CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN QUE VÀ CHỮ VIẾT LOÀI NGƯỜI (Phần 2).

CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE.

CHỮ NÒNG NỌC VÀ CHỮ VIẾT LOÀI NGƯỜI.

(Phần 2).

Nguyễn Xuân Quang.

B. HÌNH TỰ AI CẬP CÁC HÌNH TỰ KHÁC LIÊN HỆ VỚI CHỮ VIẾT NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE.

I. HÌNH, DẤU, BIỂU TƯỢNG AI CẬP VÀ CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE.

Ai Cập cổ theo vũ trụ giáo, mặt trời giáo dựa trên nguyên lý nòng nọc (âm dương). Thuyết vũ trụ tạo sinh và vũ trụ giáo rất rõ nét trong văn hóa Ai Cập cổ thấy qua hai miền Ai Cập: Ai Cập Thượng có biểu tượng là Chim Kên Kên và Ai Cập Hạ có biểu tượng là con Rắn Hổ Mang.

clip_image002Ai Cập Thượng có biểu tượng là Chim Kên Kên và Ai Cập Hạ có biểu tượng là con Rắn Hổ Mang.

Nguyên lý Chim-Rắn của Ai Cập cổ tương tự như nguyên lý Chim-Rắn, Tiên Rồng của Việt Nam (Sự Tương Đồng Giữa Ai Cập và Cổ Việt).

Mặc dầu không hệ thống hóa nòng nọc (âm dương) rành mạch thành dịch học nhưng dấu tích chữ nòng nọc vòng tròn-que còn thấy rất nhiều trong dấu, hình, hình tự, linh tự Ai Cập. Xin đưa ra một hai ví dụ.

.Hình, dấu, biểu tượng Ai Cập cổ viết theo tính nòng nọc (âm dương) của chữ nòng nọc vòng tròn-que.

Một ví dụ tiêu biểu là cặp sừng thú vật bốn chân. Sừng là vật nhọn, nọc nhọn, cọc nhọn mang dương tính, một thứ chữ nọc que I (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc). Cặp sừng II mang tính thái dương, lửa II. Hình dạng cặp sừng trong hình ngữ Ai Cập thay đổi theo tính nòng nọc (âm dương) của từng giai đoạn trong qui trình vũ trụ tạo sinh và của từng ngành, nhánh, đại tộc, tộc, chi.

a. Sừng ngành nọc dương, nam thái dương.

-Sừng thái dương, lửa thái dương, Càn, tượng lửa.

Như đã nói ở trên, cặp sừng là hai nọc nhọn có một nghĩa là hai dương, thái dương, lửa. Giống như từ hai nọc que, sừng mang trọn ý nghĩa vũ trụ tạo sinh thuộc khâu thái dương. Ví dụ sừng mang tính nòng nọc (âm dương) ứng với tứ tượng.

-Sừng thái dương ứng với Lửa thái dương, Càn, tượng Lửa thái dương.

Sừng mang tính nọc dương thái dương là sừng nọc que nhọn đầu hướng thiên như thấy qua sừng con bò đực ka có một khuôn mặt biểu tượng cho mặt trời.

clip_image004

-Sừng thiếu dương ứng với Lửa đất thiếu dương, Li, tượng Đất.

Sừng thiếu dương là sừng nọc que bằng đầu mang âm tính tức âm O của dương I, tức OI, thiếu dương, có một khuôn mặt là nguyên thể của đất.

Sừng đất thiếu dương thấy qua sừng ‘thịt’ của con cầy lửa setekh, thú biểu của thần Seth Ai Cập. Hai tai con thú này được diễn tả như một cặp sừng ‘thịt’, mềm và có đầu bằng mang âm tính, thiếu dương.

clip_image006Seth

clip_image008 Cầy Lửa Setekh, thú biểu của Seth.

Set (Seth, Setekh) là vị thần đất lửa, đất đỏ, sa mạc (tức đất dương) có thú biểu là con Seth (được cho là kết hợp của chó hoang jackal, lừa, chồn… Tôi dịch là cầy lửa.

-Sừng thiếu âm với Gió dương, Đoài vũ trụ, tượng Gió.

Sừng mang tính nọc thiếu âm là sừng nọc que nhọn đầu cong lại thành vòng tròn hở diễn tả bầu trời dương khí gió.

Ví dụ tiêu biểu thấy qua cặp sừng của dê núi biểu tượng cho thần Amun có một khuôn mặt là thần Gió.

IMG_9265

(ảnh của tác giả).

clip_image009Hàng tượng Nhân Dương ở lối vào đền Karnak, Luxor.

Dê sừng dòng Gió Amun có sừng cuộn cong lại thành hình vòng vòm trời nòng O hở tức O chuyển động, mang dương tính. Không gian O chuyển động, dương là khí gió.

-Sừng thái âm ứng với Lửa Nước thái âm, Chấn, Tượng Nước dương.

Sừng mang tính nọc nước thái âm là sừng nọc que nhọn đầu gợn sóng nằm ngang biểu tượng nước chuyển động, nước dương.

Loài dê núi đực (ram) có sừng bằng ngang gợn sóng (Ovis longipes)

clip_image010

được dùng làm biểu tượng cho thần Khum và trong các hình ảnh mặt trời (depicted in representations of the earlier ram gods such as Khnum and in solar images).

clip_image012Thần Khnum (nguồn: Wikipedia).

Thần Khnum là thần tạo hóa và thần Nước.

Lưu ý sừng gợn sóng của dê núi biểu tượng cho nước bằng mang dương tính nhánh nọc dương thái dương. Trong trường hợp là nước mang âm tính như nước âm vực sâu thuộc nhánh nọc âm thái dương thì sừng có hình chữ V tròn đầu. ví dụ cặp sừng chữ V tròn đầu của rắn lục có sừng (horned viper).

clip_image014Linh tự chữ f.

Linh tự f rắn lục có sừng hình chữ V tròn đầu. Như đã biết V có những nghĩa nọc thái âm mang tính thái dương có những nghĩa là bộ phận sinh dục nữ ngành nọc âm, đất âm (vực sâu), nước thái âm ngành thái dương… Nọc que tròn đầu mang âm tính. Rắn cũng có một khuôn mặt biểu tượng cho nước. Hiển nhiên hai sừng nọc que tròn đầu ở vị trí hình chữ V có một khuôn mặt biểu tượng cho nọc thái âm, nước nhánh nọc âm thái dương.

b. Sừng ngành nòng âm nữ thái dương.

Sừng mang tính nòng âm nữ thái dương là sừng nọc que đầu nhọn cong hình chữ U. Như đã biết U là dạng nòng âm, nữ thái dương của nòng O.

U có phần đáy lõm cong tròn mang âm tính của một vật đựng nên mang tính âm, nữ. Hai nhánh nọc que là thái dương. Ví dụ thấy qua trang phục đầu của nữ thần Isis có mạng lửa thái dương có một khuôn mặt là nữ thần mặt trời thái dương, tương ứng với Âu Cơ, Nàng O Lửa II,  O (nàng ) thái dương II, Nữ thần thái dương, mặt trời nữ thái dương. Vương miện Isis có cặp sừng chữ U.

clip_image016

Lưu ý vương miện còn có chiếc ngai vua biểu tượng cho đất thế gian, khuôn mặt đất tương ứng với khuôn mặt đất âm thái dương non Cấn của Âu Cơ. Ngoài ra vương miện còn có hình chim ứng với khuôn mặt chim Tiên của Âu Cơ (chim có một khuôn mặt biểu tượng cho lửa, mặt trời).

Rõ như dưới ánh sáng mặt trời Ra, cặp sừng thái dương thay đổi hình dạng, vị trí theo tính nòng nọc (âm dương).

.Chữ nòng nọc cũng để lại nhiều dấu tích trong dấu, hình, biểu tượng Ai Cập cổ, là tiền thân của mẫu tự Ai Cập (Egyptian Alphabet).  Ví dụ cổ xưa nhất là tên triều đại đầu tiên Narmer.

Triều đại đầu tiên thống nhất hai vùng Hạ Rắn Hổ Mang và Thượng Chim Kên Kên của Ai Cập cổ là Narmer tức Triều Đại Thứ Nhất (3100 Trước Dương Lịch). Có tác giả coi Narmer là vua tổ của Ai Cập cổ. Tên Narmer được diễn tả theo linh tự n’r bằng hình con cá nheo (cá bông lau) hay cá trê (catfish) và m’r bằng hình chiếc đục, chiếc chàng (chisel).

clip_image018(nguồn: biodiversity.com)

Lưu ý cá trê có râu hình chữ V diễn tả tính nọc âm thái dương.

M’r, chiếc đục, một vật nhọn biến âm với Việt ngữ mác (một thứ dao lớn nhọn), Mường ngữ vác biến âm của mác (m=v) cũng là một thứ vật nhọn, một thứ mác.

Như vậy Narmer là Cá Nheo (Nước, âm). Nước cũng có biểu tượng là Rắn và Chiếc Đục (Lửa, dương) là vật nhọn, cọc nhọn mang dương tính có một khuôn mặt là Chim. Qua từ láy chim chóc ta có chim = chóc. Với h câm chóc là cọc, chim = chóc = cọc. Thái ngữ nok là chim. Nok ruột thịt với Việt ngữ nọc. Narmer là cá-chim, tương đương với rắn-chim, vị vua thống nhất hai vùng Hạ Rắn Hổ Mang nước và Ai Cập Thượng Chim Kên Kên lửa. Narmer mang cùng hình ảnh của chim lửa-rắn nước, Tiên-Rồng của chúng ta. Narmer tương đương với An Dương Vương thống nhất hai ngành Âu Lạc thuộc ngành mặt trời nước Lạc Long Quân.

Qua tên Narmer ta thấy dấu vết chữ nòng nọc vòng tròn-que ở Ai Cập cổ đã có hơn 3.000 năm. Chữ Nòng Nọc vòng tròn-Que trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn cũng có tuổi như thế (trống Ngọc Lũ I có tuổi trên dưới 3.000 năm) hay còn cổ hơn vì phải có từ lâu trước đó thì mới khắc được trên trống hoàn chỉnh như vậy.

…….

Có quá nhiều hình, dấu, biểu tượng Ai Cập cổ, để giản dị và có hệ thống ta hãy dựa vào chiếc khung sườn của qui trình vũ trụ tạo sinh tìm dấu vết chữ nòng nọc vòng tròn-que trong hình, dấu, biểu tượng, linh tự Ai Cập cổ.

1. QUA HÌNH, DẤU, BIỂU TƯỢNG.

-Hư vô.

Hình tự “Nut” (sky) được diễn tả bằng hình ba cái bình tròn để trên linh tự “bầu trời” clip_image022 có hình nóc vòm trời hình vung úp:

clip_image023Linh tự“nut”(sky).

Bình, vật đựng biểu tượng cho âm, nước. Ba cái bình tròn là ba nòng OOO, ba âm, tức Khôn (K’un). Hình ngữ có nghĩa là bầu trời Khôn hay Khôn cõi trên bầu trời. Hiện nay giải thích theo nghĩa bầu trời. Giải nghĩa này chưa trọn vẹn. Bầu trời đây còn phải hiểu theo tính nòng nọc (âm dương). Đây là bầu trời Khôn, có ít nhất ba loại Khôn. Khôn trung tính là hư vô. Khôn dương là Khí gió. Khôn âm là Nước tạo hóa. Nữ Thần Nut là Nữ Thần Bầu Trời, vì là người nữ nên là bầu trời âm nên khuôn mặt Nước cõi trời mang tính chủ. Ta cũng thấy rất rõ là từ Nut thật ra viết là Nu-T, viết theo linh tự là clip_image024. Nu có một nghĩa là nước, biển vũ trụ diễn tả bằng chiếc bình hình tròn nòn O và T chỉ phái nữ diễn tả bằng ‘nửa ổ bánh mì” clip_image025 (theo tôi là mặt trời âm không có ánh sáng mới mọc, nhật tảo, xem dưới). Rõ như ban ngày Nut là bầu trời mang tính âm Khôn, nữ, nước vũ trụ. Nut bầu trời này khác với bầu trời vung úp clip_image022[1]. Bầu trời vung úp này bằng ngang, có góc cạnh mang dương tính cõi bằng thế gian. Hai đầu có hai mấu nhọn nọc mũi mác mang tính thái dương.

Với ba chiếc bình tròn OOO, Nut có một khuôn mặt Khôn, có một nghĩa là hư không chuyển qua Khôn dương, không gian dương, khí gió thiếu âm phía âm, nữ O.

Khuôn mặt âm (O) thiếu ấm IO này là khuôn mặt Khảm OIO (nước thiếu âm dạng hơi không gian) hôn phối với thần Đất Keb lửa thiếu dương Li như thấy qua hình dưới đây:

clip_image027Thần Nut và thần Keb.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là Nàng O Gió thiếu âm IO, Khảm OIO Long Nữ hay Thần Long hôn phối với Chàng I Đất lửa thiếu dương OI tức Li IOI, Kì Dương Vương.

-Thái cực

.Hình ngữ ANKHclip_image029.

Hình ngữ Ankh có nghĩa là ‘Chìa Khóa của Sự Sống’ có nòng O ở trên và nọc chữ T do hai nọc que kết hợp lại mang tính thái dương ở dưới (như vậy nòng O phải mang tính thái âm để có lưỡng hợp thái âm-thái dương. Theo đúng ngữ pháp của chữ nòng nọc vòng tròn-que thì nòng O phải có nét đậm gấp đôi nòng O chuẩn). Nòng nọc (âm dương) sinh ra sự sống vì thế có nghĩa là Chìa Khóa của Sự Sống.

Hình ngữ Ankh nghĩa là nọc nõ và nòng nường thấy rõ qua hình người bán nam bán nữ ardanari dưới đây của Ấn giáo:

clip_image030Hình người bán nam bán nữ Ardanari.

Bộ phận sinh dục của người ái nam ái nữ này có hình ngữ ankh để ngang. Bộ phận sinh dục nam là phần chữ T mang tính nọc thái dương ở phần thân bên phải (phải là dương) hôn phối với phần quai cong chữ U kép ở nửa thân người nữ bên trái (trái là âm) do hai nòng OO mở ra diễn tả bộ phận sinh dục nữ (âm đạo) mang tính âm thái dương (U là dạng thái dương âm của O ở phía nòng O).

Ở đây bộ phận sinh dục nõ nường dưới dạng ankh nhất thể ứng với thái cực nên người này ở dạng bán nam bán nữ.

. Ankh diễn tả theo dạng người nhất thể, một dạng bán nam bán nữ.

clip_image031Ankh dưới dạng Người ở Đền Edfu, Ai Cập (ảnh của tác giả).

Rõ như ban ngày người Ankh diễn tả bộ phận sinh dục nam bằng từ chữ T mang tính dương thái dương hôn phối với bộ phận sinh dục nữ hai nòng OO biến dạng mang tính thái âm, là người ở dạng lưỡng hợp thái dương-thái âm có một khuôn mặt nhất thể là thái cực.

Tóm lại Ankh nhìn dưới dạng nhất thể có một khuôn mặt là thái cực.

.Quyền trượng (scepter) WASclip_image033.

Cây gậy was thường đi đôi với ankh như hình với bóng.

clip_image034Ankh và was đi đôi với nhau (nguồn: horus86.tripode.com).

clip_image036Was và Ankh kết hợp (shapeways.com).

Was cũng là gậy nòng nọc (âm dương) có đầu trên sừng thú hình búa chim (búa là bổ là buồi) là nọc hay hình đầu nọc ngang đầu chữ T (hình kết hợp) và đầu dưới hình vòm nòng chữ U ngược hình vòm âm đạo là dạng âm thái dương của nòng O là nường (nòng, lồng, lồn). Gậy was nòng nọc, nường nõ, là gậy thần sinh tạo, tạo sinh, tạo hóa giống như ankh.

Nhìn dưới dạng nhất thể cũng có một khuôn mặt thái cực.

. Hình tự Ai Cập sema (union).

Linh tự “sema”, “union” (kết hợp, hôn phối) được diễn tả bằng hình một que-nọc hình cây đinh, một dạng biến thể của từ nọc chữ T. Cây đinh đục, đâm qua túi hình tam giác tròn đỉnh.

clip_image037Linh tự sema (Richard H. Wilkinson, tr. 81).

Các nhà Ai Cập học ngày nay giải thích linh tự này như sau: “linh tự sema biểu tượng hai lá phổi dính vào khí quản, một đơn vị cơ thể học cung cấp một biểu tượng thiên nhiên cho quan niệm kết hợp hai phần bằng nhau…” (“The sema hieroglyph represents two lungs attached to the trachea, an anatomical unit which provided a natural symbol for the concept of the unification of equal parts…”) (Richard H. Wilkinson, tr. 81). Đối với tôi, đây là một linh tự có gốc từ chữ nòng nọc vòng tròn-que. Thật giản dị cây nọc nhọn, cây đinh, cây đục (khí quản!) là từ nọc que chữ T, dương, thái dương biểu tượng cho cơ quan sinh dục nam đâm vào túi hình tam giác ngược tròn đầu (“hai lá phổi”) là âm hộ, là hai nòng OO ở dạng biến thể.“Hai lá phổi” chính là hai đại âm thần (labia majora). Linh tự này hiểu theo nghĩa “dâm phong” ngoài vòng “lễ giáo” của “Man Di” cổ Việt là “làm tình”, giao hợp, đúng như Hồ Xuân Hương đã tả:

Quân tử có thương thì đóng cọc,

Xin đừng mân mó nhựa ra tay.

dĩ nhiên có nghĩa bóng là giao hòa âm dương, hôn phối, kết hợp, “union”.

Ta thấy rất rõ cây đinh từ hai nọc que chữ T mang tính thái dương hôn phối với hình hai lá phổi là hai nòng OO biến dạng mang tính thái âm. Ta có lưỡng hợp thái dương với thái âm.

Nhìn theo diện nòng nọc (âm dương) nhất thể, ta có một khuôn mặt thái cực ở khâu thái dương từ hai nọc que chữ T.

-Lưỡng Nghi

Cực dương.

.Trở lại hình ANKH, WAS nõ chữ T có một khuôn mặt biểu tượng cho cực dương.

.Mặt trời Ra theo duy dương có một khuôn mặt biểu tượng cực dương ngành mặt trời dương thái dương.

clip_image038

Từ con trời thiên tử diễ tả bằng con ngỗng sa có nghĩa là con và từ chấm-vòng tròn có nghĩa là mặt trời.

Hiển nhiên từ chấm vòng tròn với nghĩa mặt trời có một khuôn mặt biểu tượng cho cực dương.

Cực âm.

Ta đã biết mặt trời tạo hóa Ai Cập có lưỡng tính phái. Ở ngành nọc dương thái dương là mặt trời Ra và ở ngành nọc âm là mặt trời Re. Như thế mặt trời Re có một khuôn mặt biểu tượng cực âm ngành nọc thái dương (Từ Chấm Vòng Tròn).

-Tứ Tượng.

a. Tứ tượng nhìn chung.

.Con mắt Horus.

Tứ tượng thấy rõ trong con mắt phải của Horus.

clip_image040Linh tự con mắt Horus .

Horus là thần bầu trời Ai Cập cổ (tương ứng với Hùng Vương) thường diễn tả bằng chim ó (falcon). Mắt phải của Horus liên kết với thần mặt trời Ra.

Con mắt có một nghĩa là mặt trời (trời có mắt). Mắt có nghĩa là sáng (như sáng mắt, người có mắt là người sáng, người không có mắt là người tối, người mù). Mắt biến âm với mặt (vật sáng như mặt trời) [tương tự như Pháp ngữ visage (mặt) biến âm với vision (nhìn, ruột thịt với mắt)].

Ta cũng thấy về cơ thể học, tròng mầu và tròng trắng mắt là dạng biến thể của từ chấm-vòng tròn clip_image042. Từ chấm vòng tròn có một nghĩa là mặt trời.

Mặt trời có một khuôn mặt biểu tượng lửa thái dương, tượng Lửa.

Lông mày cung cong gợn sóng dạng sin (sinusoid) biểu tượng gió thiếu âm, tượng Gió.

Trụ nọc dưới mắt diễn tả núi trụ biểu tượng đất thiếu dương, tượng Đất.

Hình móc nước diễn tả sóng nước chuyển động

Biểu tượng nước thái âm, tượng Nước.

Như thế mắt phải của Horus có tất cả nghĩa vũ trụ tạo sinh của từ chấm vòng tròn. Ở đây thấy rõ nghĩa tứ tượng dương ngành mặt trời Ra.

.Linh tự “sema”, “union” (kết hợp, hôn phối), như đã biết, được diễn tả bằng hình một que-nọc hình cây đinh, cây đục đâm qua cái túi hình tam giác tròn đỉnh, biến thể của nòng O.

Âm dương liên tác sinh ra tứ tượng của “sema” thấy rất rõ trên một cái bình bằng ngọc trắng (alabaster) tìm thấy trong mộ vua Tutankhanum.
clip_image044

Bình nậm ngọc trắng trong mộ Tutankhanum, Thebes (Eighteenth Dynasty), (Richard H. Wilkinson, tr. 80).

Chiếc bình có hình linh tự kết hợp âm dương “sema” nọc đâm vào nòng. Ở góc phải phía trên, tức chiều dương có hình hoa đực có nhụy đực giống hình qui đầu (glans) ở giữa biểu tượng “một dương” tức thiếu dương (young yang). Ở

góc phải dưới có hai hình hoa đực. Hai dương là thái dương (t’ai yang). Phía bên trái tức theo chiều âm, có hình hoa cái giống như hoa kèn có hình túi âm đạo (vaginal pouch) biểu tượng một âm hay thiếu âm (young yin), góc trái dưới có hai hoa cái tương tự là hai âm hay thái âm (t’ai yin). Hiển nhiên chiếc bình hoa này mang trọn nghĩa âm dương, tứ tượng, dĩ nhiên mang nghĩa vĩnh cửu, tái sinh. Chiếc bình này để trong mộ Tutankhanum mang trọn ý nghĩa đó, cầu chúc cho vị vua này được tái sinh hay về miền vĩnh cửu.

b. Tứ tượng nhìn riêng rẽ.

Tượng Lửa.

Như đã nói ở trên

.Cây đục trong tên Narmer diễn tả nọc, chim, lửa có một khuôn mặt biểu tượng cho lửa thái dương, Càn.

. Mặt trời ra clip_image045 có một khuôn mặt biểu tượng cho lửa thái dương, tượng Lửa, Càn.

Tượng Đất.

Linh tự núi djew diễn tả thung lũng nằm giữa hai núi.

clip_image047

Hai núi có cạnh nọc que (II) thẳng đứng, thung lũng lõm hình chữ U, dạng nọc âm nữ mang tính thái dương của nòng O. Gọp lại ta có IOI, quẻ Li, lửa thiếu dương thế gian. Núi djew biểu tượng cho tượng đất thiếu dương Li.

Núi thiếu dương Li này có hai đỉnh nhọn là hai II cần phân biệt với núi ba đỉnh, lửa thái dương III, Càn.

clip_image048Núi ba đỉnh.

Linh tự núi ba đỉnh này có nghĩa là mỏ đá và được dùng như một chỉ định tố (determinative) chỉ liên hệ với sa mạc, đất ngoại quốc. Núi ba đỉnh nhọn là ba nọc, ba hào dương (III) tức nọc, lửa trời.

Núi thái dương, siêu dương này tương ứng với núi nổng của chúng ta và Hán Việt lĩnh, núi nọc siêu dương như núi Nghĩa Lĩnh có đền Hùng Vương.

Ta cũng thấy rõ tại sao có nghĩa là mỏ đá, núi đá, sa mạc vì những nơi này mang tính siêu dương, lửa thái dương. Còn nghĩa các nước lân bang là vì Ai Cập có các nước lân bang nằm sâu trong sa mạc.

Thần Đất Keb.

clip_image027[1]Thần đất Keb và nữ thần Nut.

Thần Đất Keb thiếu dương có nõ hình trụ nọc biểu tượng cho núi trụ thế gian có một khuôn mặt biểu tượng tượng Đất Li, lửa thiếu dương (IOI) hôn phối với nữ thần Nut Bầu trời có mạng Khảm (OIO), nước thiếu âm. Thần Đất Keb tương ứng với Kì Dương Vương, vua tổ Đất thế gian lửa thiếu dương Li của Việt Nam. Keb biến âm với Việt ngữ Kẻ, Kè, Ke, Kì, Que (trụ, cọc, nọc) biểu tượng cho nọc, dương, lửa, bộ phận sinh dục nam (trong khi Nut tương ứng với Thần Long nữ).

Tượng Nước.

Hình ngữ nước không gian, bầu trời.

clip_image051

Tương tự như hình ngữ bầu trời ở trên chỉ có thêm ba hình sóng nước dương nhọn đầu.

Đây là nước dương bầu trời ứng với tượng Nước Chấn.

Tượng Gió.

Thần Gió Shu thường được biểu tượng bằng chiếc lông chim đà điểu đầu gió tạt bẻ cong về phía tay phải phía dương mang ý nghĩa gió dương Đoài IIO tức lửa, thái dương không gian hay không gian thái dương, khí, không khí (khí là hơi nóng, lửa ở dạng hơi).

clip_image052Chiếc lông chim biểu tượng cho Thần Không Khí Shu.

Shu cũng thấy đội trên đầu hình bầu, bình cầu tròn thay vì chiếc lông chim đà điểu thường thấy biểu tượng cho không khí.

.clip_image053  Hai khuôn mặt của thần Shu.

Chiếc bình dạng chữ nòng O biến dạng, chuyển  động mở ra. Bình úp xuống diễn tả vòm không gian, vòm trời khí gió. Trong khi bình để ngửa là một vật đựng biểu tượng cho âm nữ, nước thái âm không gian, bầu trời âm như thấy qua thần Nut dưới đây:

clip_image054Thần bầu trời Nut.

Thần Gió Shu có một khuôn mặt biểu tượng tượng Gió Đoài vũ trụ khí gió.

-Tam Thế.

Tứ tượng dương liên tác với tứ tượng âm sinh ra vũ trụ, muôn vật, muôn sinh chia ra làm tam thế: thượng thế, trung thế và hạ thế.

Ví dụ cây Trụ Djed ngày nay hiểu theo một nghĩa là vững vàng, quân bằng (stability).

clip_image056

Thoạt đầu vào thời Vương Triều Cổ (Old Kingdom) Djed là biểu tượng của thần tạo hóa Ptah. Ptah tự gọi mình là ‘Noble Djed’. Tới thời Tân Triều Đại (New Kingdom) Djed lại liên kết với thần Osiris.

Djed có nghĩa là Trụ (pillar). Cột Trụ cũng có những khuôn mặt là trục thế giới và Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) (xem dưới). Vì thế Trụ Djed cũng vậy. Djed có một khuôn mặt là Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) diễn tả tam thế. Thật vậy, trước hết ta thấy Trụ Djed có bốn thanh ngang. James Churchward, trong The Sacred Symbols of Mu cho là để biểu tượng cho Bốn Nguyên Sinh Động Lực Chính hay đáng được gọi là ‘Bốn Vị Thần Lớn’ (symbolizing the Four Great Primary Forces or, as they were more wont to call them: ‘The Four Great Gods’). Bốn Nguyên Sinh Động Lực Chính ứng với tứ tượng. Như đã nói ở trên, tứ tượng sinh ra tam thế. Rõ ràng Djed có một khuôn mặt diễn tả tam thế. Rõ như hai năm là mười bốn thanh ngang chia ra ba khoảng hở diễn tả tam thế.

Kiểm chứng lại ta cũng thấy Djed liên hệ với thần tạo hóa Ptah ở thượng thế, với thần Osiris có một khuôn mặt là Chúa Cõi Âm hạ thế và thân trụ Djed diễn tả núi trụ thế gian trung thế.

Ngoài ra Djed thường đi đôi với ankh, Chìa Khóa của Sự Sống.

clip_image058Trụ Djed đi đôi với ankh (evolveconciousness.com).

Ankh diễn tả nòng nọc (âm dương), nõ nường cũng sinh ra tam thế.

Ở hình trên ta thấy rõ ankh nõ nường, nòng nọc (âm dương) ứng với lưỡng nghi sinh ra Djed có 4 thanh ngang tứ tượng sinh ra ba khoảng hở giữa bốn thanh ngang là tam thế.

-Trục Thế Giới.

Tam thế được nối liên bằng một trục thế giới.

Trục Thế Giới trong văn hóa Ai Cập nối liền với việc tế lễ thờ trời. Trục Thế Giới Ai Cập cổ hay Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) thấy dưới dạng một thứ trụ hay cột và tìm thấy trong một vài đền miếu và các nơi thờ phượng tôn nghiêm. Trụ Thế Giới này được tin là trung tâm của vũ trụ mà thiên đường như thấy quay quanh nó. (The World-axis in Egyptian culture was connecting to sky-cultic rituals: the World Ancient Egypt Axis or the World Tree was seen in the form of a certain pillar or post -and was to be found in some of the ancient temples and sanctuaries. This World Pillar was believed to be the center of the universe around which the heavens appeared to revolve).

Trụ Djed nói trên có thân xuyên qua 4 thanh ngang tam thế có một khuôn mặt là trục thế giới.

-Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống).

Tam thế với trục thế giới được biểu tượng bằng một Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống),

Trụ Djed nói trên hiển nhiên có một khuôn mặt là Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống).

Cây Vũ Trụ của Ai Cập cổ cũng có dạng hình chữ T.

clip_image059Cây vũ trụ hình chữ T của Ai Cập cổ.

Mặt trời có một khuôn mặt tạo hóa ở trên đầu ngang chữ T diện tả thượng thế. Cành cây đầu ngang chữ T là trung thế cõi đất bằng ngang. Gốc cây là hạ thế. Thân cây là trục thế giới (xem Sự Tương Đồng Giữa Ai Cập Cổ và Cổ Việt).

Cây hình chữ T diễn tả Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) thấy rõ trong văn hóa Maya.

clip_image061

Cây Tam Thế, Cây Vũ Trụ, Cây Đời Sống Maya hình chữ T (tau) (James Churchward, The Sacred Symbols of Mu).

(Cây có quả ở thân cây mang hình ảnh cây cacao).

Thượng thế diễn tả bằng hình con chim. Cành Cây ngang là Trung Thế, Cõi Đất thế gian. Gốc Cây có hình lá đa, trái tim ba thùy ngược mang thêm âm tính do ba nòng âm OOO mở ra là Cõi âm Hạ Thế.

Ngoài ra Trong các văn kiện Ai Cập cổ “Trục Thế Giới” thường được coi như là “Cây Đời Sống”. Thân Cây Đời Sống biểu tượng cho Trụ Thế Giới hay Trục Thế Giới (nghĩa đen “Trục Mô Đất nguyên khởi) (The “World-Axis” is often referred to as the “Tree of Life” in the ancient Egyptian texts. It was the trunk of the Tree of Life that represented the World Pillar or Axis Munde (literally “Axis of the Mound”).

Như thế, như đã nói ở trên, trụ Djed có một khuôn mặt là trục thế giới thì cũng có một khuôn mặt là Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống).

-Sinh Tử, Tái Sinh, Hằng Cửu.

Ví dụ:

.Ankh

Như đã biết hình ngữ Ankh là ‘Key of Life’.

.Vòng Shen.

Vòng shen có nghĩa là sự sống, vĩnh cửu và che chở.

shen 2

Hình vòng tròn có tiếp tuyến mang nghĩa sự sống, vĩnh cửu và che chở (Richard H. Wilkinson, tr. 193).

Vòng tròn nòng và tiếp tuyến nọc tiếp xúc nhau hay cột vào nhau mang nghĩa nõ nường hôn phối sinh tạo, tái sinh, hằng cửu theo thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh.

Cũng nên biết là hình ngữ shen nòng nọc, nõ nường ‘cột vào nhau’ có nghĩa là ‘làm tình’ trong Việt ngữ. Người Bắc nói giao hợp là địt. Theo biến âm đ=d như đa = da (cây), ta có địt = dịt. Từ dịt có một nghĩa là dính vào nhau, dán dính vào, buộc vào nhau như dịt thuốc vào vết thương. Theo d = n như dăm = năm, ta có dịt = nịt. Nịt là dây, đai, thắt lưng; nai nịt là cột người bằng thắt lưng, bằng dây. Như thế địt chỉ làm tình có nghĩa là dính vào nhau, cột vào nhau (Ý Nghĩa Những Từ Thô Tục Trong Việt Ngữ).

Kết Luận

Rõ như ban này chữ nòng nọc vòng tròn-que thấy rõ mồn một trong các dấu, hình, hình ngữ, linh tự Ai Cập.

Hiện này các nhà Ai Cập cổ học không giải nghĩa các hình, dấu, biểu tượng Ai Cập cổ theo chữ nòng nọc vòng tròn-que nên chỉ hiểu văn hóa Ai Cập theo một diện của một người chột mắt và đi chân chữ bát, ‘lang ba vi bộ’ (xàng qua xàng lại), nói qua nói lại, nói tới nói lui, giải nghĩa loanh quanh.

Cũng giống trường hợp các nhà làm văn hóa Việt Nam hiện nay không dựa vào chữ nòng nọc vòng tròn-que, Việt Dịch Nòng Nọc nên giải thích truyền thuyết và cổ sử Việt theo duy tục, ma thuật, nghiêng nhiều về mê tín dị đoan, theo văn hóa du lịch nên chỉ là những kẻ phù thủy, những tay làm xiếc văn hóa Việt mê hoặc làm u mê cả một dân tộc Việt.

(còn nữa).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: