TÊN NÔM NA MÁCH QUÉ CỦA 12 CON GIÁP: TUẤT LÀ TU, LÀ TÚI, LÀ TẤC.

TUẤT LÀ TU, LÀ TÚI, LÀ TẤC.

TÊN NÔM NA MÁCH QUÉ CỦA 12 CON GIÁP.

Nguyễn Xuân Quang

Trước thềm năm mới xin gởi tấm Thiệp Xuân Sói Lang Trời Đông Sơn, Thú Biểu Của Hùng Vương.

CHÚC MỪNG XUÂN MẬU TUẤT 2018.

Cầu Chúc Quí Độc Giả và Thân Hữu Một Năm Mậu Tuất AN VUI.clip_image002Hình sói lang trời trên trống Miếu Môn I.

Nguyễn Xuân Quang

*              *

*

Xuân lại về, chúng ta lại tìm hiểu tên con Tuất của năm Mậu Tuất năm nay. Trong các bài viết trước đây, chúng ta đã biết tên 12 con giáp không phải là do người Trung Hoa phát kiến ra. Chúng ta là Việt Mặt Trời Rạng Ngời, có một nền văn minh Hừng Việt chói chang, dựa trên nòng nọc, âm dương, Chim-Rắn, Tiên Rồng, Việt Dịch Nòng Nọc, thờ Vũ Trụ, thờ Mặt Trời còn ghi khắc lại trong sử đồng Đông Sơn, có nền văn minh sông biển giỏi về thủy vận nên rất rành về niên lịch, năm tháng, thiên văn. Cổ sử đã ghi Việt Thường đã có Việt Dịch nòng nọc ghi trên lưng rùa về thời Đạo Đường, vua nhà Chu sai chép lại gọi là lịch rùa. Vì thế người Việt cổ có niên lịch, năm tháng mang tên bằng tiếng Việt là một chuyện có thật. Thật vậy, tác giả Bùi Huy Hồng trong bài “Mấy Nét Về Thiên Văn Học Thời Hùng Vương” đã viết “Ở Cam-pu-chia còn lưu lại đến ngày nay một cuốn lịch cổ nhất là lịch Bầu Ràn (634 AD) dùng 12 tên con giống tiếng Việt và tiếng Mường…” (Hùng Vương Dựng Nước, 1972, t. III, tr. 299).

Nếu tên 12 con giáp này của Việt Nam thì chúng bắt buộc phải có nghĩa thuần Việt, nghĩa là phải hiểu theo kiểu nôm na mách qué của những người Việt dân dã chứ không phải hiểu theo nghĩa bác học. Để chứng minh tên của 12 con giáp đều là tên thuần Việt, có nguồn gốc Việt Nam, ta không phải chỉ dựa vào Hán ngữ, mà ta phải dựa vào tất cả ngôn ngữ loài người trong đó có Ấn-Âu ngữ (Anh, Pháp ngữ…) vốn ruột thịt với các từ thuần Việt.

Qua các bài viết vào những mùa xuân trước đây, chúng ta đã biết:

.Hợi là con heo, lợn

Hợi, heo là con hoi, con oi; lợn là con lờn. Việt ngữ lợn biến âm với lờn, nhờn liên hệ với nhớt, dầu, mỡ. Thái ngữ con heo là con moo tức con mỡ (mập như heo).

Hợi là con heo, con hoi, con huile, con oi, con oil, là con lợn, con lờn, con nhờn…

.là con chuột.

Tí là tí ti, nhỏ, bé, lắt, nhắt, Tí là con bé tí, con tí, con chút, con chuột, con lắt. Con tí là con tiny… (theo r=l, con lắt = con rat). Mường ngữ rề là con chuột = Anh ngữ rat, chuột, Rề = lẻ, lẽ (tiền lẻ là tiền nhỏ; vợ lẽ là vợ bé, vợ nhỏ).

.Sửu là con trâu.

Sửu liên hệ với Việt ngữ sẩu là sừng (xin khúc đầu những xương cùng sẩu…), sậu (cứng), cứng liên hệ với sừng (c=s). Con trâu là con châu, con sẩu, sậu, con sừng (ch =s như chữa = sửa). Trâu là con có sừng ở đầm ao nước.

Con trâu là con châu con câu con cow (nghĩa lệch) giống như buffalo (trâu) có bu- = bò.

Sửu, trâu là con sẩu, con sậu, con sừng.

.Dần là con cọp.

Dần biến âm với dằn, vằn. Con Dần là con dằn, con vằn. Con cọp có lông vằn. Tôm vằn gọi là tôm cọp… Tiger (/taigơ/) có ti- (/tai/) biến âm với “tie” (/tai/) (dải, đai, cà vạt) liên hệ với Việt ngữ tau, tao (dải, dây, tua), đai (dải dây cột), Pháp ngữ tigre có ti- biến âm với ty, tơ (dải dây)… Tiger, tigre là con dây, con vằn, con dần.

.Mão, mẹo là mèo.

Mão, mẹo biến âm với Việt ngữ mấu, bấu, vấu, với Anh ngữ maul (cào xé bằng móng vuốt). Con mão, con mẹo, con mèo là con mấu, con maul, con cấu, con quào:

        Tuổi mẹo là con mèo ngao,

        Hay cấu hay quào, ăn vụng quá tinh

(vè)

Con mão là con mấu, con mâu, con maul…

.Thìn:

Thìn biến âm với thắn, Mường ngữ có nghĩa là con rắn, với thận (con rắn nước lớn, con trăn nước anaconda). Con Thìn là con thắn (rắn), con thận là con rắn nước lớn, con trăn nước (anaconda), con thằn (có gốc thằn lằn, cá sấu), thìu (rắn nước), con thuồng (luồng)…

.Tỵ

Tỵ là con ty, con tơ, con tie/tai/ (Anh ngữ), con dải, con rắn.

.Ngọ

Con ngọ là con nguậy, con chậy.

.Mùi

Con Mùi là con Mũi nhọn, sừng nhọn. Con Mùi là con có sừng nhọn, mũi nhọn. Mũi nhọn là một tính đặc thù của Mùi Dê. Tên của Mùi phải được đặt theo đặc tính của con vật và phải có nghĩa nôm na và phát từ một gốc nôm na. Con Mùì là con Sừng Nhọn, Cọc Nhọn là con Cược, Con Cặc, con Mùi là con Bùi, con Bòi, con Buồi… mang tính sinh tạo, mắn sinh.

.Thân

Thân là Vóc (ăn vóc học hay), là Vọc (khỉ), là dộc (khỉ).

.Dậu

Dậu là con Diều (loài chim).

Bây giờ ta đi tìm nguồn cội nôm na của Tuất.

Tuất là chi thứ 11 trong 12 địa chi chỉ năm Chó.

.TUẤT

 -Tuất Không Có Nguồn Gốc Từ Hán Ngữ.

Tác giả nguyễn Cung Thông trong bài viết Nguồn gốc tên gọi 12 con giáp – Tuất *swot chó (phần 12A) đã thâm cứu rất công phu, so sánh từ Tuất với Hán ngữ và kết luận là «Tóm lại, Tuất trong cách gọi năm Tuất (12 con giáp) không có liên hệ nào tới loài chó hay cách gọi chó trong tiếng Hán như khuyển, cẩu, sử/sứ, li, lang, ngao, ngan … Tên gọi Tuất (qua một dạng âm cổ phục nguyên *swot đề nghị trong bài này) liên hệ đến chó có khả năng đến từ phương Nam, như từ ngữ hệ Mon-Khme mà tiếng Việt cổ là một thành viên quan trọng ».

-Tuất Có Nguồn Gốc Thuần Việt.

Theo trên, Tuất không liên hệ với chữ Hán và liên hệ với ngữ hệ Môn-Khme thì Tuất phải liên hệ với một từ thuần Việt.

Ngoài ra trong loạt bài tôi viết về Tên Nôm Na Mách Qué Của 12 Con Giáp, ta đã thấy 11 con có tên đã ruột thịt với tiếng thuần Việt rồi như thế còn lại con Tuất hiển nhiên cũng vậy.

Bây giờ ta thử truy tìm xem Tuất liên hệ với từ thuần Việt nào và có những nguồn gốc với những nghĩa chính là gì qua các từ chỉ Chó trong Việt ngữ.

Như đã biết người xưa gọi tên, đặt tên thú vật dựa theo các nét đặc thù về thể chất như con Dần là con Dằn, con Vằn hay theo các nét đặc thù về sinh học như con cọp là con chộp (mồi), con mão là con mấu (có móng sắc) có tính hay cào hay mấu và maul (cấu xé con mồi để ăn thịt).

Con Tuất cũng vậy.

A. Tên Gọi Theo Ý Nghĩa Sinh Học.

Tên chó gọi theo sinh học là gọi theo tiếng tru, tiếng hú của chó. Sói, lang có tính đặc thù là tru, hú là thủy tổ của chó nhà hiện nay thường chỉ sủa, ngoại trừ một vài giống chó nhà còn biết tru, biết hú. Ở cổ sói, lang có cái nang, cái bọc tạo ra tiếng tru, tiếng hú (xem dưới).

1. Cóo.

Mường ngữ cóo là chó.

Đây là dạng cổ của chó. OO có một khuôn mặt là O dài = U như Anh ngữ moon phát âm /mun/. Ta có Cóo = cú. Cú ruột thịt với cổ ngữ Ái Nhĩ Lan (hound, wolf) (xem dưới).

Theo c= h (cùi = hủi), ta có cú = hú. Hú = howl, phát âm là /hao/ = Anh ngữ hound, chó như greyhound, phát âm là /hao/. Đức ngữ hund, chó có hu- = hú. Tiền-Germanic hundas, gốc tái tạo Ấn Âu ngữ *kuon, kun-, PIE * kuntos, *kwon-, chó và Nostratic *k’üjna, wolf có hu, ku- = cú = cóo, chó.

Con chó, con cóo, con cú, con ku- có một khuôn mặt là con hú, con chú, con chu, con tru.

2. Cún.

Cổ ngữ Việt cún là con chó con. Trẻ con vùng quê Miền Bắc thường đặt tên là thằng Cún. Cún có gốc Cú-, đã nói ở trên.

3. Cầy.

Việt ngữ cầy chỉ chó, chồn. Cầy tơ nói lái lại là cờ Tây. Cầy biến âm với cây vì thế con cầy tiếng lóng là mộc tồn có nghĩa là ‘cây còn’. Nói lái lại cây còn là con cầy với nghĩa con chó. Cầy cũng còn có nghĩa chỉ loài chồn, cáo như cầy hương hay chồn xạ.

Cầy biến âm với cú thấy qua biến âm kiểu cay cú. Ta cũng thấy biến âm ay = u như mày (vẩy che như mày ốc) = mu (vật che) như mu rùa; tây (riêng) = tư (riêng). Như thế cầy biến âm với cú, cún.

4. Ki.

Ki cũng chỉ chó, ta thường gọi là con ki ki. Ki biến âm với kì, với cây, cầy. Nhật ngữ ki là cây. Ngôn ngữ Welsh ci là chó. Như vậy ki biến âm với cầy, cú, cún.

5. Khai.

Phương ngữ bắc Trung Việt khai là chó. Khai biến âm với cầy. Với h câm, ta có khai = kai = cay = cầy, giống như Lào Kai = Lào Cay.

6. Lang

Theo nghĩa sinh học, Lang có gốc nang là bao, bọc, túi.

Lang là dạng dương của nang (túi, bọc). Trong Tiếng Việt Huyền Diệu ta đã biết L có một khuôn mặt dương hiện kim của N cổ như lõ (cặc lõ, mũi lõ) là dạng dương hiện kim của nõ (cọc nhọn). Mũi lõ, cặc lõ là mũi và cặc đâm ra như cây nõ nhọn; lòng (súng) là dạng dương hiện kim của nòng (súng), lang (con trai) là dạng dương của nàng (con gái)… Nang dương là túi dương, không gian dương, Khôn dương, túi chuyển động tạo ra khí gió.

Con lang có nang ở cổ. Vì vậy ta có câu lang bạt kỳ hồ. Có nhiều cách giải thích về câu này. Theo Đào Duy Anh “lang bạt kỳ hồ” có nghĩa là ‘con lang đạp cái bọc da ở trước cổ nó, lúng túng không đi được. Người mình lại thường dùng mấy chữ ấy theo nghĩa trái hẳn là: đi nơi này nơi khác, không định chỗ nào’ (Hán Việt Từ Điển). Tác giả Đào Duy Anh không hiểu là cái nang, cái túi khi chuyển động mang dương tính là cái túi hơi. Khi chuyển động khí hơi thoát qua một lỗ nhỏ, khe nhỏ tạo ra âm thanh như chiếc kèn túi bagpipe của Ái Nhĩ Lan. Chim thú có tiếng hú, tru là nhờ có túi âm thanh ở cổ như chim tu hú, ếch nhái, sói lang. Qua từ đôi lang bạt ta có lang = bạt. Bạt ruột thịt với gió như thấy qua từ đôi bạt gió (cánh chim bạt gió) nghĩa là bạt = gió. Thật vậy theo b = v như bíu = víu, ta có bạt = vạt. Phạn ngữ vat, quạt và vâta là gió. Ở Thanh Oai Hà Đông có làng Vát, Vác chuyên làm quạt. Quạt liên hệ với gió. Theo qu = v như quấn = vấn, ta có quạt = vạt = vâta, gió. Làng quạt Vát là làng Quạt Vat, làng gió Vâta.

Vì vậy mà lang bạt kỳ hồ có một nghĩa là đi đây đi đó như gió như mây bay. Do đó mà ‘Người mình lại thường dùng mấy chữ ấy theo nghĩa trái hẳn là: đi nơi này nơi khác, không định chỗ nào’. Đây là hiểu theo nghĩa biểu tượng con lang biểu tượng cho gió (xem dưới) .

Con lang (sói, sài lang) về sinh học ở cổ có túi âm thanh nên có thể tru và hú.

Giải này thích theo tính sinh học. Điểm này thấy rõ con lang ở trên trống Miếu Môn có khắc chiếc túi âm thanh dưới cổ (xem hình ở Thiệp Mời ở trên và giải thích chi tiết ở dưới).

Con lang, con sói có nang, có túi âm thanh có thể hú, tru là thủy tổ của các con cún, cóo, chó, cú… đều có nghĩa là hú, tru.

B. Tên Gọi Theo Ý Nghĩa Biểu Tượng Của Chó.

Tên chó gọi theo ý nghĩa biểu tượng của chó như nọc, đực, dương, mặt trời, túi gió.

a. Nghĩa cọc, đực, dương.

Như đã nói ở trên cầy, ‘mộc tồn’, ‘cây còn’, ki liên hệ với cây. Cây là gậy, là cọc, là nọc. Cây, cọc là nọc, dương. Con chó có một khuôn mặt biểu tượng cho cọc, đực, dương. Chó biểu tượng cho nọc, cọc, dương thấy rõ qua Anh ngữ dog. Nguyên ngữ của Anh ngữ dog còn là một bí mật lớn trong Anh ngữ. Thật sự dog chỉ tính chất dũng mãnh của một giống chó (Etymology Dictionary Oline). Tính chất này thấy rõ qua các yếu tố sau đây:

1. Cổ ngữ docga, một từ ít dùng, chỉ một giống chó rất mạnh, dũng mãnh (powerful breed), Pháp ngữ doque (thế kỷ 16), Đan Mạch dogge.

Như thế dog mang nghĩa của một từ cổ có nghĩa mạnh, hùng mạnh mang dương tính.

2. Anh ngữ dog dùng để chỉ chó đực, còn chó cái gọi là bitch. Theo đ = n như đây = này, dog biến âm với nog (cây chốt, cây ngạc bằng cây, gỗ). Nog ruột thịt với nọc. Hiển nhiên dog có một nghĩa nọc, dương, đực. Vì vậy dog dùng chỉ giống đực của một vài động vật như dog-fox, chồn đực. Trong khi bitch biến âm với bịch, bọc, bao có nghĩa túi, nang, nòng, có một nghĩa âm, cái.

Như vậy ta có thể dùng Việt ngữ qua hệ thống chữ nòng nọc vòng tròn-que để tìm ra cái bí mật của nguồn gốc, nguyên ngữ của dog.

Trong thực vật có cây dogwood dịch là cây dương đào vì gọi theo giống dogwood có hoa đỏ, đào mang dương tính.

Ta cũng thấy canidae (loài chó), Latin canis (chó) có can– = Hán Việt can, Anh ngữ cane, Pháp ngữ canne (gậy), Việt ngữ cần, cành. Cảnh sát Mỹ gọi tắt quân khuyển là K-9 (canine), (/Câynai/). Anh ngữ K phát âm /cây/. Như thế cầy mang dương tính như dog. Rõ nhất là canine: răng chó, răng nhọn (mang dương tính) còn gọi là răng nanh. Theo biến âm n = đ như này = đây, ta có nanh = đanh, đinh (vật nhọn mang dương tính).

. Mang, muông.

Hán Việt mang, muông, Mường ngữ moong có một nghĩa là chó.

Trở về vừa đến đầu đường,

Thấy con muông đứng cửa hang nó chờ.

Hay

Bỗng nghe ngoài chốn tường hoa,

Tiếng con muông sủa từ xa lại gần.

(Trinh Thử).

Mang, muông liên hệ với Phạn ngữ çvan (chó), có –van = mang.

Mang có một nghĩa là gai nhọn như thảo mang. Măng là mầm tre mới mọc trông giống chiếc gai nhọn khổng lồ.

.Tuất

Cuối cùng bằng chứng vững chãi nhất là chữ xù Tuất trong giáp cốt văn có hình cây rìu, một vật nhọn mang dương tính nọc, đực.

clip_image004Tuất xù trong giáp cốt văn, kim văn có hình cây rìu (nguồn: Wang Hongyuan, The Origins of Chinese Characters, Sinolingua, Beijing, 1993) Hongyuan, The Origins of Chinese Characters).

Hán ngữ hiện kim Tuất 戌 viết với chữ qua 戈, cây mác, vật nhọn.

Như thế con chó rõ ràng có một ý nghĩa biểu tượng cho nọc, đực, dương…

b. Mặt trời.

. Như vừa thấy ở trên, chữ Tuất có vẽ hình cây rìu, cây việt, một vật nhọn có một khuôn mặt biểu tượng cho nọc, đực, dương thì hiển nhiên cũng có nghĩa mặt trời (dương có một nghĩa mặt trời). Người Việt là Người Mặt Trời (Việt là Gì?).

. Sói, lang.

Ý nghĩa mặt trời này thấy rõ qua từ sói, lang.

-Sói biến âm mẹ con với soi (soi sáng) liên hệ với mặt trời. Theo biến âm s = ch như sửa = chữa; sực =chực (nhớ); chớm = sớm…, ta có sói = chói (chói sáng) = chời, liên hệ với mặt trời. Trong tín ngưỡng, bái vật sói có một khuôn mặt biểu tượng là chó mặt trời, chó trời, thiên cẩu. Có tộc thổ dân Mỹ châu có vật tổ là coyote, một loài sói đồng cỏ. Coyote có coy- biến âm với sói (c=s).

-Lang có một nghĩa là con trai, chàng (trai, đực, vật nhọn, cây đục chisel) biểu tượng cho đực, dương mặt trời. Con trai Vua Mặt Trời rạng ngời Hùng Vương gọi là Quan Lang có nghĩa là Chàng Trai Mặt Trời Sáng Ngời. Hiện nay Quan Lang với Quan hiểu theo nghĩa một chức tước (mandarin) không chỉnh. Tày ngữ quan có nghĩa là chàng (lang) (Hoàng Triều Ân, Từ Điển Chữ Nôm Tày).

Lang cũng có nghĩa là sáng, ánh sáng, liên hệ với láng (sáng láng), lạn (sáng), lánh (lóng lánh, lấp lánh) tức liên hệ với mặt trời. Lang là sáng cũng thấy rõ qua Latin lupus, Pháp ngữ loup, sói, lang. Lupus liên hệ với Latin lux, Tây Ban Nha ngữ luz, ánh sáng.

Như thế theo ý nghĩa biểu tượng, theo duy dương sói lang có một nghĩa là sáng liên hệ với mặt trời.

-Má.

Má là chó như thấy qua từ đôi chó má. Ta có chó = má. Thái ngữ mah, chó. Má biến âm với mặt (vật sáng) (má cũng là phần bên của mặt) như mặt trời. Theo m=b=p, ta có má biến âm với Avestan spa, spa có (s)pa = má.

Má, mặt có một khuôn mặt liên hệ với mặt trời.

Chó với khuôn mặt biểu tượng cho nọc, dương mặt trời là thú biểu Lang theo duy dương của nhánh Lang Hùng mặt trời Hùng Kì phía thái dương thần nữ Âu Cơ (xem dưới).

c. Nghĩa nang, túi, bọc.

Như đã nói ở trên Lang có một khuôn mặt dương của nang có nghĩa là túi, bọc dương là bọc chuyển động biểu tượng cho gió, không khí, không gian, Khôn dương. Lang ở đây là nang dương (lang) có một khuôn mặt biểu tượng khí gió, bầu trời của bọc nang trăm con Lang Hùng tạo hóa hay biểu tượng của nhánh nòng dương Hùng Lạc phía Lạc Long Quân.

Tóm loại loài chó từ thủy tổ lang sói trở xuống chó nhà đều biết tru, hú, sủa nhờ có túi âm thanh ở cổ. Nang, túi nhìn dưới dạng nhất thể, trứng vũ trụ là biểu tượng không gian-mặt trời, vũ trụ ứng với khuôn mặt bọc, nang trứng tạo hóa trăm Lang Hùng. Nhìn dưới dạng lưỡng cực, theo duy dương con lang là con láng, lạn (sáng), mặt trời. Theo duy âm con lang là con nang, không gian, khí, bầu trời ngành dương ứng với hai nhánh chim-rắn, Tiên Rồng của trăm Lang Hùng.

-Kiểm Chứng với Ngôn Ngữ Loài Người.

1. Với Ấn-Âu ngữ.

Tôi đã chứng minh các từ thuần Việt phần lớn liên hệ với Ấn-Âu Ngữ (Sự Liên Hệ Giữa Việt Ngữ và Ấn-Âu Ngữ) và ta đã thấy tên của 11 con giáp viết trước đây ruột thịt với Ấn-Âu ngữ. Như vậy ta hãy kiểm chứng Tuất với Ấn Âu Ngữ.

Như đã nói ở trên ta đã thấy:

-Mường ngữ cóo, Việt ngữ chó, cổ ngữ Việt cún ruột thịt với Ái Nhĩ Lan ngữ cú, gốc tái tạo Ấn Âu ngữ *kuon, kun-, PIE * kuntos, *kwon- .

Với nghĩa hú ruột thịt với Đức ngữ hund, chó (có hu- = hú), Cổ ngữ Anh hund, Anh ngữ hiện kim hound (greyhound) (cùng âm với howl = hú). Tiền-Germanic hundas, (Cổ Saxon và Cổ Frisian là hund, Old High German hund, Cổ Norse hundr, Gothic hunds) và từ PIE * kuntos.

Anh ngữ wolf, chó sói. Theo w = q = k = c như Mường ngữ wầl = cuộn, quấn, ta có wolf = /wul-/ = kun = cún.

-Cầy, ki biến âm với Anh ngữ cane, Pháp ngữ canne, chien, Hy Lạp kyon, Welsh ngữ ci.

-Mang, muông liên hệ với Phạn ngữ svan, çvan, Avestan spa.

-Với nghĩa là con sủa liên hệ với Lithuania ngữ suo, Nga sobaka (lấy từ Iran ngữ là Median spaka), Armenian shun…

2. Với Ngôn Ngữ Bách Việt và Lân Bang.

Tác giả Nguyễn Cung Thông đã dựa vào cách phát âm Tuất theo giọng Quảng Đông seot1 và các giọng Mân Nam sut7, sit7, sud6, xid5, sut8, sut8, giọng Mân Nam/Đài Loan sut1, tiếng Nhật jutsu, shutsu và tiếng Hàn swul (Nhật và Đại Hàn có một rễ trong gốc Bách Việt, chú thích này của tôi) tạo ra một dạng âm cổ phục nguyên của tuất là *swot, đọc gần như xót (xiót) hay sót tiếng Việt hiện đại [nguồn: ­­­Nguồn gốc tên gọi 12 con giáp – Tuất *swot chó (phần 12A)].

Rất tiếc tác giả Nguyễn Cung Thông không cho biết rõ *swot  có nghĩa là gì. Theo tôi, xót cũng có thể biến âm với sọt, vật đựng có chức vụ như bồ, bao bọc. Con *swot, con sọt là một thứ con nang, con lang. Nếu thay w= uu = u, ta có *swot = suot, có một dạng là suốt. Theo biến âm kiểu sáng suốt, ta có suốt = sáng. Con Tuất *swot là con sáng, con lang. Nếu lấy dạng giản lược swo- của *swot, ta có swo- = suo = sủa. Con Tuất là con sủa. Chó nhà sủa có di thể tru, hú của lang sói. Ta thấy rất rõ sủa ruột thịt với Mã ngữ suara, lấy từ tiếng Phạn có nghĩa là tiếng (voice) âm thanh (vocal sound) liên hệ với dây, hộp, túi âm thanh.

Như đã nói ở trên, với nghĩa là con sủa liên hệ với Lithuania ngữ suo.

Như thế qua *swot, con Tuất cũng có nghĩa sinh học là nang, sủa và nghĩa biểu tượng là sáng, láng, lang, mặt trời.

3. Với Hán Ngữ.

Tuất phát âm theo giọng Bắc Kinh bây giờ là xū xù.

Theo biến âm x = c như xọm = còm (gầy), ta có xũ, xù = cú. Từ cú đã giải thích ở trên.

Tác giả Nguyễn Cung Thông cũng cho biết trong Hán ngữ chó cũng gọi là sử/sứ (cũng có thể các tên này du nhập vào tiếng Hán từ các tộc mà người Hán giao lưu). Theo biến âm s=c, ta cũng có sử/sứ = cú.

4. Ngôn Ngữ Loài Người.

Như đã nói ở trên các tên chó có nghĩa là hú, tru cũng liên hệ với Ngôn Ngữ của Chúng Ta Nostratic *k’üjna, wolf.

Như vậy kiểm chứng với ngôn ngữ loài người, các tên chó trong Việt ngữ đều có nghĩa sinh học là tru, hú và nghĩa biểu tượng là đực, dương, mặt trời, túi nang khí gió, bầu trời.

Tuất Liên Hệ Với Từ Thuần Việt Nào?

1. Theo ý nghĩa sinh học.

Theo tiếng tru, hú: con Tuất là con tu, con tru.

Ta thấy Tuất có Tu- liên hệ với Việt ngữ Tu. Kiểm chứng với biến âm kiểu từ đôi u uất tức u = uất, ta cũng có Tuất = Tu. Từ tu là thể giản lược của tru có một nghĩa là hú. Ta có con chim tu hú. Theo qui luật từ đôi đồng nghĩa của Nguyễn Xuân Quang ta có tu = hú. Ngoài ra ta có từ đôi tù và là tiếng còi ốc. Theo v = o như ván = oản (Từ Điển Việt Bồ La, Alexandre de Rhodes), Mường ngữ vu wan = vu ooan, vu oan… ta có và = oa. Oa có một nghĩa là con ốc. Tù và là tiếng còi ốc. Thêm nữa là từ kép tu oa là tiếng kêu do túi hơi ở cổ của con ếch, ễnh ương phát ra như thấy qua câu hát ở Bình Định: ‘con ếch nó kêu tu oa… Ối chu choa là buồn!’ Con Tuất là con tu, con tru, con hú, con cú, cún, con cóo, con chó…

2. Theo nghĩa biểu tượng.

-Theo nghĩa nọc đực.

Theo biến âm uất = ấc, ắc như quả quất = quả tắc, khuất phục = khắc phục; theo từ đôi uất ức ta có uất = ức (theo ư = â như bầng bầng = bừng bừng; tầng = từng, vầng = vừng, ta có uất = ức = âc)…, ta có Tuất biến âm ruột thịt với Mường ngữ tâc, có nghĩa là đực. Ong tâc là ong đực (Từ Điển Mường Việt, Nguyễn Văn Khang). Ta thấy rõ như ban ngày con Tuất là con Tấc, con đực, con cầy, con cây, con nọc, con đọc, con dog, con khai, con mang và Tuất viết với chữ qua là rìu, mác…

-Theo nghĩa túi.

Theo biến âm i = ât, ăt như nhí (nhỏ, lí nhí) = nhắt (nhỏ, lắt nhắt), biến âm với theo kiểu qui  tắc, qui  luật. ni tấc, lí lắc, kì quặc (theo qu = c = k = như quốn = cuốn = kuốn ta có quặc = cặc), ta có Tuất = Túi.

Như đã nói ở trên, theo sinh học con lang là con nang, con túi (âm thanh). Một ví dụ điển hình là có một giống chó lớn gọi là con ngao 獒. Cùng âm ngao ta có con ngao 螯  là con nghêu (hến) và ngao 廒 là vựa để đựng thóc. Cả ba từ đều cùng gốc âm ‘ngao’ clip_image006. Chó ngao có thêm bộ khuyển 犬. Con nghêu có thêm bộ trùng 虫 là loài nhuyễn thể có vỏ bọc cứng cùng loài với bào ngư (‘cá bọc’, abalone) và con hầu, con hào. Hầu, hào có một nghĩa là túi, bao như hầu bao túi tiền. Ngao vựa lúa có thêm bộ 广 nghiễm, yểm, mái nhà. Vựa chỗ chứa, kho lúa nhiều khi quây tròn như bồ lúa. Bồ là bao, bọc. Như thế ta thấy ngao liên hệ với hầu, hào, bào, bao, bồ, bọc (cùng gốc nghĩa túi, nang). Như vậy chó ngao cũng có thể có nghĩa liên hệ với bao, túi, nang. Con chó ngao ruột thịt với con sói lang.

NGUỒN GỐC TUẤT NGHIÊNG HẲN VỀ ĐẠI TỘC VIỆT.

Sau đây là những yếu tố chính cho thấy con chó Tuất có nguồn gốc nghiêng hẳn về phía Đại Tộc Việt.

1. DNA.

Nhiều khảo cứu di truyền học cho thấy chó nhà có nguồn gốc ở Đông Nam Á rồi phát tán đi các nơi khác ví dụ DNA ở loài chó dingo ở Nhật Bản, Nam Đảo, Đa Đảo cho thấy chúng có tổ tiên ở Đông Nam Á. Như thế tên Tuất có nhiều triển vọng có nguồn gốc Đông Nam Á, Bách Việt.

2. Vật Tổ của Đại Tộc Việt.

Nhiều chứng sử cho thấy Việt Nam, Bách Việt có vật tổ là sói lang, thiên cẩu, chó.

-Qua sử đồng.

Đồ đồng và trống đồng Đông Sơn có nhiều tượng và hình ảnh vật tổ chó.

. Chó đồng Đông Sơn.

clip_image008Chó đồng Đông Sơn thế kỷ thứ 4 (Sau Dương Lịch), Bảo Tàng Viện Honolulu, Hawaii.

.Rìu thờ Đông Sơn.

Trên một chiếc rìu Đông Sơn mà tôi gọi là rìu Hồng Bàng cũng có khắc hình con chó sói.

clip_image010Rìu thờ Đông Sơn có ba thú biểu là Dao Long (Sấu Dao Việt thần thoại hóa), Hươu Việt và Sói Lang Việt.

Chú ý con chó có tai như sừng, như nọc nhọn nói cho biết đây là con lang (chàng, đực, nọc), trên người cũng có phụ đề thêm các chữ nọc chấm nọc là dạng nguyên tạo có một nghĩa là lửa, mặt trời, đực, thái dương sinh tạo. Đây rõ ràng là con sói, con Lang Việt, Lang sáng, Lân Lang (vương hiệu của Hùng Vương thứ nhất, xem dưới).

.Trên một trống minh khí cũng có hình chó.

.Sói lang trời.

Trên trống Miếu Môn I, ở vành số 6 có hai nhóm thú xen kẽ với hai nhóm hươu mà các nhà khảo cổ học Việt Nam cho rằng đây là loài “thú bốn chân dị kỳ có mỏ như chim ngậm mồi” (Nguyễn Văn Huyên).

clip_image012Những con thú lạ trên Trống Miếu Môn I (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Tôi đã giải đọc, giải mã nhận ra những con thú lạ này là những con sói lang thiên cẩu (Trống Văn Lang Miếu Môn I).

Ở đây chỉ xin nói tới đặc điểm nhất của con thú này là dưới mõm có từ nòng nọc vòng tròn que hình tam giác mà các học giả hiện nay gọi là cái ‘mồi’: “những con thú kỳ dị’ này ‘ngậm mồi’. Đây không phải là mồi, các con thú này trên trống đồng thờ thiêng liêng không thể nào là những con thú ‘đói ăn’. Đây chính là cái nang, cái bọc nòng O chuyển động dương hóa thành hình tam giác mang dương tính thái dương (Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que: Từ Ba Nọc Que). Nang, túi hơi chuyển động tạo ra tiếng tru, tiếng hú. Thấy rõ nhất là trong nang túi này có chữ hay dấu chấm-vòng tròn clip_image014 có những nghĩa nọc, đực, dương, mặt trời và thiếu âm, nguyên thể của gió. Chữ/dấu này xác thực nang túi dương và con thú có một khuôn mặt biểu tượng nọc, đực, dương, mặt trời và biết tru, hú, biểu tượng cho khí, gió. Như đã biết đây là những tính đặc thù của sói lang (nếu là mồi thì không thể nào có chữ, có dấu chữ nòng nọc vòng tròn-que viết ở trong mồi).

….

Những con ‘thú kỳ dị ngậm mồi’ chính là con sói mặt trời rạng ngời, sói Lang, sói Chàng, sói Gió, sói nang bầu trời, bầu vũ trụ. Đây là những khuôn mặt của Hùng Vương.

.Chó cõi âm.

Trên hai con thuyền ở trống Ngọc Lũ I (số 1 và 5) có hình con thú đứng sau đài Tam Thế (xem chương Ý Nghĩa Hình Thuyền Trên Trống Đồng).

clip_image015Thuyền số 2, một trong hai thuyền dẫn đầu trong sáu con thuyền phán xét linh hồn trên trống Ngọc Lũ I có hình con chó tham dự vào việc phán xét linh hồn.

Đây là chó gác Cầu Thử Thách hay Cổng Cõi Trên (Cổng Trời) tham dự vào việc phán xét linh hồn (The afterlife judgment dogs). Chúng phụ giúp người gác Cổng Cõi Trên xé xác hay ném những linh hồn ác xuống vực thẳm, âm ty. Chúng giống như những con mèo phán xét linh hồn trong truyền thuyết của tộc Nissan ở Polynesia. “A cat throws the guilty souls into the infernal waters for him” (the guardian of the sky gate) (“Một con mèo ném những linh hồn ác xuống cõi nước địa ngục cho người gác cổng trời”). Những con chó này là những con chó phán xét linh hồn. Chúng có một khuôn mặt liên hệ với con chó Anubis của Ai Cập hay con chó ngao ở địa ngục của nhà Phật.

.Chó thông thường.

Trống Vân Nam có những hình chó thông thường trong đời sống hàng ngày (trống đã rất muộn).

clip_image017Chó trên một trống Vân Nam (A. J. Bernet Kempers, The Kettledrums of SouthEast Asia).

Lưu ý trên người chó có bỏ các dấu chấm nọc có một nghĩa là nọc, dương, ngành mặt trời.

.Cầy, chồn, cáo.

Trên một trống Lào có hình thú mà nhiều tác giả cho là loài chồn (weasel).

clip_image019Hình chồn, cáo, cầy trên một trống đồng Lào.

-Qua Sử Miệng (Truyền Thuyết).

.Chó Trời, Sói Trời, Lang Trời, Vật Tổ của Hùng Vương.

Như đã biết sói lang, thiên cẩu là thú biểu của Hùng Vương (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Vệt). Chỉ xin nhắc lại vài điểm chính.

. Theo duy dương, Lang có nghĩa là chàng, đực, dương mặt trời, sáng lạn, sáng láng.

Trong Hùng Vương sự tích ngọc phả cổ truyện có ghi: “Hùng Quốc Vương tức Hùng Vương thứ nhất – húy Lân Lang – lên ngôi năm Nhâm Dần, năm 2359 trước Công nguyên” (theo Trần Huy Bá khảo ở ngọc phả ký hiệu A227, chữ Hán, tư liệu lưu tại Thư viện Khoa-học Xã-hội, Hà Nội). Lân Lang hiểu theo tước hiệu là Lang Hùng Sáng hiểu theo thú biểu là con sói lang sáng, mặt trời . Lân Lang là Lang Sáng, Lang Ngời, Lang Rạng Đông.

Hiểu theo tước hiệu là Lang Hùng Mặt Trời Chói Sáng . Hiểu theo thú biểu là con sói lang sáng, mặt trời. Tên nước của Hùng Lang là Văn Lang, nhìn dưới diện thú biểu bốn chân, Lang có một nghĩa là con Lang rạng ngời, con Lang đực, Lang nọc, Lang Việt (KQKTCSHV). Trong Thủy Kinh chú, sách này ghi Văn Lang là nước Sài Lang (Hoàng Hưng, Thời đại Hùng vương trong thư tịch xưa, Hùng Vương Dựng Nước, T.I). Dĩ nhiên đối với những kẻ thù địch của chúng ta thì họ bóp méo nghĩa chữ Sài Lang đi hiểu theo nghĩa xấu xa nhưng đối với con dân nước Văn Lang hiển nhiên Sài Lang hiểu là con Lang Rạng, con Sói Ngời, con Sói Rạng đông với ý nghĩa cao đẹp. Sài là một loài sói nhưng sài cũng có nghĩa là “củi”, tức cây, nọc. Sài Lang có thể hiểu là con Sói Nọc, Sói Đực, Sói Lang, Sói Việt, Lang Mặt Trời ăn khớp với họ Nọc Việt mặt trời thái dương. Văn Lang có một nghĩa là nước Lang sói rạng đực, Lang sói mặt trời rạng ngời (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

-Qua Sử Sách, Cổ Sử.

Người cổ Việt có vật tổ là loài chó, có tục thờ chó: “Người Việt xưa không những có ‘tô-tem’ chim ‘lạc’, tô-tem rồng mà còn có nhiều tô-tem khác như trâu, chó…” (Trịnh Minh Hiền, Trần Mạnh Phúc, Tìm Hiểu Nghệ Thuật… HVDN, NXB KHXH, HN, 1972 t.I, tr.230).

Như đã nói ở trên, chữ Tuất có chữ qua (cây mác) và chữ Việt (rìu) cũng có chữ qua, như thế Tuất sói lang trời là vật tổ của người Việt con cháu Hùng Vương không có gì là nghịch lý.

Ngày nay chúng ta còn thấy rõ sự thờ phượng chó qua việc quấn khăn hình tai chó, thờ tượng đá chó đại bản, chó đá.

clip_image020

Chó đá ở làng Địch Vĩ (Phương Đình, Đan Phượng).
Dân làng Địch Vĩ, xã Phương Đình (Đan Phượng, Hà Nội) thờ chó đá như một vị thần và gọi là quan lớn Hoàng Thạch
(nguồn: “Tục Thờ Chó Đá Của Người Việt” http://quehuongonline.vn/tu-dien-van-hoa/tuc-tho-cho-da-cua-nguoi-viet43433.ht)

Gần đây vừa khám phá ra được miếu thờ chó ở Trúc Bạch. Theo Ngô Đức Thịnh thời vua Lý Công Uẩn đã cho dân lập đền thờ Cẩu Nhi ở hồ Trúc Bạch (Tây Hồ, Hà Nội) (cùng nguồn vừa mới dẫn ở trên).

Ở Huế, Hội An và vài vùng quê khác trước đây có múa thiên cẩu.

clip_image021Múa thiên cẩu (tranh dân gian).

Hội An ngày nay cũng mới vực dậy lại múa thiên cẩu thay vì múa lân (đón xem Múa Lang Trời Thay Vì Múa Lân).

.Các tộc khác trong Bách Việt.

-Lạc Việt Tráng hay Choang (Zhuang) có tục thờ chó. Tộc Jangxi ngày nay còn giữ tục múa chó để chào mừng trẻ em sơ sinh, cầu vật tổ Chó phù họ cho em bé.

clip_image023Tục múa Vật tổ Chó của tộc Jangxi, Tráng zhuang (ảnh của tác giả chụp tại Viện Bảo Tàng Sắc Tộc, Vân Nam).

Theo Nguyễn Cung Thông Zhuang cũng viết bằng bộ khuyển 獞, sau đổi ra 僮 và 壮 (nguồn đã dẫn).

-Người Mán có vật tổ là chó Bàn Hồ.

-Người Dao với từ Dao viết bằng bộ khuyển 猺 (sau đổi ra 傜 hay 瑤 cho bớt tiêu cực) (Nguyễn Cung Thông, nguồn đã dẫn).

-Borneo, Đa Đảo: nhiều tộc ở miền trung Borneo, Đa Đảo, một thứ Lạc Việt hải đảo còn giữ lại được nhiều dấu tích thờ chó cho tới ngày nay.

clip_image025Vật tổ Chó Aso.

(Figure 35, Robert Heine Geldern, Some tribal Art Styles of South East Asia, p.196, hình này trích dẫn lại của Nieuwenhuis, 1904-07).

Như thế các chứng sử (sử đồng, sử miệng truyền thuyết, sử sách) cho thấy chó, sói, lang trời là vật tổ của Việt Nam, là thú biểu của Hùng Vương. Sự hiện diện của chó trên trống thờ Người Việt Mặt Trời Ngọc Lũ I đã có cách đây khoảng hơn 2.500 năm. Con chó và tên Tuất nghiêng hẳn về phía Bách Việt.

….

Kết Luận

Tuất chỉ năm Chó có nghĩa nôm na mách qué là:

Con Tuất là con Tu, con Tru, con Túi (Lang), con Tâc (đực, dương, mặt trời). Những nghĩa sinh học và biểu tượng của chó đã được xác thực bằng Mường Việt ngữ, nôm cổ Bách Việt, Ấn-Âu ngữ và Ngôn ngữ loài người.

Chó là vật tổ của Việt Nam và Bách Việt. Sói Lang Trời là thú biểu của Hùng Vương.

Một lần nữa từ Tuất cho thấy nguồn gốc của 12 con giáp Việt Nam khác Trung Quốc, tuyệt nhiên Việt Nam không lấy 12 con giáp từ Trung Quốc. Nguồn gốc này nghiêng hẳn về phía Việt Nam, Bách Việt.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

w

Connecting to %s

%d bloggers like this: