CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE: CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE VÀ DẤU HÌNH, BIỂU TƯỢNG HÌNH HỌC.

 

CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE.

CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE VÀ DẤU HÌNH, BIỂU TƯỢNG HÌNH HỌC.

(Phần 1).

Nguyễn Xuân Quang.

Từ chữ nòng nọc vòng tròn-que đẻ ra hình vẽ, các dấu hình (signs), biểu tượng (symbols), chữ viết bằng hình gọi là hình ký, (pictographs) hình tự hay hình ngữ (pictogram) và các chữ viết ngày nay. Có những hình vẽ, dấu hình, biểu tượng nòng nọc (âm dương) này trở thành các dấu hình, biểu tượng hình học. Trong chữ nòng nọc vòng tròn-que các dấu hình hình học này có nghĩa nghiêng nhiều về mặt tâm linh, tín ngưỡng, triết thuyết, thiên văn học… Ngày nay thật không may mắn thường được giải thích cho những hình đó là các hình vẽ trang trí hay trang hoàng và tệ hơn nữa là dùng chúng làm hình trang trí hay trang hoàng với ý nghĩa khác hẳn. Các ý nghĩa này ngày nay tùy theo các tín ngưỡng, tôn giáo, văn hóa theo duy dương hay duy âm, còn giữ nguyên nghĩa nguyên thủy hay đã thay đổi, hiểu theo nghĩa suy diễn, có thể khác hẳn với nghĩa nguyên thủy mang tính nòng nọc chính thống.

Qua các bài viết về chữ nòng nọc vòng tròn-que ta đã có nhiều dịp thấy các dạng hình học này vì vậy ở đây chỉ xin giải thích và đối chiếu nghĩa hiện nay với ý nghĩa nguyên thủy mang tính nòng nọc của các dạng hình học chính yếu mang nghĩa biểu tượng.

Theo James Churchward trong The Sacred Symbols of Mu, ba dấu hình biểu tượng hình học chính dùng trong giảng dậy tín ngưỡng là vòng tròn, tam giác đều và hình vuông.

clip_image002

Tại sao? Hạ hồi sẽ rõ.

1. VÒNG TRÒN.

Vòng tròn có nguồn gốc từ một điểm (.) (point).

Trong hình học điểm là một chấm, một vị trí trong không gian.

Theo Cirlot trong A Dictionary of Symbols, điểm, chấm có những ý nghĩa biểu tượng: nhất thể, nguồn cội.

clip_image004(Nguồn: Cirlot, A Dictionary of Symbols)

Qua bài viết Chữ Nọc Chấm Đặc và Chữ Nòng Chấm Rỗng ta đã biết rõ chấm là dạng nguyên khởi của chữ nòng nọc vòng tròn-que. Theo duy âm là chấm rỗng tức nòng chấm rỗng có trước tiên sau đó nòng chấm rỗng dương hóa đặc lại thành nọc chấm đặc. Theo duy dương là chấm đặc tức nọc chấm đặc có trước tiên rồi sau đó nọc chấm đặc âm hóa rỗng ra thành nòng chấm rỗng. Như thế nói chung chấm là dạng nguyên khởi mang tính nguyên tạo, sinh tạo, tạo hóa (origin), mọi thứ trong vũ trụ này đều khởi sự từ dạng vi thể (hạt tử, nguyên tử hay siêu nhỏ hơn nữa…). Vì chấm mang lưỡng tính phái: chấm đặc mang tính dương (như mặt trời Ra mang dương tính thuộc ngành nọc dương thái dương có hình đĩa tròn-nọc chấm đặc clip_image006) và chấm rỗng mang tính âm (như mặt trời Re mang âm tính thuộc ngành nọc âm thái dương có hình đĩa tròn-nòng chấm rỗng clip_image008) nên chấm nhìn chung mang tính nhất thể (unity). Tóm lại chấm mang tính lưỡng tính phái, nhất thể, nguồn cội, nguyên tạo đúng như Cirlot đã ghi nhận ở trên.

Ví dụ điển hình là chấm (đặc hay rỗng) có một nghĩa là một (1), nhất thể (unity) thấy rõ qua từ Anh ngữ Universe.

Universe, vũ trụ có nghĩa đen là “qui về một”, “trở thành một”. Tại sao?

Như đã biết đại lược thì Vũ trụ tạo sinh (cosmogony) dựa trên nguyên lý lưỡng hợp, lưỡng thể, nhị nguyên. Vũ trụ khởi đầu từ Vĩnh cửu (Eternity), cái Không thể biết (the Unknowable). Bắt đầu là một chấm. Theo duy âm là nòng chấm rỗng, rồi thành một bọc trống không gọi là hư vô, Vô cực (Nothing). Từ đó cực hóa thành Thái cực (Great Ultimate, The Grand Ridge-pole). Thái cực coi như là một cái Trứng Vũ Trụ (Cosmic Egg) còn ở dạng nhất thể. Lòng trắng là âm là nòng, tròng đỏ là dương là nọc. Rồi Thái cực phân cực ra thành Lưỡng nghi (Liang I): Nòng, âm (Feminine or negative principle, Yin) và Nọc, dương (Masculine or positive principle, Yang). Nòng nọc, âm dương liên tác sinh ra Tứ tượng (Four Hsing, Four Great Primary Forces). Về vật thể gồm Lửa, Nước, Đá, Khí vũ trụ (comic Fire, cosmic Vapor, Meteorite, cosmic Gas or ether). Tứ tượng vận hành (in movement, in motion, in action) trở thành Tứ Hành (active, dynamic Four Great Primary Forces). Âm dương, tứ hành vận hành, chuyển hành, liên tác với nhau dưới dạng năng động tạo ra vũ trụ vạn vật, tạo ra Tam thế (Triple World), tạo ra sự sống (Life), sinh ra con người và vạn vật sống, thường được biểu tượng bằng hình một cái cây gọi là Cây Vũ Trụ (Cosmic tree), Cây Tam Thế (Tree of Triple World), Cây Đời (Tree of Life).

Universe có

.gốc uni– = Latin unus, ruột thịt với Pháp ngữ un, Tây Ban Nha ngữ uno, Anh ngữ an, one, Việt ngữ ên, ơn có nghĩa là một (mình ên).

.và –verse ruột thịt với Latin versus, vặn, quay, trở, đường đi, hàng lối. Versus quá khứ phân từ của vertere, vặn, quay, trở, liên hệ với gốc Phạn ngữ wart, war, to turn, liên kết với worth, (to become, to be).

-có ver- = vần (xoay), vẹo, vặn (qua).

-theo v=qu (như vấn = quấn) ta có ver- = quẹo (qua).

-theo v=x (như vặn = xoắn) ta có ver- = xoay.

Như thế Universe là ‘quẹo’, “ xoay, quay về “một”, qui về Nhất Thể (Unity, Totallity), Trứng Vũ Trụ có âm có dương.

Còn từ Vũ Trụ có Vũ là Vỏ là bao là bọc là nang là Nòng ứng với bầu không gian, bầu trời (bầu là bao, là bọc) và Trụ là cột, là Nọc. Vũ Trụ là Nòng-Nọc, âm dương, là không gian-mặt trời. Nhưng về tính nòng nọc, âm dương vũ trụ khác với universe là Trụ có hình nọc que, tức nọc ở tầng lưỡng nghi, lưỡng cực còn Uni- là Một ở dạng tổng quát hơn. Uni là một có thể ở dưới dạng chấm tròn (.) mang tính sinh tạo ứng với Thái Cực hay Trứng Vũ Trụ và Uni là 1 cũng có thể ở dưới dạng nọc que số 1 tức dạng Trụ cùng tính âm dương nòng nọc với Vũ Trụ.

Chấm trong chữ nòng nọc vòng tròn-que là nguồn cội của vũ trụ thế giới và trong môn học hình học là một điểm trong không gian, là khởi điểm của các hình hình học khác.

Theo duy âm (nòng), chấm sinh ra vòng tròn và theo duy dương (nọc), sinh ra đường thẳng, đoạn thẳng, nọc que (xem dưới).

Như vậymột chấm ở dạng nhất thể (chấm rỗng mang âm tính, chấm đặc mang dương tính) và là nguồn cội (origin) của tất cả. Chấm, điểm mang tính sinh tạo, nguyên tạo, tạo hóa.

Hiển nhiên theo duy âm, nòng chấm rỗng trưởng thành thành vòng tròn. Theo duy dương nọc chấm đặc âm hóa thành nòng chấm rỗng và rồi thành vòng tròn. Như thế vòng tròn có một khuôn mặt nguồn cội, tạo hóa, nhất thể và mang tính âm trội.

Ngày nay vòng tròn có những ý nghĩa biểu tượng chính như:

-Nguyên lý nòng nọc (âm dương).

Vòng tròn biểu tượng cho nguyên lý cái, đực, nòng nọc (âm dương).

clip_image010Một trong những ý nghĩa của vòng tròn là diễn tả nguyên lý cái đực, nòng nọc

(Kathryn Wilkinson, Signs and Symbols, DK Publishing, NY, 2008).

Như vừa nói ở trên, vòng tròn mang tính nhất thể, lưỡng tính phái nên hiển nhiên biểu tượng cho nguyên lý cái, đực, nòng nọc (âm dương) khi ở dạng hai cực riêng rẽ.

-Nhất thể

clip_image012(nguồn: Cirlot, A Dictionary of Symbols).

Nhất thể là dạng hai nguyên lý nòng nọc (âm dương) ở dạng chưa cực hóa còn quyện vào nhau ứng với thái cực. Dạng nhất thể là Tất Cả (All), là Tổng Thể (Totality), là vũ trụ universe.

Ý nghĩa này cũng lấy từ chữ nòng nọc vòng tròn-que, dịch học.

-Vô cùng, vô tận (Infinity).

Vòng tròn không đầu, không đuôi là biểu tượng phổ quát cho vĩnh cửu, vĩnh hằng, hoàn tất và hoàn chỉnh. Ý nghĩa này cũng rút ra từ ý nghĩa vòng tử sinh, tái sinh, vĩnh cửu, vĩnh hằng của vũ trụ tạo sinh, dịch học.

-Số mười (10).

Vòng tròn mang một sự liên hệ với nào đó với số mười biểu tượng sự trở về nhất Thể từ đa thể [circle bears a certain relationship to the number ten (symbolizing the return to unity form multility, Cirlot, A Dictionary of Symbols)].

Chúng ta biết số 10 là số bù (đánh bài gặp số bù là tiêu tùng). Trong chín con số đếm, số 9 trở về lại số không 0 nên số mười coi như tương đương với số 0. Vì thế Anh Mỹ có từ ‘number ten’ với nghĩa hạng bét (bét chính là Anh ngữ bad).

Số 10 là số bù là số triệt tiêu (trở về số zero 0) vì có số 1 là số nọc (I) số dương và số 0 là số nòng (O) âm. Nòng nọc (âm dương) cộng lại dưới dạng đối nghịch nòng nọc (âm dương) có một khuôn mặt triệt tiêu số 0. Trong bài thơ Có Những Giờ Học làm hồi trung học, tôi đã viết:

Có những giờ học,
Không biết làm tính cộng,
Một đàn ông, một đàn bà,
Là hai hay là ba?
Hay chỉ là số không?

Ở đây một lần nữa ta cũng thấy số không zero 0 có một khuôn mặt là hư vô O và cũng có khuôn mặt hàm chứa nhất thể (hư vô hàm tính cực hóa) của nòng chấm rỗng như đã nói ở trên.

Điểm này giải thích, xác thực, vòng tròn bao quanh đầu các nọc tia sáng mặt trời ở tâm trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn có hai khuôn mặt vừa là vỏ hư vô vừa là vỏ trứng vũ trụ (lúc này là vỏ không gian) như tôi đã giải thích trong Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc Âm Dương Đông Nam Á.

clip_image014Vòng tròn bao quanh đầu các nọc tia sáng mặt trời ở tâm trống đồng có hai khuôn mặt vừa là vỏ hư vô vừa là vỏ trứng vũ trụ.

-Thượng đế.

Trong các tín ngưỡng, tôn giáo về sau này, Thượng đế God lúc đầu đột lốt vũ trụ, đấng tạo hóa và rồi chiếm ngôi vũ trụ, thay thế vũ trụ, đấng tạo hóa. Thượng đế có một khuôn mặt hư vô, đội lốt hư vô (ví dụ chết là về với thượng đế hay trở về với hư vô) hay tiếm vị hư vô. Vì vậy vòng tròn là một biểu tượng thường thấy biểu tượng cho thượng đế (God) (Kathryn Wilkinson, Signs and Symbols, DK Publishing, NY, 2008).

Như vừa nói ở trên, nòng vòng tròn O có một nghĩa là nhất thể, trứng vũ trụ, thái cực, vũ trụ vì thế thượng đế, đấng tạo hóa cũng mang lưỡng tính phái, nhất thể, nên thường ở dạng bán nam bán nữ như Thần Nông-Viêm Đế, Abrahma, Ra nhất thể…

-Vòng sinh tử, luân hồi.

Ấn giáo và Phật giáo coi vòng tròn biểu hiện sinh, tử, tái sinh và trong Phật giáo cũng biểu hiện Pháp Luân. Những ý nghĩa này lấy ra từ vũ trụ tạo sinh của vũ trụ giáo trong đó có vòng sinh tử, tái sinh, luân hồi còn thấy trong các nền văn hóa khác theo hay bị ảnh hưởng của vũ trụ giáo.

-Đĩa mặt trời.

Vòng tròn thường biểu tượng cho đĩa mặt trời. Ý nghĩa này lấy ra từ chữ nòng vòng tròn O.

Nhưng ngày nay quên mất tính đĩa mặt trời này không có nọc tia sáng hay vòng sáng là mặt trời nguyên tạo, sinh tạo. Mặt trời này có một khuôn mặt biểu tượng Thần Tổ Độc Nhất (Monotheistic symbol) (James Churchward, The Sacred Symbols of Mu).

Phải hiểu đây là mặt trời nguyên tạo, sinh tạo hay theo duy âm là mặt trời nòng âm, mặt trời nữ như thấy trên lá cờ Nhật Bản, con cháu của thái dương thần nữ Amaterasu.

Hình cầu tròn.

Ở dạng khối, hình cầu tròn cũng chia sẻ những ý nghĩa biểu tượng với vòng tròn. Ngày nay khối cầu tròn thường tượng trưng cho cõi trên, thiên đường (heaven) và/hoặc vũ trụ tâm linh (spiritual universe). Dante mô tả thiên đường là một loạt khối cầu đồng tâm dựa trên một vũ trụ với trái Đất ở tâm (Kathryn Wilkinson, Signs and Symbols, DK Publishing, NY, 2008).

Trong vũ trụ tạo sinh, chữ nòng nọc vòng tròn-que, dịch học khối cầu tương đương với nòng vòng tròn. Ví dụ điển hình thấy qua hình thần Shiva với khuôn mặt lưỡng tính phái, tay phải cầm nõ dương vật và tay trái cầm nường âm vật hình khối cầu.

clip_image016Thần Shiva lưỡng tính phái (ảnh của tác giả, chụp tại Art Gallery of New South Wales, Sydney).

Biểu Tượng Vòng Tròn Trên Trống Đồng.

Tất cả các ý nghĩa của các dấu, hình hình học nói trên đều thấy trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn (xem Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que Từ Nòng Vòng Tròn).

 2. TAM GIÁC

Như đã biết tam giác là do ba nọc que hợp lại. Nọc que đối nghịch với vòng tròn nòng. Nọc que là một khuôn mặt của đường thẳng. Một chấm nọc đặc phân sinh tách ra làm hai chấm nọc. Nối hai điểm, hai chấm nọc ta có một đường thẳng. Khoảng đường thẳng nằm giữa hai điểm là một đoạn thẳng (segment). Nọc que mang hình ảnh đoạn thẳng, đường thẳng.

Theo duy âm, nòng vòng tròn mở ra thành đường thẳng, nọc que.

Như vậy nọc que có tất cả các ý nghĩa của nọc chấm đặc trong vũ trụ tạo sinh của vũ trụ giáo, dịch học chỉ khác tính sinh tạo ở tầng lưỡng nghi.

Nọc que, đường thẳng, đoạn thẳng cũng có tất cả các ý nghĩa biểu tượng của nòng vòng tròn nhưng ngược tính nòng nọc (âm dương) như nọc, đực, dương, mặt trời, tạo hóa, đấng tạo hóa, vĩnh cửu… của ngành nọc dương.

Tam giác đã viết rất rõ trong bài viết Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que: Từ Ba Nọc Que (xim xem bài viết này), ở đây chỉ nhắc lại những điểm chính.

. Tam giác là một từ ba nọc que mang trọn vẹn ý nghĩa vũ trụ tạo sinh, là một quẻ ba cạo, ba hào (trigram) ở tầng tám quẻ, bát quái mang tính sinh tạo cõi nhân gian.

Trong các nền văn hóa muộn theo duy dương, theo xã hội phụ quyền, nhất là ở phương Tây thường dùng biểu tượng tam giác đều này thay cho biểu tượng vòng tròn. Vì thế mà theo Cirlot trong A Dictionary of Symbols thì tam giác và vòng tròn là hai biểu tượng căn bản.

clip_image018Vòng tròn và tam giác là hai biểu tượng căn bản.

Hiển nhiên đây là ý nghĩa rút ra từ chữ nòng nọc vòng tròn-que. Tam giác có một nghĩa là nõ, dương vật (bảng hiệu nhà vệ sinh phái nam) và vòng tròn là nòng, nường, âm vật. Đây là hai chữ nòng nọc vòng tròn-que căn bản mang tính sinh tạo bậc ba. Tây phương theo xã hội phụ quyền cực đoan hiểu theo nghĩa bậc ba cõi nhân sinh này nên quan niệm tam giác là một biểu tượng nọc bắt cặp với vòng tròng nòng O trong cặp lưỡng hợp nòng nọc (âm dương) mới cho là những biểu tượng căn bản.Theo chính thống biểu tượng căn bản của ngành nọc dương phải là nọc chấm đặc nguyên tạo (.) hay nọc que (I ) biểu hiện. Văn hóa coi tam giác mang tính bậc ba, siêu dương là biểu tượng căn bản, là văn hóa muộn của xã hội phụ quyền cực đoan. Cirlot đã nhìn theo hướng này.

Xin lưu tâm là vì tam giác mang tính siêu dương nên vòng tròn bắt cặp với tam giác phải mang tính siêu âm tức có độ dầy gấp ba lần của vòng tròn chuẩn.

Một vài ý nghĩa biểu tượng chính của tam giác hiểu theo hiện nay:

Tam giác biểu tượng số 3, bộ ba, ba phần, bậc ba (ternary).

Tam giác có ba cạnh là ba nọc que về số học biểu tượng cho số 3.

Ví dụ như Tam Vị Nhất Thể (Trinity) có biểu tượng là tam giác (xem dưới).

Ý nghĩa rút ra từ thái cực.

-Thượng đế Tam Vị Nhất Thể.

Ai Cập cổ cho thần tổ đứng đầu, đấng chí tôn (godhead) là hình tam giác, Babylon, Ấn Độ giáo và Thiên Chúa giáo, tam giác thuận biểu tượng cho God có một khuôn mặt là Tam Vị Nhất Thể (Trinity) như thấy qua bộ tam thần nam của Ấn giáo:

clip_image019Thượng Đế Tam Vị Nhất Thể Ấn giáo (Hindu Trinity of God).

Tam thần tổ nam của Ấn giáo là Brahma, Shiva và Vishnu ứng với ba đỉnh của tam giác thuận và có một khuôn mặt nhất thể.

God Thiên Chúa giáo là Tam Vị Nhất Thể Trinity (Cha ‘Father’, Con ‘Son’ và Thánh Thần ‘Holy Ghost’) kết hợp lại thành một godhead, cũng được diễn tả bằng một tam giác:

clip_image020

Trung Quốc có quan niệm tam thiên. Ba là Trời. Trời có một khuôn mặt là thượng đế, đấng sinh tạo. Vậy tam giác là thiên.

Những quan niệm này rút ra từ vũ trụ tạo sinh, dịch nòng nọc vòng tròn-que. Từ ba nọc que hay quẻ Càn hay ghép lại thành tam giác đều có một khuôn mặt biểu tượng Đấng Tạo Hóa (Triangle symbolized the Creator), thấy rõ nhất khi trong tam giác có từ chấm-vòng tròn.

clip_image021Tam giác diễn tả đấng tạo hóa (James Churchward, The Sacred Symbols of Mu).

Từ chấm-vòng tròn clip_image006[1] có một nghĩa là đấng tạo hóa, sinh tạo nhất thể nòng nọc (âm dương) ở đây dùng như một dấu.

Vì thế thượng đế, đấng tạo hóa ở đây nhìn theo tam giác đều, thuận gồm ba nọc que ứng với quẻ Càn thì phải hiểu là của nhân gian (bậc ba) ngành nọc dương thái dương thì mới đúng, mới chuẩn. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử việt, Đế Minh, Đế Ánh Sáng Càn là thượng đế, thần tổ cõi thế gian sinh ra Vua thế gian Kì Dương Vương.

-Tam Vị Nhất Thể Nữ Thần của Ấn giáo.

Như đã biết vị trí và các yếu tố phụ khác thêm vào tam giác thay đổi ý nghĩa của tam giác. Một tam giác đều, ngược có đỉnh chỉ địa về hướng âm là tam giác mang tính âm (có một khuôn mặt biểu tượng cho bộ phận sinh dục nữ).

clip_image022Hindu Trinity of Goddess.

Vì vậy ba nữ thần tổ của Ấn giáo là Saraswati, Shakti và Lakshmi ứng với ba đỉnh của tam giác ngược có một khuôn mặt nhất thể là tam giác ngược.

-Hình ngôi sao sáu cánh mang nghĩa nòng nọc (âm dương) lưỡng hợp.

. Hai tam giác thuận, dương và nghịch, âm chồng lên nhau tạo thành hình ngôi sao sáu cánh.

clip_image023

Học giả Do Thái Gersholm Scholem cho biết biểu tượng này được dùng từ thời đồ đồng – có thể là một thứ trang trí và cũng có thể là một dấu hình ma thuật – trong nhiều nền văn minh và ở các miền cách xa nhau như Lưỡng Hà và Anh Quốc. Nó được tìm thấy như một biểu tượng linh thiêng ở các phế tích từ Maya ở Mexico và Guatemala cho tới Nepal và Tây Tạng (Gersholm Scholem points out that this symbol was used, “From as early as the bronze age –possibly as an ornament and possibly as a magic sign – in many civilizations and in regions as far apart as Mesopotamia and Britain.” It is found as a sacred symbol in temples from Mayan ruins in Mexico and Guatemala to Nepal and Tibet).

Xin đưa ra vài ba ví dụ:

./Trong sự thờ phượng sinh thực khí (Cultic worship of the sexual organs) và thiền định, Phật giáo Mật Tông (Tantric Buddhism) dùng hình lục giác do hai tam giác kết hợp lại (use of the hexagram, a combination of two triangles) diễn tả nõ và nường giao phối với nhau (xem dưới).

./Ngôi sao Ấn giáo

clip_image024

Hai tam giác chồng lên nhau tạo thành ngôi sao 6 cánh biểu tượng cho kết hợp lưỡng cực, dương và âm. Hôn phối sinh ra vũ trụ.

./Ngôi sao David.

clip_image025Cờ Do Thái.

Ngôi sao sáu cánh (hexagram) hay ấn của Solomon (“seal of Solomon”) hoặc Magen David là một biểu tượng đã thấy dùng từ thời Trung Cổ. Hiện nay giải thích theo Do Thái giáo. Nhìn dưới diện đạo lý, hai tam giác chồng lên nhau diển tả lưỡng phân thiện (dương) và ác (âm) (Another view is that the two overlapping triangles represent the dichotomies of good and evil). Tam giác thuận hướng lên thượng thế và tam giác ngược hướng xuống hạ thế.

Biểu tượng này, do hai tam giác chồng lên nhau, theo nghĩa nguyên thủy của chữ nòng nọc vòng tròn-que là nõ nường, nòng nọc (âm dương) giao hợp giao hòa với nhau, nguyên lý căn bản của vũ trụ thuyết, dịch lý.

Thượng đế là đấng nhất thể, lưỡng tính phái do hai tam giác thuận nghịch (tam vị nhất thể dương, âm) chồng lên nhau ứng với thái cực.

Ý nghĩa rút ra từ Lưỡng Nghi.

-Bộ phận sinh dục nam.

Như đã biết, tam giác thuận có một khuôn mặt biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam.

clip_image026(http://www.123rf.com/stock-photo).

-Đực, phái nam.

Ví dụ tiêu biểu là bảng hiệu phòng vệ sinh phái nam thấy ở Hoa Kỳ và một số quốc gia khác (Hai Chữ Nòng Nọc Còn Thấy Trước Mắt Hàng Ngày).

clip_image027Bảng hiệu phòng vệ sinh hình tam giác chỉ phái nam.

Ý nghĩa này hiển nhiên phát gốc từ chữ nòng nọc vòng tròn-que tam giác (Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que Từ Ba Nọc Que 1).

-Cái, nữ, bộ phận sinh dục nữ. Ý nghĩa nguyên thủy nhất chỉ bộ phận sinh dục nữ của từ tam giác ngược thấy rõ qua:

.Tranh dân gian Việt Nam.

clip_image028Tranh dân gian Việt Nam (sưu tập của Oger).

Trên tường Nhà hàng đồng có ‘graffiti’ hình âm hộ hình tam giác đi cùng theo hàng chữ nôm “Đéo mẹ cha đứa nào ở trong cái nhà này”.

.Nữ thần Mẹ, Mẹ Tổ, Mẹ Nguyên Khởi của loài người, Nữ Thần Mắn Sinh.

Ví dụ:

Nữ thần Mắn Sinh (Fertility Goddess).

Nữ thần mắn sinh Asherah có nhiều tên tùy ở vùng địa lý được thờ phượng như Astarte, Ashtoreth, Atargatis, Athirat, Venus, Isis, Juno, Ishtar, Aphrodite, Hadad vân vân… bộ phận sinh dục của nữ thần được diễn tả bằng hình tam giác ngược cường điệu.

clip_image029Nữ thần mắn sinh Ashera có bộ phận sinh dục nữ diễn tả bằng hình tam giác ngược cường điệu (nguồn: watchmanscry.com).

clip_image030Nữ thần mắn sinh Astarte vùng Lưỡng Hà có bộ phận sinh dục nữ diễn tả bằng hình tam giác ngược cường điệu (nguồn: Richard Cavendish, Illustrated Encyclopedia of Mthology).

Ý nghĩa này ứng với ý nghĩa từ nọc tam giác ở hai cực lưỡng nghi.

Ý nghĩa rút ra từ Tứ Tượng.

a. Biểu tượng Lửa của phái Luyện Kim Đan (Alchemism).

clip_image031Từ tam giác diễn tả lửa thái dương.

Trong ngũ hành của Trung Quốc hành hỏa cũng diễn tả bằng tam giác.

clip_image033Tam giác chỉ Lửa.

-Mặt trời.

Như vừa nói tam giác diễn tả lửa thái dương, Càn. Càn có một khuôn mặt là mặt trời tạo hóa. Tam giác có một nghĩa mặt trời thấy rõ nhất khi có thêm các chi tiết khác xác thực ví dụ như tam giác có nọc tia sáng:

clip_image035Sơ đồ vũ trụ tạo sinh Babylon (James Churchward, The Sacred Symbols of Mu).

Trong tam giác mặt trời có con mắt. Con mắt có một nghĩa là mặt trời, xác thực tam giác là mặt trời.

Hay rõ hơn trong tam giác có hình mặt trời.

clip_image036clip_image037Tam giác có mặt trời trong con rắn ngậm đuôi xác thực nghĩa mặt trời của tam giác. Tam giác là mặt trời Càn và con rắn là không gian Khôn.

Hình này có nghĩa nòng nọc (âm dương), càn khôn.

-Nọc tia sáng mũi mác tam giác lửa thái dương.

Mặt trời thái dương có các nọc tia sáng tam giác clip_image038 thấy trên tảng đá bùa ở Đền Hùng Vương Phú Thọ. Bên trong mặt trời có bỏ dấu chữ vạn (có một nghĩa mặt trời) xác thực mặt trời là mặt trời thái dương, có nọc tia sáng tam giác biểu tượng cho Lửa thái dương.

b. Núi

Hình tam giác thuận có một nghĩa biểu tượng cho núi nhọn đỉnh, một hình ảnh của núi lửa biểu tượng cho đất lửa dương. Tam giác thuận dùng làm biểu tượng cho núi như thấy qua:

.Uighur và Trung Quốc:

clip_image040Hình mũi mác bôi đen là núi của Uighur và Trung Quốc Yo, nó tương đương với tam giác. Cũng có nghĩa là ‘đi lên, hướng thiên’ (James Churchward, The Sacred Symbols of Mu).

.Đông Nam Á

Ở Đông Nam Á hải đảo hình tumpal hay tam giác thường diễn tả đồi hay núi (the tumpal or triangle design in Insular Southeast Asia is often said to represent hills or mountains).

Theo Madeleine Colani một thiết kế gồm một tam giác sọc với vòng tròn nhỏ ở trên thấy trong các đồ châu báu của Lào, Việt Nam thường được dân bản địa cho là diễn tả mặt trời (According to Madeleine Colani, a design consisting of a hachured triangle with a small circle on top found in jewelry of Laos and Vietnam was said by locals to represent the Sun).

Ở đây phải hiểu là mặt trời trên đỉnh núi là mặt trời thượng đỉnh (zenith) chính ngọ, giữa trưa, chói sáng, rạng rỡ nhất ứng với vua mặt trời ‘trụ nọc’ Kì Dương Vương (Kì có một nghĩa là cây, trụ, nọc).

Tam giác ngược mang âm tính diễn tả đất âm ngược với tam giác thuận diễn tả đất dương. Ví dụ biểu tượng Đất của phái Luyện Kim Đan:

clip_image041

Kiểm chứng lại ta cũng thấy, như đã biết tam giác ngược có nguyên thể là từ nọc chữ V có những nghĩa là hố sâu, vực thẳm, thung lũng tức đất âm.

Kiểm chứng thêm ta cũng thấy hình tam giác ngược cắt bỏ đầu (thành hình thang ngược) cũng có một nghĩa biểu tượng cho đất: ‘inverted triangle (with apex pointing downwards), with the tip cut off, symbolizes earth’ (J. E. Cirlot, A Dictionary of Symbols).

c. Gió

Hình tam giác có thêm thanh ngang hay cắt cụt đầu biểu tượng cho không khí của phái Luyện Kim Đan:


clip_image042

d. Nước.

Đối ngược với tam giác thuận lửa, tam giác ngược có một nghĩa là nước mang tính siêu dương, ngành nọc dương thái dương.clip_image044

Biểu tượng Luyện Kim Đan chỉ nước nóng hay nước ấm (an alchemical symbol indicating hot or warm water).clip_image045Nước Nóng.

Tam giác ngược biểu tượng nước và mặt trời ở trong diễn tả nóng.

Tất cả các dấu, hình diễn tả lửa, đất, nước, gió ở trên đều có nghĩa phát gốc từ ý nghĩa tứ tượng của từ nọc tam giác trong chữ nòng nọc vòng tròn-que.

Kim tự tháp

Hình tháp nhọn có thiết diện đứng là một tam giác được coi như là một dạng khối tháp tam giác cũng chia sẻ ý nghĩa biểu tượng với tam giác, ví dụ như thấy qua chữ A hình tháp nhọn đầu của tên thành phố Barcelona, Tây Ban Nha.

clip_image047Chữ A trong tên bArcelona (ảnh của tác giả chụp tại Barcelona).

Kim tự tháp là tháp nhọn có đáy là hình vuông cũng chia sẻ những ý nghĩa biểu tượng với tam giác đều thuận. Ngày nay kim tự tháp thường tượng trưng cho Đất. Trong khi đỉnh biểu tượng cho thiên đường, cõi trên.

Kim tự tháp dùng làm mộ chôn các vị vua Ai Cập và các vị lãng đạo trong các nền văn hóa khác vì tháp coi như là trục thế giới, đường lên cõi trên.

Ý nghĩa này cũng rút ra từ chữ nòng nọc vòng tròn-que, vũ trụ tạo sinh. Như đã biết, kim tự tháp diễn tả núi vũ trụ, núi thế gian như núi Meru, đất dương, trục thế giới và các nghĩa khác của tam giác đều, thuận.

Biểu Tượng Tam Giác Trên Trống Đồng.

Tất cả các ý nghĩa của các dấu, hình hình học nói trên đều thấy trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn (xem thêm Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que Từ Ba Nọc Que).

5. HÌNH VUÔNG.

Ngày nay hình vuông có những ý nghĩa biểu tượng chính như số 4, bậc bốn (quaternity) kết hợp và điều hành bốn yếu tố.

clip_image048

Về tâm lý học tạo ra vững chắc (firmness) và cân bằng (stability), theo Trung Quốc, Ấn Độ và các truyền trống khác tương ứng với đất mang tính âm thái dương, ngược với tính đất dương thái dương của tam giác. Linh tự Ai Cập hình vuông diễn tả hoàn tất (achievement) và hình uốn khúc hình vuông diễn tả kiến tạo (constructive), năng lực vật thể hóa (materialized energy). Hình vuông đứng trên một đỉnh, thời Romanesque dùng làm biểu tượng cho mặt trời so sánh với vòng tròn mặt trời (Cirlot, A Dictionary of Symbols).

Bây giờ ta đi vào từng ý nghĩa một.

.Biểu tượng số 4, bậc bốn, bốn yếu tố.

Hình vuông có 4 cạnh nọc que nên biểu tượng cho số 4.

Việt ngữ bốn biến âm với vốn, vuông (b=v), với four (b = f như bành ra = fành ra).

Ca dao Việt Nam có câu:

Ba vuông sánh với bẩy tròn.

Đời cha vinh hiển đời con sang giầu.

Ta có vuông là bốn và tròn là O tức số không 0. Ba vuông là 3+4 sánh bằng bẩy tròn là 7+0, cả hai đều bằng 7 tức bằng nhau. Rõ ràng: 3 + 4 = 7 + 0 = 7 tức ba vuông = bẩy tròn.

Ba (3) Đoài vũ trụ khí gió, bầu trời, thiếu âm đi với vuông bốn (4) Cấn, đất, thiếu dương là hôn phối nòng nọc, âm dương, chồng vợ, trời đất cõi thế gian, tiểu vũ trụ (thiếu là tiểu). Còn bẩy (7) Càn đi với tròn (0) Khôn là hôn phối nòng nọc, âm dương đại vũ trụ, tạo hóa (thái là đại).

Tóm lại “ba vuông” đem so “sánh với bẩy tròn” về số học bằng nhau, đều bằng Càn 7 sinh tạo, về Dịch lý “ba vuông” là hôn phối âm dương chồng vợ cõi trời đất thế gian tức hôn phối tiểu vũ trụ (giữa thiếu âm với thiếu dương) còn “bẩy tròn” là hôn phối âm dương cõi vũ trụ tạo hóa tức hôn phối đại vũ trụ (giữa thái dương với thái âm). Câu ca dao:

Ba vuông sánh với bẩy tròn,

Đời cha vinh hiển, đời con sang giầu.

ý nói nếu sống hợp với lẽ giao hòa âm dương, thuận với tương giao đại vũ trụ Càn Khôn và tiểu vũ trụ trời đất Đoài Cấn thì sẽ sinh sôi nẩy nở, sinh tạo bội phần toàn vẹn vì thế mà đời đời vinh hiển sang giầu.

Rõ như ban ngày vuông biểu tượng cho 4.

.Biểu tượng cho đất mang âm tính thái dương.

Như vừa thấy ở trên ba vuông biểu tượng trời đất. Nhưng phải hiểu đất vuông ở đây mang âm tính nòng vì hình vuông, như đã nói ở trên, biểu tượng cho tĩnh tại, bền vững, nằm bằng phằng trên mặt ngang không chuyển động. Tuy nhiên hình vuông vì có bốn cạnh là bốn nọc que mang dương tính và bốn góc vuông mang dương tính thái dương nên hình vuông là dạng âm thái dương của vòng tròn. Do đó hình vuông biểu tượng cho đất âm thái dương như đồng ruộng chia ô vuông chẳng hạn. Ví dụ điển hình của vuông tròn, đất trời là bánh chưng bánh dầy. Bánh chưng vuông biểu tượng cho đất âm thái dương Cấn và bánh dầy tròn biểu tượng cho trời Đoài vũ trụ khí gió, bầu trời. Bánh chưng biểu tượng cho khuôn mặt đất âm thái dương đồng ruộng hay non (núi âm tròn đỉnh) của khuôn mặt Cấn thái dương thần nữ Âu Cơ (dẫn 50 con lên non) và bánh dầy biểu tượng khuôn mặt trời Đoài vũ trụ khí gió bầu trời của Lạc Long Quân.

James Churchward trong The Sacred Symbols of Mu cũng xác nhận khi hình vuông để nằm phẳng biểu tượng cho đất.

clip_image050Dạng hay hình vũ trụ tạo sinh nguyên thủy của đất là hình vuông. Khi để nằm dẹp nó biểu tượng cho đất.

-Tảng đá thần Đất Nabataea, Petra, Jordan.

Vùng đất Petra ở Jordan ngày xưa có vương quốc Nabataea. Họ thờ Đa Thần Giáo rất đặc biệt là thờ các Trụ Đá và Thần Đá Tảng (baetyl, god blocks), khác với các nền văn minh xung quanh như La-Hy, Đông Parthian đã thờ tượng thần có hình người. Các Thần Đá Tảng này diễn tả các vị thần trong vũ trụ giáo. Trong đó có Thần Đất.

clip_image051Một tảng Đá Thần của người Nabataea.

Tảng đá có hình vuông và mặt thần cũng vuông biểu tượng cho đất. Hai bên khắc hai trụ hình chữ T có một khuôn mặt là trụ chống trời, trục thế giới, núi trụ thế gian, có một khuôn mặt biểu tượng Đất thế gian. Tên vị thần này viết bằng hàng chữ nòng nọc vòng tròn-que từ tam giác, delta chỉ thiên có một nghĩa là núi tháp đất dương ở trên cùng.

-Cá Voi của thổ dân Tây Bắc Hoa Kỳ Nooka.

Một tấm bảng có hình rắn, chim và cá voi của thổ dân Tây Bắc Hoa Kỳ Nooka.

Rắn có bờm chim họ hàng với rắn lông chim Aztec và Kukulcan của Maya. Chim được cho là chim sấm sét.

clip_image053

Cá voi có con mắt vuông có con ngươi chấm vuông nằm trong hai hình vuông đồng tâm biến thể của con mắt âm từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm clip_image055. Theo James Churchward trong The Lost Continent of Mu, con mắt vuông mang âm tính thái dương này biểu tượng Đất Mẹ (Motherland) tức Mu (Mu chính là Việt ngữ Mụ, Mẹ).

Ta thấy rắn lông chim là dạng kết hợp gió bờm chim-nước (rắn), chim sấm sét là dạng kết hợi chớp lửa với mưa (nước) và cá voi là dạng kết đất mắt vuông đất với nước (cá). Ta có gió, lửa và đất cõi nước của một tộc nòng nước (Motherland, Đất Mẹ Mu hiển nhiên là một đại tộc nòng nước). Theo James Churchward hình này diễn tả sự Sự Hủy Diệt của Mu bị  chìm xuống nước.

.Tứ phương, tứ trụ, tứ hành.

Khi để trên một đỉnhclip_image057 chỉ Bốn Phương (Four Cardinal Points) tương quan tới Tứ Trụ (Four Pillars) và Tứ Tượng (Four Elements), Bốn Nguyên Sinh Động Lực Lớn (Four Great Primary Forces) ứng với Tứ hành.

clip_image058

Đồ hình chuyển biến Aristotle.

.Hình Lập phương.

Hình lập phương là dạng khối của hình vuông (giống như cầu tròn của vòng tròn) nhiều khi cũng chia sẻ những nghĩa biểu tượng của hình vuông. Ví dụ khối đá vuông lập phương biểu tượng cho thần núi Dushara

ở trong đền Al-Deir đồ sộ. Suda Lexicon vào cuối thế kỷ thứ 10, dựa vào các nguồn tài liệu cổ đã mất, viết: ‘Thần Dushara là thần Ares của Petra Ả Rập. Họ thờ phượng thần Ares và tôn kính thần trên hết. Tượng thần là một tảng đá vuông, đen chưa đẽo gọt hoàn toàn. Cao bốn bộ và rộng hai bộ. Tảng đá nằm trên bệ vàng. Họ dâng hiến tế cho thần và trước thần họ làm máu hiến tế dùng xức bôi máu hiến tế’ (“Theus Ares (Dushrara); this is the god Ares in Arabic Petra. They worship the god Ares and venerate him above all. His statue is an unworked square black stone. It is four foot high and two feet wide. It rests on a golden base. They make sacrifices to him and before him they anoint the blood of the sacrifice that is their anointment”).

.Hình Trụ Vuông

 Hình trụ vuông có thiết diện vuộng cũng có một khuôn mặt biểu tượng cho đất.  Vì dụ ngọc bi mang ý nghĩa trời tròn đi đôi với Cong thường hình trụ vuông diễn tả đất. Trời tròn đất vuông mang nghĩa nòng nọc (âm dương), tạo hóa, sinh tạo thế gian.

 .Biểu tượng hình vuông trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn.

Trên trống Thôn Mống cùng vành các chim cò và dóng sấm có hai hình đồng tiền tròn lỗ vuông.

clip_image060Trống Thôn Mống.

Đồng tiền nầy là đồng tiền trời tròn, đất vuông, đồng tiền trời đất vì thế còn gọi là đồng tiền âm dương (dùng gieo quẻ bói âm dương).

Hiển nhiên vuông biểu tượng cho đất. Trống này là trống sấm mưa có mặt trời 12 nọc tia sáng. Số 12 là số Cấn tầng 2 (4, 12) có một khuôn mặt hôn phối với Chấn (Cấn non Âu Cơ hôn phối với Chấn sấm mưa Lạc Long Quân). Trống cũng có 4 tượng ếch, 4 dóng sấm có những từ hai vòng tròn đồng tâm và sóng nước hai vòng tròn đồng tâm, 4 con cò nước có con mắt âm chấm-hai vòng tròn đồng tâm, trên người cũng có từ hai vòng tròn đồng tâm và vành người tộc nước có con mắt âm hai vòng tròn đồng tâm. Tất cả xác thực đây là trống sấm mưa của tộc Người Mặt Trời Nước ứng với Lạc Việt Lạc Long Quân.

Vì thế mà đồng tiền có viền hai vòng tròn thái âm và lỗ vuông cũng có viền hai hình vuông đồng tâm.

Đây là vuông tròn, bánh chưng bánh dầy, đất trời.

Tóm lại hình vuông như đã biết mang trọn vẹn ý nghĩa của vũ trụ tạo sinh, là khuôn mặt thái dương của nòng O với nghĩa bốn, đất, tứ phương, tứ trụ, tứ tượng, tứ hành mang tính trội.

Như vậy ta đã duyệt qua ba hình vòng tròn, tam giác và hình vuông mà theo James Churchward trong The Sacred Symbols of Mu là ba dấu hình biểu tượng hình học chính dùng trong giảng dậy tín ngưỡng như đã nói ở trên. Bây giờ ta có thể trả lời câu hỏi tại sao? Ta thấy vòng tròn có một khuôn mặt mang nòng âm, theo duy dương là bầu vũ trụ, bầu không gian, không khí, khí Gió thái dương. Theo duy âm là thái âm, nước vũ trụ. Tam giác thuận có một khuôn mặt mang tính trội là Lửa thái dương. Hình vuông có một khuôn mặt mang tính trội là đất âm thái dương. Đây là ba khuôn mặt Gió, Lửa, Đất nhìn theo duy dương.

Theo chữ nòng nọc vòng tròn-que ta thấy rõ nòng O chuyển động sinh ra tam giác và hình vuông. Nói một cách khác là nòng O, tam giác và hình vuông ruột thịt với nhau, máu mủ với nhau nhưng có tính nòng nọc (âm dương) khác nhau, ở các tầng sinh tạo khác nhau. Ví dụ điển hình là nòng O diễn tả lỗ âm hộ âm thái âm (theo duy dương của âm là âm thiếu âm), tam giác ngược là âm hộ âm siêu dương và yoni vuông là âm hộ âm thái dương.

clip_image062Yoni vuông.

Vì vậy cần phải lưu tâm tới tính nòng nọc (âm dương), tầng sinh tạo của dấu hình, biểu tượng bộ phận sinh dục nữ nói riêng và của các hình dấu, biểu tượng, chữ nòng nọc vòng tròn-que nói chung.

(còn nữa).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: