CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE: TỪ CHẤM-HAI VÒNG TRÒN (2) TRÊN TRỐNG ĐỒNG.

CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE.

TỪ CHẤM-HAI VÒNG TRÒN/HAI VÒNG TRÒN-CHẤM clip_image002.

(phần 2 và hết).

Nguyễn Xuân Quang

TỪ CHẤM-HAI VÒNG TRÒN/HAI VÒNG TRÒN-CHẤM clip_image002[1]TRÊN TRỐNG ĐỒNG.

Như đã nói ở trên, chấm-hai vòng tròn/hai vòng tròn-chấm clip_image003gồm ba thành tố, có thể nói là ba chữ (một chữ nọc chấm đặc và hai chữ nòng) nên nghiêng nhiều về từ. Thường gọi theo duy dương, nhất là trên trống đồng, là từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm. Vì trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn là trống biểu của vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo diễn tả dịch lý của ngành nọc dương thái dương nên từ chấm-hai vòng tròn thấy nhiều hơn từ hai vòng tròn-chấm. Từ này được viết hết sức chuẩn, hết sức đúng với ngữ pháp chữ nòng nọc vòng tròn-que trên trống đồng nòng nọc mà không một nơi nào sánh bằng.

Duy chỉ trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn, từ này thấy rõ tất cả ý nghĩa theo Vũ Trụ Tạo Sinh.

Từ chấm-hai vòng tròn  có hai dạng chính:

– Dạng quẻ ba cạo (hào, trigram) hay ba chữ diễn tả dương thái âm nguyên tạo có một khuôn mặt chính tương ứng với quẻ Chấn, tương ứng với khuôn mặt Chấn Lạc Long Quân.

– Dạng hai chữ và một dấu.

A. Từ Dạng Dương Ba Chữ.

Ở dạng ba chữ gồm chấm đặc (.) là chữ nọc chấm đặc nguyên tạo và hai vòng tròn đồng tâm (clip_image002[1] ) là hai chữ nòng. Vì có hai nòng OO và chỉ một nọc chấm đặc nên mang âm tính trội, từ này diễn tả phía nòng, âm, Khôn ngành nọc (Khôn âm là thái âm và Khôn dương là thiếu âm). Nếu nhìn dưới diện ba chữ tức một quẻ ba cạo, ba hào ở tầng tám quẻ, bát quái thì có một khuôn mặt chính là nòng âm, gồm khuôn mặt âm của nòng âm là Khôn âm tức thái âm ngành nọc dương thái dương ứng với quẻ Chấn và khuôn mặt dương của nòng, âm tức Khôn dương là thiếu âm ứng với quẻ Đoài vũ trụ khí gió.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử việt là Lạc Long Quân có mạng chính là Chấn, sấm mưa, nước chuyển đông sông, biển và có DNA thiếu âm thấy rõ hiện ra ở con là Hùng Vương nhánh nòng, âm có mạng gió dương, bầu trời (có chim biểu là Cò Gió Lang, thú biểu là con Lang trời thiên cẩu và đóng đô ở Phong Châu).

Sau đây là một vài nghĩa chính.

1-Với nghĩa tạo hóa, sinh tạo nhánh nọc âm thái dương ứng với khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa của quẻ Chấn.

Khuôn mặt này thấy rõ qua các trống tiêu biểu như:

a. Trống Hòa Bình.
Trống Hòa Bình có một khuôn mặt chính Chấn.

clip_image005

Trống Hòa Bình.

Khuôn mặt Chấn thấy rõ qua: a. mặt trời có 12 nọc tia sáng Cấn tầng 2 (4, 12). Cấn có một khuôn mặt hôn phối với Chấn (Âu Cơ non Cấn lấy Lạc Long Quân biển Chấn), b. ba vành ngoài biên trống gồm vành từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm có một khuôn mặt Chấn nằm kẹp giữa hai vành từ nọc mũi mác có một nghĩa nọc dương thái dương. Ba vành cho biết trống thuộc nhóm trống Chấn thái dương, ngành nọc dương thái dương, c. sáu con cá sấu dao (gavial), sấu Lạc, Dao Việt có con mắt âm từ chấm-hai vòng tròn cho biết con vật này sống được dưới nước và là thú biểu của Chấn nước dương.

Ở tang và thân trống cũng có những nhóm ba vành gồm vành chủ yếu ở giữa là vành từ chấm-hai vòng tròn.

clip_image007Mặt bên trống Hòa Bình.

Ở đây có thêm tiếp tuyến cho biết Chấn chuyển động hay Chấn sóng nước chuyển động. Hai vành hai bên là những vành nọc mũi mác nọc dương thái dương.

Trống Hòa Bình là trống diễn tả Chấn, là trống biểu của đại tộc Chấn ứng với Dao Việt nhánh mặt trời Nước, Chàng Nước Lạc Long Quân.

Ở đây khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa của Chấn được xác thực bằng:

-/ Ở vùng tứ hành chỉ có một vành gồm chuỗi sóng chữ S gẫy ba hay chữ N choãi gầy nhỏ nét lửa thái dương Càn ôm chuỗi sóng chữ S gẫy ba hay chữ N choãi mập, to nét nước dương Chấn. Vành này diễn tả nòng nọc (âm dương) giao phối ngành nọc dương thái dương ở cõi đại vũ trụ. Đây là một dạng tạo hóa, sinh tạo, một thứ càn-khôn (Chấn đại diện cho Khôn ở ngành nọc dương thái dương).

-/ Sáu con cá sấu dao. Số 6 là số lão âm, số thành, số sinh tạo, tạo hóa gồm 2 (lưỡng nghi) + 4 (tứ tượng).

b. Trống Làng Vạc V.

clip_image009Trống Làng Vạc V.

Trống Làng vạc V là trống thuộc dòng nòng, âm nước xác thực bằng hình bốn tượng cóc/ếch mà các tộc bị ảnh hưởng của văn hóa Đông Sơn thường gọi là trống ếch, trống mưa. Trống có một khuôn mặt nước chuyển động mưa, sấm Chấn. Vì thế ở biên trống có ba vành gồm vành từ chấm-hai vòng tròn ở giữa hai vành nọc mũi mác thái dương và ở vùng tứ hành chỉ có một vành duy nhất từ chấm-hai vòng tròn diễn tả nòng thái dương. Nhưng ở trống này khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa của từ chấm-hai vòng tròn thấy rất rõ qua mặt trời 7 nọc tia sáng. Số 7 là số Càn. Mặt trời là Càn. Khoảng không gian giữa các nọc tia sáng gồm các sọc nghiêng diễn tả không gian Khôn. Ta có vũ trụ Càn Khôn mang tính sinh tạo tạo hóa, xác thực tính sinh tạo tạo hóa của từ chấm-hai vòng tròn.

Ở trống này, khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa của các tượng cóc/ếch mang tính chủ vì trống không có mặt trời 12 nọc tia sáng, không có vành sóng cuộn, không có các dóng sấm (thunderbolt…) như các trống sấm mưa khác (xem Con Cóc Là Cậu Ông Trời và Trống Đồng Cóc/Ếch). Điểm này cũng xác nhận tính sinh tạo, tạo hóa của từ chấm-hai vòng tròn/hai vòng tròn-chấm.

Xin lưu tâm là trống này rất muộn nên mặt trời có số tia sáng lẻ (bình thường số tia sáng trên trống đồng nòng nọc là số chẵn, số âm).

Lưu ý.

Xin nhắc lại, chỉ liếc mắt nhìn mặt trống nếu bên ngoài biên trống có vành từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm ta biết ngay trống đó thuộc nhánh nòng âm ngành nọc âm thái dương.

Ví dụ:

.Trống Hòa Bình và trống Làng Vạc V vừa nói ở trên.

. Trống Đồi Ro:

clip_image011Trống Đồi Ro.

Nhìn ba vành ngoài biên trống gồm vành từ chấm-hai vòng tròn ở giữa hai vàng nọc mũi mác thái dương ta biết ngay trong thuộc nhóm trống Khôn nòng âm nhánh nọc dương thái dương. Kiểm chứng lại ta thấy rõ trống có mặt trời 16 nọc tia sáng thuộc nhóm trống thái âm. Số 16 là số Khôn tầng 3 (0, 8, 16) mang nhiều âm tính có khuôn mặt chính là Chấn dương thái âm. Khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có hình thái đơn đồng nhất gồm các sọc nghiêng diễn tả không gian nòng âm. Vùng tứ hành chỉ có một vành duy nhất từ chấm-hai vòng tròn nhấn mạnh khuôn mặt nòng âm thái âm nhánh nọc âm thái dương.

2-Với nghĩa mặt trời nòng, âm, Nước.

Mặt trời nòng âm thấy trên thân một trống đồng Điền diễn tả cảnh đu bay tế mặt trời .

clip_image013Tục đu bay tế lễ vũ trụ, mặt trời trên thân một trống đồng Điền tương tự với tục tế lễ The Danza de los Voladores (Dance of the Flyers) hay Palo Volador (pole flying) của Maya.

Mặt trời chấm hai vòng tròn trên đỉnh trụ mang âm tính là mặt trời nòng, âm, nước. Ta cũng thấy rõ tính âm của mặt trời qua các tia sáng hình nọc que âm hình trụ chữ i hoa I hai đầu bằng (khi những nọc que âm thái dương này xếp thành hình chuỗi ta có hình nấc thang hay hình thanh ngang đường rầy, hiện nay gọi là răng lược).

-Con mắt âm.

Như đã biết con mắt cũng có một nghĩa là mặt trời. Con mắt dương chấm vòng tròn là mặt trời dương thường diễn tả ở người, loài vật mang dương tính thuộc nhánh mặt trời nọc dương thái dương. Ngược lại những con mắt từ chấm-hai vòng tròn là con mắt âm. Con mắt âm cũng có một nghĩa là mặt trời nòng âm và thường diễn tả ở người, loài vật mang âm tính, thuộc nhánh mặt trời nọc âm thái dương.

Ví dụ:

Người tộc mặt trời nòng âm thái dương, nước thái dương có con mắt âm thấy trên trống Làng Vặc:

clip_image015Người mặt trời-chim trên trống Làng vặc có con mắt âm.

-Các loài chim thú sống được dưới nước có con mắt âm,

a. Chim nông.

.Trên trống Ngọc Lũ I:

clip_image017Chim nông trên trống Ngọc Lũ I có con mắt âm cho biết đây là loài chim nước.

. Trên trống Hoàng Hạ:

clip_image019Chim nông trên trống Hoàng Hạ có con mắt âm cho biết đây là loài chim nước. Ở đây hai con chim này ở sau đuôi thuyền và đứng trên bè có chuỗi sóng nước xác thực trăm phần trăm là loài chim nước. Chim có mỏ túi, nang, nông hiển nhiên là chim nông.

b. Rắn nước.

clip_image021

Đầu thuyền rắn nước ở trên trống Ngọc Lũ I.

./Đầu thuyền rắn nước ở trên trống Ngọc Lũ I:

Đầu thuyền đầu rắn nước có con mắt âm trên trống Ngọc Lũ I xác thực con vật sống được dưới nước, là rắn nước.

và ở các trống họ hàng:

clip_image023Đầu thuyền đầu rắn nước có con mắt âm trên trống Hoàng Hạ.

.Đầu thuyền trên trống Hữu Chung:

clip_image025Đầu thuyền đầu rắn nước-chim lửa ở dạng lưỡng hợp đã thần thoại hóa có con mắt âm trên trống Hữu Chung.

c. Cá sấu

Cá sấu ở trống Hòa Bình có con mắt âm như đã nói ở trên. Hãy so sánh cá sấu Lạc, Dao Việt ở trống Hòa Bình với cá sấu Dao Việt ở viên gạch cổ thành Thăng Long cũng đã nói ở trên.

clip_image026Gạch đất nung hình đầu cá sấu dao long hóa (ảnh của tác giả chụp tại Khu Triển Lãm Thành Thăng Long Cổ, Hà Nội).

Cả hai đều có mõm dài nhọn là mõm cá sấu dao (gavial) loài Tomistoma Schlegelii. Đặc biệt nhất là con mắt âm, dương-thái âm, lửa-nước sinh tạo, mặt trời nước sinh tạo. Cả hai đều cho biết con vật sống được dưới nước và có một nghĩa mắt mặt trời nước.

Điểm chính ta muốn nói ở đây là con mắt âm chấm-hai vòng tròn đồng tâm có một nghĩa là nước dương, mặt trời nước ứng với Chấn.

3. Với nghĩa Nước Dương.

Xin lấy một vài ví dụ tiêu biểu:

/. Vùng tứ hành ở trống Làng Vạc III.

Ở trống Làng Vạc III, hình thái tứ tượng (hiện nay gọi lầm là họa tiết lông công) có từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm clip_image028:

clip_image029Hình thái tứ tượng trên trống Làng Vạc III có từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm có một nghĩa là nước dương, Chấn.

Từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm clip_image030 có nghĩa là nước dương này tương đương với hình hai giọt nước có chấm nọc clip_image032 có nghĩa là nước dương Chấn (hai giọt nước diễn tả hai nòng OO, thái âm, nước) trong hình thái tứ tượng ở các trống Ngọc Lũ I và họ hàng.

./ Vùng tứ hành ở trống Phú Phương I.

clip_image033Trống Phú Phương I.

Hình thái tứ tượng ở trống này cũng tương tự như ở trống Làng Vạc III.

./Vùng tứ tượng ở trống Cửu Cao.

clip_image035Trống Cửu Cao.

Hình thái tứ tượng ở trống này cũng tương tự như ở hai trống trên, nghĩa là có từ chấm-hai vòng tròn diễn tả tượng nước dương Chấn.

Lưu ý ở trống này hình thái tứ tượng thiếu tượng lửa thái dương hình nọc mũi mác clip_image002[3]. Đây là lỗi kỹ thuật vì trống này là trống muộn hay cũng có thể là lỗi họa sĩ vẽ thiếu.

Lưu ý.

Cả ba trống Làng Vạc III, Phú Phương I và Cửu Vao đều có mặt trời 12 nọc tia sáng thuộc nhóm trống Cấn tầng 2 (4, 12). Cấn có một khuôn mặt hôn phối với Chấn (Âu Cơ Cấn Non lấy Lạc Long Quân Chấn Biển). Khuôn mặt Chấn nước dương, chuyển động, biển đều được diễn tả vằng từ chấm-hai vòng tròn.

4. Nghĩa Nhánh Nòng Âm Ngành Thái Dương.

Từ chấm-hai vòng tròn/hai vòng tròn-chấm theo duy âm, với nghĩa chỉ nhánh nòng, âm, cực âm, không gian ngành mặt trời thái dương thấy ở nóc các ngôi nhà nòng trên trống Ngọc Lũ I:

clip_image037Nhà nòng không gian ở trống Ngọc Lũ I.

Và ở các trống họ hàng như trống Hoàng Hạ:

clip_image039Nhà nòng không gian ở trống Hoàng Hạ.

Các từ chấm-hai vòng tròn/hai vòng tròn-chấm ở hai đầu mái nhà hình vòm bầu vũ trụ, bầu không gian xác thực những ngôi nhà này là nhà nòng, âm không gian ngành mặt trời thái dương (vì trên trống đồng) (xem Ý Nghĩa Các Hình Nhà Trên Trống Đồng).

Những từ này ở đây có một nghĩa chỉ nòng âm, cực âm, không gian. Từ này cũng có thể có một khuôn mặt nghiêng về một dấu vì hai ngôi nhà mái vòm, nhà rùa này vốn đã có nghĩa là nhà nòng không gian rồi (xem dưới).

5. Với nghĩa liên hệ với cõi âm.

Như đã biết trong vũ trụ giáo,  cõi nước tối tăm, tầng nước không có ánh sáng chiếu tới được coi là âm thế, cõi âm, âm ty. Ở đây có vị chúa tể cõi âm như diêm vương cai trị, có một khuôn mặt ứng với Chấn cõi âm. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, Lạc Long Quân mặt trời nước, có một khuôn mặt Chấn là chúa cõi âm có thủy phủ ở Vịnh Hạ Long. Vì thế ở các trống tí hon minh khí dùng làm vật tùy táng chôn theo người chết, liên hệ với cõi âm cũng thường thấy diễn tả bằng các từ chấm-hai vòng tròn. Ví dụ trống minh khí Làng Vạc:

clip_image041

Trống Minh Khí Làng Vạc (Nhệ An).

clip_image043Mặt trống minh khí Làng Vạc (nguồn: Nguyễn Văn Huyên, tr.290).

Ở đây là trống minh khí nên Chấn có thể là một khuôn mặt mang tính chủ.

Mặt trống, vành sát mặt trời hình sóng cuộn tròn bện thừng chuyển động mang nghĩa nước dương chuyển động Chấn.

Ở ngoài biên trống có vành chủ yếu Chấn nước vận hành hình sóng cuộn chấm-hai vòng tròn  có tiếp tuyến (tiếp tuyến diễn tả sóng nước hay tính chuyển động).

Tang và dưới chân thân trống cũng có vành Chấn nước vận hành.

Những vành này cho thấy khuôn mặt Chấn ngành nọc âm thái dương mang tính chủ.

Tóm lại, trống minh khí Làng Vạc có một khuôn mặt chủ Chấn IOO nước thái âm sinh tạo, tạo hóa liên hệ tới tái sinh, hằng cửu ở cõi âm.

 

Rõ hơn ta thấy ở thân trống loại Pejeng, Nam Dương như ở trống “Trăng Bali”:

clip_image045Phần dưới tang trống Trăng Bali (nguồn: A.J. B. Kempersplate 3.01c).

Và ở trên trống Pejeng Manuaba, Bali, Nam Dương:

clip_image046Mặt thần, người hay mặt nạ thần linh trên trống Pejeng Manuaba, Bali, Nam Dương.

có 8 hình mặt nạ hay mặt người. Những khuôn mặt này có những đặc tính sau đây:

-Trước hết đây là vùng nước tang trống ta biết  chắc chắn ngay các mặt người, mặt nạ này là biểu tượng của thần tổ hay người đại diện cho một tộc người thuộc đại tộc, ngành Nước.

-Mặt hình trái tim, hình lá đa, lá da mang âm tính, có một khuôn mặt biểu tượng cho nòng nước dương. Có tác giả cho là có hình tam giác (ngược). Mặt người hình trái tim, hình lá đề, hình tam giác ngược là thể dương hóa của nòng O. Khuôn mặt này mang âm tính của tộc nước dương ngành thái dương.

-Nhưng quan trọng nhất là con mắt âm từ chấm-hai vòng tròn. Như đã biết, con ngươi là chữ nọc chấm đặc có một khuôn mặt là mặt trời thái dương nguyên tạo, sinh tạo. Hai vòng tròn có một khuôn mặt là không gian thái âm. Con mắt là mặt trời-không gian, vũ trụ mang tính tạo hóa, sinh tạo. Con mắt âm này được bao bọc bởi một vành sóng nước bện thừng có các sọc soắn (hatched frame) trông như một phần của xoáy nước, nước cuộn, nước dương mang tính động tức nước dương Chấn. Vành này nhấn mạnh, xác thực con mắt âm mang tính tạo hóa sinh tạo cõi nước âm.

Ngoài ra con số 8 mặt nạ hay mặt thần cũng xác thực tính sinh tạo, tạo hóa. Số 8 là số Khôn tầng 2 (0,8) mang tính sinh 5ao, tạo hóa ngành nòng, âm,

Ta thấy rõ đây là vị thần hay vị tổ nhánh nòng nước thái dương ứng với Chấn có một khuôn mặt là chúa tể cõi âm, âm thế giống như Lạc Long Quân (Nhóm Trống Đặc Thù Pejeng, Nam Dương).

Ở đây rõ ràng từ chấm-hai vòng tròn có một nghĩa liên hệ với cõi âm.

Tứ tượng

Như đã biết từ chấm-hai vòng tròn mang âm tính trội thuộc ngành nòng, âm, Khôn. Như thế từ này có hai khuôn mặt chính của nòng, âm, Khôn là dạng mang tính thái âm (Khôn âm), Chấn và dạng mang tính thiếu âm (Khôn dương), Đoài vũ trụ khí gió. Còn hai tượng lửa thái dương và đất thiếu dương không có hay nếu có cũng là điều hi hữu.

1. Tượng Nước Dương.

Đã nói nhiều ở trên.

2. Tượng Gió Dương.

. Trên trống Hoàng Hạ:

clip_image048Chim nông ở đuôi thuyển trống Hoàng Hạ có con mắt âm cho biết đây là loài chim nước.

Ở đuôi thuyền đầu chim có con mắt âm và dưới mỏ có túi hình thang cách điệu cho biết là chim nông. Phía sau đôi thuyền có hình đầu chim mỏ rìu là đầu chim cắt. Bờm gồm ba nọc que có nghĩa là lửa thái dương. Đây là con chim cắt lửa. Chim hướng về tay trái chiều âm và ở đuôi thuyền cũng mang âm tính. Lửa âm, âm của dương là thiếu dương Li. Như thế đuôi thuyền PHẢI là đầu chim nông gió thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió để có lưỡng hợp thiếu âm-thiếu dương thế gian. Bởi vì đầu thuyền rắn nước thái âm Chấn lưỡng hợp với chim mỏ rìu cắm vào miệng rắn mang tính lửa thái dương Càn. Ta có lưỡng hợp thái âm-thái dương ngành nọc dương thái dương ở cõi tạo hóa, vũ trụ.

Tóm lại ở đây từ chấm-hai vòng tròn có một nghĩa thiếu âm Gió dương tức nòng, Khôn dương. Kiểm chứng lại ta cũng thấy đúng vì như đã nói ở trên từ chấm-hai vòng tròn có thể nhìn dưới dạng là một chữ nòng O và một dấu chấm-vòng tròn. Nòng O theo duy âm có một nghĩa là không gian và chấm-vòng tròn có một nghĩa là nọc, lửa, thái dương sinh tạo. Như thế ta có không gian dương, thái dương, Khôn dương tức khí gió dương.

Đứng sau đuôi hai con thuyền trên trống Hoàng Hạ cũng có hình hai chim nông xác thực bằng hai con mắt âm từ chấm-hai vòng tròn và mỏ có túi nang, nông.

clip_image050Hai chiếc thuyền trên trống Hoàng Hạ.

Con chim nông đứng sau đuôi thuyền ở dưới mang âm tính (phía đuôi thuyển là phía âm, bên trái) nhưng quay mặt về phía chiều dương mũi thuyền, bên phải, tức dương của âm là thiếu âm có một khuôn mặt nguyên thể khí gió. Chim nông thiếu âm gió này xác thực bằng bờm gió trên đầu. Chim đang mổ con mồi hình nọc que có hai đầu vát mang âm tính. Nọc que âm mang tính diễn tả thiếu âm khí gió. Như thế con mắt âm từ chấm-hai vòng tròn diễn tả cho biết là con chim nước loài chim nông mang dương tính, khí gió, chim bổ nông. Thêm vào đó dưới gầm cầu đài tam thế để trống không, không có để vật gì cũng xác thực tính âm thiếu âm khí gió của chim bổ nông này.

Trong khi đó con chim nông đứng sau đuôi thuyền ở trên quay mặt về phía trái chiều âm, đầu có bờm nước là con nông mang nhiều âm tính tức bồ nông nước. Mấu chốt chính nữa là trên người có từ chấm-hai vòng tròn xác thực thêm tính thái âm, nước nhánh nọc âm thái dương. Từ này có thể có chức vụ dùng làm một dấu chỉ định tính (xem dưới). Thêm vào đó dưới gầm cầu đài tam thế có để vật hình bình chứa nước cũng xác thực tính âm thái âm, nước của chim bồ nông này.

B. Từ ở Dạng Dương Gồm Từ Hai Chữ và Một Dấu.

Trong trường hợp này có hai dạng phụ:

-Hai chữ chấm và vòng tròn clip_image052 với một dấu là vòng tròn O còn lại.

Theo duy dương nếu coi chấm-vòng tròn là một từ gồm hai chữ có một nghĩa là mặt trời chẳng hạn. Nòng vòng tròn O còn lại là một dấu có một nghĩa là âm thì ta có mặt trời sinh tạo, một dạng vũ trụ sinh tạo mang âm tính.

Ví dụ điển hình là con mắt âm có một khuôn mặt là mặt trời âm. Con mắt âm cũng có thể nhìn theo diện là một từ hai chữ chấm-vòng tròn có một nghĩa mặt trời và một dấu chữ nòng vòng tròn âm.
-Hai chữ nòng (clip_image054) và một dấu nọc chấm đặc (.).
Trở lại hình thái tứ tượng ở các trống Làng Vạc III, Phú Phương I, Cửu Cao.

clip_image029[1]Hình thái tứ tượng trên trống Làng Vạc III có từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm có nghĩa là nước dương, Chấn.

 Như đã nói ở trên, hình thái tứ tượng có từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm clip_image028[1] diễn tả tượng thái âm, nước dương tương ứng với hai giọt nước có đuôi có chấm ở trống Ngọc Lũ I và các trống họ hàng.

Ở tầng tứ tượng này, ta thấy rõ từ chấm-hai vòng tròn gồm hai chữ. Kiểm chứng lại ta cũng thấy tượng lửa thái dương hình mũi mác clip_image056 cũng do hai chữ nọc que ghép lại, tượng đất thiếu dương do hai chữ nọc mũi mác hình núi tháp chồng lên nhau. Và suy ra tượng gió dương có hình bờm chim là do một chuỗi hai chữ nọc que âm bằng đầu mang tính thiếu âm ghép lại.

Như thế ở đây từ chấm-hai vòng tròn gồm hai chữ nòng OO thái âm, nước và một dấu nọc chấm đặc chỉ tính dương tức nước dương Chấn.

 .Tam Thế, Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống), Trục Thế giới, Sinh Tử, Tái sinh, Hằng Cửu.
 Như đã nói ở trên, từ chấm-hai vòng tròn mang ý nghĩa biểu tượng trọn vẹn của Vũ Trụ Tạo Sinh, dịch lý ở tầng tứ tượng hay tám quẻ, bát quái thì ở trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn những ý nghĩa này còn thấy rõ và chính xác hơn.
TỪ CHẤM-HAI VÒNG TRÒN ĐỒNG TÂM DÙNG LÀM DẤU.

Cũng như các chữ và từ nòng nọc vòng tròn-que khác từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm cũng được dùng làm dấu. Từ chấm-hai vòng tròn dùng làm dấu thấy rõ và chắc chắn nhất thấy trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn.

Tuy nhiên cũng như các dấu khác, dấu chấm-hai vòng tròn đồng tâm thường dùng lẫn lộn với chữ, cũng dễ lầm lẫn với chữ hay giữ chức vụ của cả chữ và dấu cùng một lúc.

Hãy lấy một vài ví dụ tiêu biểu:

-Hai con nông trên trống Hoàng Hạ:

clip_image019[1]

Hai con chim đang giao phối có con mắt âm cho biết đây là loài chim nước thuộc nhánh nòng, âm, Khôn. Chim có mỏ túi, nang, nông là loài chim nông. Ở đây trên người hai con chim nông này có thêm các chấm-hai vòng tròn xác thực đây là hai con chim nông nước, bồ nông. Chấm-hai vòng tròn ở đây có thể là một từ dùng làm dấu vì ta đã biết rõ hai con chim này là chim nông qua con mắt âm, mỏ túi, đứng trên bè, sau đuôi thuyền. Chấm-hai vòng tròn có một khuôn mặt nghiêng về một đấu xác thực, bổ nghĩa thêm.

Trở lại hai con chim nông đứng sau đuôi hai con thuyền trên trống Hoàng Hạ đã nói ở trên

clip_image050[1]Hai chiếc thuyền trên trống Hoàng Hạ.

Chấm-hai vòng tròn trên người con chim nông nước bồ nông đứng sau con thuyền ở trên được dùng nghiêng nhiều về một dấu chỉ địn tính.

Cũng trở lại những ngôi nhà nòng, không gian đã nói ở trên. Từ chấm-hai vòng tròn/hai vòng tròn-chấm theo duy âm, với nghĩa chỉ nhánh nòng, âm, cực âm, không gian ngành mặt trời thái dương thấy ở nóc các ngôi nhà nòng trên trống Ngọc Lũ I:

clip_image037[1]Nhà nòng không gian ở trống Ngọc Lũ I.

Và ở các trống họ hàng như trống Hoàng Hạ:

clip_image039[1]Nhà nòng không gian ở trống Hoàng Hạ.

Những từ này ở đây có một nghĩa chỉ nòng âm, cực âm, không gian. Từ này cũng có thể có một khuôn mặt nghiêng về một dấu vì hai ngôi nhà mái vòm, nhà rùa này vốn đã có nghĩa là nhà nòng không gian rồi (Ý Nghĩa Hình Nhà Trên Trống Đồng). Các từ chấm-hai vòng tròn/hai vòng tròn-chấm ở hai đầu mái nhà hình vòm bầu vũ trụ, bầu không gian có một khuôn mặt là một dấu xác thực những ngôi nhà này là nhà nòng, âm không gian ngành mặt trời thái dương (vì trên trống đồng).

Kết Luận.

Từ chấm-hai vòng tròn/hai vòng tròn-chấm clip_image002[2]gồm ba thành tố, có thể nói là ba chữ (một chữ nọc chấm đặc và hai chữ nòng) nên nghiêng nhiều về từ. Thường gọi theo duy dương là từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm.

.Từ này có thể ở dạng từ ba chữ hay dạng từ hai chữ và một dấu.

.Vì có hai chữ nòng OO và chỉ có một chữ nọc chấm nên mang tính nòng, âm trội thường thấy ở phía nòng âm, thái âm nữ hay nòng âm nam với khuôn mặt Chấn. Khuôn mặt âm nam này có khi là đại diện cho âm nữ trong xã hội phụ quyền cực đoan hay trong các tôn giáo duy dương.

.Hễ cứ thấy từ chấm-hai vòng tròn/hai vòng tròn-chấm là ta biết ngay thuộc phía nòng âm thái dương và trên trống đồng nòng nọc (âm dương) là thuộc phía nọc âm thái dương.

.Từ chấm-hai vòng tròn/hai vòng tròn-chấm mang ý nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh, Dịch ở tầng tứ tượng (trường hợp là từ hai chữ và một dấu) và tầng tám quẻ, bát quái (trường hợp là từ ba chữ ứng với ba cạo, ba hào, trigram).

.Ý nghĩa chính của từ này có thể nhớ qua các khuôn mặt của Lạc Long Quân như Mặt Trời Nước, Nước Dương, Sấm Mưa, Chúa Cõi Âm…

Trên trống đồng nòng nọc (âm dương) ta gọi theo duy dương là từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm.

Vì trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn là trống biểu của vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo diễn tả dịch lý của ngành nọc dương thái dương nên từ chấm-hai vòng tròn thấy nhiều hơn từ hai vòng tròn-chấm. Từ này được viết hết sức chuẩn, hết sức đúng với ngữ pháp chữ nòng nọc vòng tròn-que trên trống đồng nòng nọc mà không một nơi nào sánh bằng.

Duy chỉ trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn, từ này thấy rõ tất cả ý nghĩa của nhánh nòng, âm thái dương với khuôn mặt âm nam đại diện cho nòng thái âm, Khôn âm là Chấn và khuôn mặt thiếu âm , Khôn dương là Đoài vũ trụ.

Tám quẻ, bát quái là nền tảng chính của dịch học vì thế những chữ và từ nòng nọc vòng tròn-que căn bản chỉ diễn tả tới tầng tám quẻ bát quái. Từ các chữ và từ nòng nọc vòng tròn-que căn bản này sinh ra các dấu, hình biểu tượng mang tính nòng nọc và ngay cả các chữ viết cổ của loài người. Vì vậy ta có thể ngừng viết về chữ nòng nọc vòng tròn-que tại đây và chuyển qua viết các dạng dấu và hình biểu tượng nòng nọc vòng tròn-que. Để kết thúc quyển sách viết về CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN QUE NÀY, tôi chỉ xin viết làm mẫu tiêu biểu của dạng con cháu này qua bài viết:

.Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que và Hình, Dấu Hình Học.

.Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que và Mẫu Tự ABC.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: