ Sơn Việt Nam).

Xin nhắc lại Tháp Champa Việt Nam thuộc nhánh nọc dương thờ Shiva nên các tháp phần lớn có kiến trúc hình linga hay hình trụ có nóc hình núi vũ trụ Meru dạng kim tự tháp.

Cực âm.

Cực âm có hai khuôn mặt:

-/Âm nữ.

.Yoni riêng rẽ có một khuôn mặt biểu tượng cho cực âm nữ, ngành nữ.

.Đền thờ Yogini ở Bhubaneswar, Ấn Độ.

clip_image036

Đền làm theo hình yoni, lộ thiên không có mái.

Đền hình nường yoni đối ứng với đền hình nõ linga dưới dạng lưỡng cực, nòng nọc (âm dương), nường nõ đề huề. Đền thờ nường này biểu tượng cực âm, nữ (sẽ có bài viết riêng Đền Nường Yogini).

.Lưỡng cực nòng nọc (âm dương) đi cặp đôi với nhau.

Một cấu trúc như là hồ nước ở sân Đền Bờ Biển ở tiểu bang Tamil Nadu cũng có hình linga cặp đôi với yoni nhưng đứng riêng biệt diễn tả hai cực, lưỡng nghi mang tính lưỡng hợp:

clip_image038Linga cặp đôi với yoni nhưng đứng riêng biệt (ảnh của tác giả).

Đây là một đền mang tính lưỡng hợp nòng nọc (âm dương) ngành nọc âm thái dương hay nòng âm thái dương (xem bài viết chi tiết ở Tiểu Bang Tamil Nadu).

-/Âm nam

.Vishnu với khuôn mặt nam.

Vishnu với khuôn mặt âm nam có một khuôn mặt biểu tượng cho cực dương phía nọc âm.

.Đền Varadaraja Perumal.

Đền này ở tiểu bang Tamil Nadu thờ Vishnu xây vào thế kỷ thứ 12.

Đây là một trong bẩy thánh địa hành hương của giáo phái Vishu với các đền đài thờ Vishu nổi tiếng.

clip_image040Đền sơn mầu trắng mang âm tính. Nóc hình ống mang âm tính. Tháp cổng torana hình tam thế có chỏm tháp hình vòm mang âm tính (ảnh của tác giả).

Đền có một bệ thờ, một tuyệt phẩm điêu khắc đá trên lưng một con rùa (rùa là một hóa thân của Vishnu).

clip_image042

Bệ thờ con rùa, một hóa thân của Vishnu (ảnh của tác giả).

Lưu ý: thấy một ngôi đền có hình con rùa, con cá, cá sấu, heo rừng, chim garuda… là biết ngay đền thờ đó thờ Vishnu.

.Angkor Wat.

Angkor Wat là đền thờ Vishnu.

clip_image043 

Đền làm theo kiến trúc Núi Meru nhưng có tháp thuôn tròn hình búp sen hay bắp ngô của kiến trúc Nagara mang âm tính (thay vì hình núi Meru hình kim tự tháp của Shiva), có hào nước bao quanh mang âm tính, ngay cổng lối vào có con rắn naga, một hóa thân của Vishnu…. (xem Angkor Wat và Vũ Trụ Giáo).

Dạng liên hợp.

.Đền Meenakshi Amman.

ở Madurai còn gọi là đền Meenakshi-Sundareshwara dâng cúng cho thần nữ Meenakshi, một dạng Parvati và chồng là Sundareswar, một dạng Shiva. Đây là một quần thể đền lớn nhất Ấn Độ.

Đây là ngôi đền sinh đôi với hai ngôi tháp bằng nhau. Ngôi ở phía nam dâng cúng cho thần nữ Meenakshi/Parvati và ngôi đền kia cho Chúa Sundareswarar/Shiva.

Đền này ở dạng lưỡng cực nòng nọc (âm dương), vợ chồng: nòng âm nữ Meenashi (một khuôn mặt Parvati, vợ Shiva) và nọc dương nam Sundareswar, một dạng Shiva, chồng.

clip_image045

Ở đây khuôn mặt nữ mang tính trội tức phía nòng âm nữ.

-Tứ tượng

a. Tứ tượng chung.

.Đền Pancha Rathas: Năm Cỗ Xe Ngựa

(Rathas là xe ngựa, pancha là 5).

Đền ở tỉnh Mamallapuram, tiểu bang Tamil Nadu, tạc từ các khối đá tảng khổng lồ.

clip_image047

Đền Pancha Rathas (ảnh của tác giả).

Tên thật là Pancha Pandara Rathas. Đền năm tảng đá này chạm theo dạng đoàn xe ngựa rước lễ được đặt tên theo các anh em nhà Pandava, những anh hùng trong hùng sử thi Mahabharatha Ấn Độ.

Đền nổi tiếng về các đường nét khắc chạm uốn lượn và mang nét đặc thù kiến trúc Nam Ấn Độ (mái đền hình ống). Nhìn dưới lăng kính vũ trụ giáo, năm đền có cấu trúc xây theo tứ tượng và núi vũ trụ:

1. Đền biểu tượng tượng thái âm Nước.

clip_image049Đền biểu tượng tượng thái âm, Nước.

Đền ‘cỗ xe’ mái vòm này không trang trí nhiều với hai tiên nữ mây mưa đẹp tuyệt trần cho thấy đền này mang nhiều âm tính, nữ thái âm (hai tiên nữ là hai nường, hai âm, thái âm).

Đền này biểu tượng tượng thái âm, Nước.

2. Đền biểu tượng tượng thái dương, Lửa.

clip_image051Đền biểu tượng tượng thái dương, Lửa (ảnh của tác giả).

Đền có mái kim tự tháp, trang trí tỉ mỉ, mặt tiền có cột (không có tiên nữ mây mưa) mang nhiều dương tính, thái dương (hai cột là hai cọc, hai cược, hai dương, thái dương).

3. Đền biểu tượng tượng thiếu âm Gió.

clip_image053Đền biểu tượng tượng thiếu âm Gió (ảnh của tác giả).

Đền có mái kim tự tháp mang dương tính thái dương nhưng nóc mái hình vòm mang âm tính. Thái dương II của âm O là quẻ Đoài vũ trụ khí gió IIO, tức dương của âm, thiếu âm.

4. Đền biểu tượng tượng thiếu dương, Đất.

clip_image055Đền biểu tượng tượng thiếu dương, Đất (ảnh của tác giả).

Đền có mái nọc que nằm ngang và các vòng cung mang âm tính tức âm của dương tức thiếu âm, nguyên thể của đất (cõi đất bằng thế gian).

Bốn đền này diễn tả tứ tượng.

Còn lại đền thứ 5 biểu tượng núi trụ thế gian tức tam thế, cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) (xem dưới). Tứ tượng dương và tứ tượng âm liên tác sinh ra thế giới, tam thế biểu tượng bằng cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) (xem dưới ở phần tam thế).

.Tượng người hai đầu bốn thân.

Ngoài ra còn cócác hình tượng khác, thường được cho là diễn tả đời sống thường nhật hay dùng để trang trí nhưng thật ra cũng chuyên chở ý nghĩa vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo, dịch học. Ví dụ như tượng hai người hai đầu bốn thân ở đền Mukteshvara, tiểu bang Odisha, Ấn Độ.

clip_image057

Tượng hai người hai đầu bốn thân ở đền Mukteshvara, tiểu bang Odisha (ảnh của tác giả).

Một đầu quay về phía phải, dương, một đầu quay về phía trái, âm và nằm trong một hình vuông có một khuôn mặt biểu tượng cho tứ phương, tứ tượng, có thể xem như là có một khuôn mặt diễn tả lưỡng nghi sinh ra tứ tượng.

Bốn thân là tứ tượng. Tám chân ứng với tám quẻ, bát quái.

2. Tứ tượng riêng trong những ngành, nhánh, đại tộc.

.Tứ tượng thấy ở các vị thần chính của Ấn giáo như:

-Brahma

Như đã nói ở trên, Brahma thường có 4 mặt nhìn ra bốn phương. Theo truyền thuyết Ấn giáo Brahma có 4 mặt là để theo dõi con gái vì mê sắc đẹp của con gái!

Lưu ý.

Trong vũ trụ giáo thoạt khởi thủy cha con, anh chị em đều sinh ra từ một trứng vũ trụ, chưa có người nào khác nên cha con, anh chị em mê nhau, lấy nhau là chuyện dĩ nhiên. Vì thế trong truyền thuyết của nhiều dân tộc cha con, anh chị em ruột lấy nhau. Nên Brahma mê con gái là chuyện tất nhiên.

Nhìn theo lăng kính vũ trụ tạo sinh thì bốn mặt này ứng với tứ tượng. Tứ tượng này thấy rõ qua bốn tay của Brahma. Bên phải là phía dương (dương của dương là thái dương và âm của dương là thiếu dương): tay phải dưới cầm đuốc lửa diễn tả lửa thái dương ứng với tượng Lửa thái dương. Tay phải trên cầm nọc nhọn hình kim dương có đầu tròn mang âm tính. Trong có lỗ tròn là dấu nòng âm. Âm của dương là thiếu dương, nguyên thể của núi, đất. Tay phải trên diễn tả đất thiếu dương ứng với tượng Đất thiếu dương. Phía bên trái là phía âm (âm của âm là thái âm và dương của âm là thiếu âm).

Tay trái dưới cầm chuỗi hạt vòng tròn. Vòng tròn là nòng O, các hạt tròn là nọc dương (ứng với dấu nọc chấm đặc). Nòng dương diễn tả thiếu âm gió ứng với tượng Gió. Tay trái trên cầm cái ấm diễn tả nước thái âm. Ấm có vòi mang dương tính (cậu ấm). Ấm ứng với Nước thái âm mang tính dương lửa, ngành lửa thái dương Brahma.

Hai bên tay diễn tả lưỡng nghi (phía phải nọc dương, cực dương, phía trái nòng âm, cực âm), bốn tay ứng với tứ tượng.

Như đã nói ở trên, Brahma thường được diễn tả ở trước mặt có ngọn lửa. Đây là khuôn mặt chủ lửa thái dương Càn của Brahma.

Như vậy Brahma có một khuôn mặt vô hình tướng là hư vô, nhất thể thái cực (Vòng tròn Brahma và Saraswati), chuyển qua dương có khuôn mặt chủ là lửa tạo hóa, vũ trụ; lưỡng nghi (Brahma và Saraswati là vợ chồng, hai cá thể riêng rẽ) và tứ tượng (bốn mặt, bốn tay). Rõ như ban ngày Brahma là đấng tạo hóa trong vũ trụ giáo.

-Vishnu.

Vishnu thuộc phía nòng, âm có bốn tay ứng với tứ tượng mang âm tính.

clip_image059(nguồn: Devdutt Pattanaik, Myth = Mithya).

Phía dương bên phải: tay phải trên cầm đĩa khí giới hình ngôi sao là lửa đêm ứng với tượng lửa âm. Tay phải dưới cầm hoa sen, loài hoa mọc dưới nước ứng với tượng nước âm. Phía trái âm: tay trái trên cầm còi tù và ứng với gió âm và tay trái dưới cầm chùy hình con vụ chóp tròn ứng với tượng đất âm.

Bốn tay có một khuôn mặt diễn tả tứ tượng của phía nòng, âm.

-Shiva

Tứ tượng thấy rõ nhất ở Shiva dưới khuôn mặt thần Nhẩy Múa Nataraja trong Vũ Điệu Vũ Trụ (Cosmic Dance).

clip_image061Hình chụp tại Art Gallery ở Cung Điện Maratha, Thanjavur, tiểu bang Tamil Nadu.

.Vòng lửa ứng với lửa vũ trụ Càn.

.Tóc buông chẩy trong gió diễn tả nữ thần sông Ganga (Shiva là người giúp thần sông Hằng xuống cõi thế gian) ứng với Nước vũ trụ Khôn.

Lưỡng nghi Lửa Nước, nòng nọc (âm dương), càn khôn sinh ra tứ tượng diễn tả ở 4 tay thần Nataraja/Shiva:

.Tay trái đưa lên cầm ngọn lửa ứng với tượng Lửa.

.Tay trái chỉ xuống đất ứng với tượng Đất.

.Tay phải cầm trống có một khuôn mặt gió (trống không) ứng với tượng Gió.

Lưu ý.

Ở đây Gió được biểu tượng bằng trống là gió mang tính dương, gió dông vì Shiva mang tính nọc dương. Trống có một nghĩa là đực (gà trống). Ông Dóng Phù Đổng Thiên Vương có một khuôn mặt là thần sấm dông gió. Ông Dóng là ông Dóng Trống có một khuôn mặt là thần sấm. Trong khi ở Vishnu mang tính nòng, âm nên gió là gió âm được biểu tượng bằng ốc tù và. Ốc sống dưới nước, sò ốc có một khuôn mặt biểu tượng cho bộ phận sinh dục nữ nên mang âm tính.

Ta thấy rõ Ấn giáo có một khuôn mặt vũ trụ giáo nên các chi tiết được diễn tả đúng theo qui luật nòng nọc (âm dương).

.Tay phải quấn con rắn ứng với tượng Nước.

Bốn tay ứng với tứ tượng. Điệu nhẩy có một khuôn mặt diễn tả vũ trụ tạo sinh .Vì thế mới gọi là Điệu Nhẩy Vũ Trụ.

Dĩ nhiên trong Ấn giáo điệu nhẩy này được giải thích với nghĩa khác theo giáo lý của Ấn giáo, theo nghĩa vị nhân sinh…

……

(còn nữa).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: