CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE, TỪ CHẤM-VÒNG TRÒN (phần 2): TRÊN TRỐNG ĐỒNG.

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE.

TỪ NÒNG NỌC HỖN HỢP.

TỪ VÒNG TRÒN-CHẤM/CHẤM-VÒNG TRÒN

clip_image002.

(phần 2)

Nguyễn Xuân Quang

 

TỪ CHẤM-VÒNG TRÒN/VÒNG-TRÒN CHẤM TRÊN TRỐNG ĐỒNG.

Tất cả các khuôn mặt và ý nghĩa của từ vòng tròn-chấm/chấm-vòng tròn đã nói ở trên đều có mặt trên trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn và được viết với một ngữ pháp rất hoàn hảo của chữ nòng nọc vòng tròn-que.

Như đã biết, trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn là trống diễn tả vũ trụ thuyết, trống biểu của vũ trụ giáo, của dịch của ngành trống (đực), ngành nọc, ngành mặt trời nên từ và dấu chấm-vòng tròn vì có tính sinh tạo, tạo hóa, lưỡng hợp thành thử thấy nhiều trên trống đồng. Từ chấm-vòng tròn trên trống đồng nòng nọc có thể thấy dưới dạng đơn lẻ, từng chuỗi hay từng vành.

Các Dạng Từ Vòng Tròn-Chấm/Chấm-Vòng Tròn Trên Trống Đồng.

Chấm-vòng tròn/vòng tròn-chấm/ clip_image003có thể ở dưới dạng TỪ và dạng CHỮ.

Lưu ý:

Xin nhắc lại vì trống đồng là trống biểu của ngành trống (nọc, dương, mặt trời, thái dương) nên dạng từ và chữ chấm-vòng tròn thấy nhiều hơn dạng vòng tròn-chấm nên ta thường viết chấm-vòng tròn vì mang dương tính hay chấm-vòng tròn đại diện chung cho cả hai chấm vòng tròn và vòng tròn-chấm.

1. Từ chấm-vòng tròn/vòng tròn-chấm.

Từ là do hai hay nhiều chữ ghép lại.

Xin đưa ra vài ba ví dụ:

a. Từ chấm-vòng tròn với nghĩa mặt trời sinh tạo, vũ trụ.

.Trống Thượng Nông.

clip_image005clip_image007Trống Thượng Nông.

Mặt trống rất đơn giản chỉ diễn tả một chấm tròn hình đĩa nổi nằm tại tâm vòng tròn lớn mặt trống. Đây là hình ngữ mặt trời sinh tạo, tạo hóa, vũ trụ chấm-vòng tròn.

Hiển nhiên chấm vòng tròn ở đây có một khuôn mặt là một từ.

.Trống Vạn Gia Bá (Wanjiaba), Vân Nam.

Các nhà khảo cổ Trung Quốc tìm thấy một nhóm trống Vạn Gia Bá ở Vân Nam

clip_image009

Trống Vạn Gia Bá (hình trích trong bài viết của Han Xiaorong, The Presence Echoes of the Ancient Bronze Drum: Nationalism and Archeology in Modern Việt Nam and China, Explorations in Southeast Asian Studies, A Journal of the Southeast Asian Studies Student Association, Vol. 2, No. 2 Fall, 1998).

clip_image011Trống Vạn Gia Bá tại Bảo Tàng Viện Tỉnh Vân Nam.

Trống Vạn Gia Bá giống hệt như trống Thượng Nông thấy qua sự so sánh của tác giả Han Xiaorong thấy ở hình của ông ở trên. Mặt trống Vạn Gia Bá cũng chỉ diễn tả mặt trời chấm-vòng tròn sinh tạo, vũ trụ. Chỉ khác là trống Vạn Gia Bá mới tìm thấy sau này nên được định tuổi bằng C14. Trong khi đó trống Thượng Nông của Việt Nam không định tuổi nên dựa vào hình dạng và không có trang trí xếp trống Thượng Nông vào loại trống rất muộn D-IV-1.

Các nhà khảo cổ Trung Quốc dựa vào các yếu tố sau đây cho rằng trống Vạn Gia Bá là trống cổ nhất và lý luận là trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn có nguồn gốc Trung Quốc!

-Hình dạng.

Hình dạng thô, mặt và tang tròn bầu, thân choãi như hình nấm. Theo tôi giống hình dương vật hay nấm dương vật vì trống có một nghĩa là đực, dương có một khuôn mặt biểu tượng cho trống, nọc, dương vật. Điểm này ăn khớp trăm phần trăm với trống đồng là trống nòng nọc (âm dương), trống nõ nường (trống hình nõ có mặt đáy hở hình lỗ tròn là nường, nhìn từ dưới lên hình âm đạo-dạ con).

-Trang trí đơn gian, thô sơ.

Họ lý luận là các trống tối cổ lúc đầu vì kỹ thuật còn thô sơ nên mặt trống trang trí đơn giản.

-Tuổi dựa vào năm tháng tuyệt đối (absolute dating).

Luận cứ được cho là vững chắc nhất của các nhà khảo cổ học Trung Trung Quốc là dựa vào tuổi tuyệt đối. Hình dạng và trang trí, hoa văn ở trên chỉ cho biết về năm tháng một các tương đối thôi (relative dating), cần phải xác định năm tháng tuyệt đối (absolute dating) của trống. Muốn xác định được năm tháng hay tuổi các cổ vật tuyệt đối ta cần phải dựa vào các cách xác định khoa học như Carbon phóng xạ 14 (C14) tức định tuổi các di vật hữu cơ ở các di chỉ khảo cổ. Dựa vào thử nghiệm trên các vật hữu cơ thấy đi cùng với trống Wanjiaba cổ khoảng thế kỷ 7th-5th TDL (Trống Đồng Nòng Nọc Là Của Đại Tộc Việt hay Của Trung Hoa).

Ta thấy rõ như ban ngày trống Vạn Gia Bá có hình dạng, có trang trí giống như trống Thượng Nông chỉ tiếc là tuổi tác không so sánh được vì trống Thượng Nông không định tuổi.

.Trống đồng Bắc Thái Lan.

Trong lần du lịch Nhật tháng 4-2017 vừa qua, tại Bảo Tàng Viện Lịch Sử Đông Kinh, Nhật Bản tôi có thấy một trống đồng Bắc Thái Lan có tuổi từ thế kỷ thứ 6 tới thứ 5 Trước Dương Lịch cùng lứa tuổi với trống Vạn Gia Bá.

clip_image013

clip_image017

clip_image018

Trống đồng tại Bảo Tàng Viện Lịch Sử Tokyo, xuất xứ được cho là ở Bắc Thái Lan (bên phải), thế kỷ 6-5 Trước Dương Lịch, Bảo Tàng Viện Nghệ Thuật Idemitsu, Tokyo cho mượn.

Mặt trống giống trống Thượng Nông và Vạn Gia Bá cũng rất đơn giản chỉ diễn tả một chấm tròn hình đĩa nổi nằm tại tâm vòng tròn lớn mặt trống diễn tả mặt trời sinh tạo.

clip_image015[1]Mặt trống hình mặt trời tạo hóa, vũ trụ chấm vòng tròn.

Ta thấy rõ như ban ngày, trống Đông Bắc Thái Lan có hình dạng, trang trí lẫn tuổi tác giống như trống Vạn Gia Bá. Những lý lẽ, luận cứ của các nhà khảo cổ Trung Quốc cho rằng trống Vạn Gia Bá cổ nhất tìm thấy ở Vân Nam (vốn là đất của Bách Việt) nên trống đồng nòng nọc (âm dương) là của Trung Quốc, trăm phần trăm không vững. Các nhà khảo cổ Trung Quốc đã nhận vơ.

Ta có thể suy diễn ra có thể còn nhiều trống khác như trống Thượng Nông, có tuổi cổ bằng hay hơn trống Đông Bắc Thái, trống Wanjiaba. Các trống này còn nằm ở đâu đó trong lòng đất thuộc lãnh địa Việt Nam. Hy vọng khi gặp thấy các loại trống này các nhà khảo cổ học Việt Nam phải cố gắng khai quật một cách qui củ để định được tuổi trống bằng C14. Đây là một bằng chứng khảo cổ học mấu chốt và quyết định để phản lại luận cứ của Trung Quốc cho rằng trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn là của Trung Quốc!

Trống Bắc Thái Lan này là một bằng chứng cụ thể, hùng hồn cho thấy trống đồng không phải có nguồn gốc từ Trung Quốc (Vân Nam ngày nay), chủ nhân của trống đồng nòng nọc (âm dương) là Bách Việt.

.Trống Đồng Điền, Vân Nam.

clip_image020Một trống đồng Điền Việt.

Tương tự mặt một vài trống đồng Điền Việt cũng có hình chấm-vòng tròn diễn tả mặt trời sinh tạo nhưng có thêm các tượng người tế lễ trên mặt trống. Đây là trống muộn hơn (vì làm được các tượng nổi đòi hỏi phải có một kỹ thuật cao).

Hiển nhiên mặt trống chấm-vòng tròn diễn tả mặt trời sinh tạo cũng có một khuôn mặt là một từ.

Tóm lại trống Thượng Nông, Vạn Gia Bá, Bắc Thái Lan, Điền Việt có mặt trống hình chấm-vòng tròn diễn tả mặt trời tạo hóa có một khuôn mặt là một từ.

Cũng xin lưu tâm là chấm vòng tròn-vòng tròn-chấm cũng có thể có một khuôn mặt là một chữ (xem dưới).

b. Từ chấm vòng tròn với nghĩa thiếu âm, nguyên thể của gió clip_image021 (xem dưới ở phần tứ tượng).

c. Từ vòng tròn-chấm với nghĩa thiếu dương, nguyên thể của đất (xem dưới ở phần tứ tượng).

Với nghĩa thiếu âm, thiếu dương này cho thấy chấm vòng tròn-vòng tròn-chấm cũng có một khuôn mặt là một từ (xem dưới).

2. Dạng Chữ Vòng Tròn-Chấm/Chấm-Vòng Tròn.

Hình ngữ chấm-vòng tròn/vòng tròn-chấm chỉ là một CHỮ (hoặc chữ nọc chấm đặc hay chữ vòng tròn) có một DẤU (hoặc dấu nọc chấm đặc hay dấu nòng chấm rỗng). Trường hợp này chấm-vòng tròn/vòng tròn-chấm chỉ là một CHỮ có thêm dấu mà thôi, giống như chữ o có dấu mũ thành ô và có dấu móc thành ơ.

a. Chữ nọc chấm đặc có dấu nòng vòng tròn.

Chữ nọc chấm đặc và dấu nòng vòng tròn âm (thường nằm ngoài) có nghĩa là nọc nguyên tạo mang dương tính sinh tạo diễn tả mầm nọc, dương, mặt trời nguyên sinh, sinh tạo, tạo hóa và dấu nòng vòng tròn chứa nọc chấm đặc có một nghĩa âm, không gian sinh tạo.

Xin lấy một ví dụ.

Trên trống Ngọc Lũ I, ở hình thái tứ tượng thường gọi lầm là ‘họa tiết lông công’:

clip_image022Hình thái tứ tượng ở khoảng không gian giữa các nọc tia sáng trên trống Ngọc Lũ I.

Tượng nước dương Chấn diễn tả bằng hình hai giọt nước chuyển động, dương rơi từ trời có đuôi hình nọc que mang tính thái dươngclip_image023.

Trong mỗi giọt nước có hình ngữ chấm-vòng tròn. Ở đây không phải là Từ vì chấm-vòng tròn không có nghĩa thái âm, nước. Đây nghiêng nhiều về Chữ hay dấu hoặc chữ dùng như dấu. Chữ hay dấu chấm-vòng tròn có một nghĩa là nọc, dương mang tính sinh tạo, tạo hóa bổ nghĩa, xác thực thêm nghĩa của hai giọt nước dương rơi từ trời mang tính sinh tạo, ứng với khuôn mặt tượng nước Chấn.

b. Chữ nòng vòng tròn có dấu nọc chấm đặc.

Theo duy dương, chữ vòng tròn là mặt sáng đĩa tròn, mặt trời đĩa tròn và dấu nọc chấm đặc nguyên tạo chỉ dương sinh tạo. Gộp lại chữ chỉ mặt trời sinh tạo ngành nọc dương. Ví dụ như mắt các con chim thú thuộc ngành nọc dương thái dương trên trống đồng nòng nọc. Theo duy dương mắt ruột thịt với mặt trời. Trời có mắt. Mắt biến âm mẹ con với mặt. Mắt và mặt đều có nghĩa là sáng liên hệ với mặt trời. Người có mắt là người sáng…

clip_image025

Cò mang dương tính có một khuôn mặt biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam có con mắt dương, mặt trời dương thái dương chấm-vòng tròn.

clip_image027Lang trời, thiên cẩu trên trống Miếu Môn I.

Con sói lang trời trên trống Miếu Môn I có một khuôn mặt biểu tượng cho gió, thú biểu của Lang Hùng có có một khuôn mặt khí gió, bầu trời. Gió là thiếu âm IO, dương I của âm O nên con lang có con mắt dương chấm vòng tròn.

Tóm lại chấm vòng tròn có một khuôn mặt là một chữ có một nghĩa là dương, thái dương, mặt trời.

Điểm này thấy rõ ở con nai cái trên trống Ngọc Lũ I mặt dù là cái nhưng vẫn có con mắt dương chấm vòng tròn:

clip_image029

Con mắt dương cho biết nai cái thuộc ngành mặt trời, nọc dương thái dương như hươu đực cũng có con mắt dương.

Trong khi đó các loài chim thú có con mắt âm, mặt trời âm từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm (có một nghĩa là nước dương, mặt trời nước, mặt trời âm) là các loài có thể sống được dưới nước như chim nông:

clip_image031Chim nông trên trống Ngọc Lũ I có con mắt âm từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm.

Cá sấu:

clip_image033Cá sấu Lạc trên trống Hòa Bình có con mắt âm.

Tuy nhiên những loài sống được dưới nước nhưng có con mắt dương thì chúng thuộc ngành nọc thái dương, mặt trời dương thái dương. Ví dụ cá ở trống Ngọc Lũ I:

clip_image035Một con cá trên trống Ngọc Lũ I có con mắt dương chấm vòng tròn.

Lưu ý trên người cá có dấu nọc que xác thực con cá thuộc ngành nọc, dương, mặt trời nọc thái dương.

.Theo duy âm, chữ nòng-vòng tròn có một khuôn mặt nòng, không gian sinh tạo có dấu nọc chấm đặc có một nghĩa là nòng dương, không gian dương, khí gió.

Trên trống đồng nòng nọc dạng duy âm này ít thấy. Ngoại trừ từ chấm-vòng tròn thiếu âm cũng có thể nhìn dưới dạng nòng không gian có nọc chấm đặc dương tức không gian dương, khí gió (xem tượng thiếu âm).

Lưu Ý

Chữ và từ khó phân biệt hoặc dùng như nhau trong các nền văn hóa thế giới. Tuy nhiên trên đồ đồng của đại tộc Đông Sơn nhiều khi phân biệt dễ hơn.

Ví dụ dóng sấm (thunderbolt) trên trống Hàng Bún.

clip_image037Dóng sấm trên trống Hàng Bún.

Dóng sấm trên trống Hàng Bún là một loại dóng sấm hình chữ thập có một khuôn mặt sấm bốn phương trời. Ở tâm chữ thập có hình ngữ chấm-vòng tròn/vòng tròn-chấm lớn và ở hai đầu cũng có hai hình ngữ chấm-vòng tròn nhỏ (ở đây chỉ vẽ hai. Đáng lý ra đầu bốn nhánh chữ thập đều phải có bốn hình ngữ chấm-vòng tròn. Đây là lỗi kỹ thuật vì trống rất muộn). Hình ngữ chấm-vòng tròn ở tâm chữ thập to hơn bốn hình ngữ chấm vòng tròn ở bốn đầu chữ thập. Hình ở tâm mang tính chủ (mẹ) ở cõi tạo hóa sinh ra bốn hình con ở đầu chữ thập ứng với tầng tứ tượng. Hình ở tâm có nọc chấm đặc là lửa, mặt trời và nòng vòng tròn là nòng, nước, không gian tức nòng nọc âm dương. Nhìn dưới dạng nhất thể là thái cực, vũ trụ. Đây là một Từ. Thái cực sinh ra lưỡng nghi nòng và nọc rồi nòng nọc giao hòa sinh ra tứ tượng diễn tả bằng bốn nhánh chữ thập trong có bốn hình chấm vòng tròn nhỏ. Bốn hình nhỏ, là con là Chữ.

Nhìn dưới diện sấm, ta từ chấm vòng tròn lớn ở tâm có nghĩa là lửa nguyên tạo, mặt trời nguyên tạo và nước nguyên tạo, không gian nguyên tạo, liên tác tạo ra sấm.

Ở đây ta thấy rất rõ từ chấm vòng tròn ở tâm có một khuôn mặt là thái cực, tạo hóa (sấm có một khuôn mặt là tạo hóa, big bang là tiếng sấm khai thiên lập địa), vũ trụ và chữ chấm vòng tròn nhỏ với nghĩa lửa thái dương, mặt trời sinh tạo ở tầng tứ tượng.

TỪ CHẤM-VÒNG TRÒN/VÒNG TRÒN-CHẤM TRONG VŨ TRỤ TẠO SINH, DỊCH HỌC TRÊN TRỐNG ĐỒNG.

Tổng quát ta đã biết từ vòng chấm-vòng tròn/vòng tròn-chấm mang trọn vẹn ý nghĩa của vũ trụ tạo sinh, Dịch lý. Như thế trên trống đồng nòng nọc nhìn tổng quát từ chấm-vòng tròn/ vòng tròn-chấm có tất cả ý nghĩa nòng nọc, âm dương trọn vẹn trong qui trình Vũ Trụ Tạo Sinh ở tầng thái cực, lưỡng nghi bậc hai và tứ tượng.

Hư Vô.

Theo nòng nọc (âm dương) đề huề từ chấm-vòng tròn/vòng tròn-chấm không thể diễn tả hư vô, vô cực trên trống đồng là trống biểu của ngành trống, đực, dương, mặt trời.

Thái Cực.

Trên trống đồng nòng nọc, thái cực ở ngành trống, dương, mặt trời là khuôn mặt chính.

Ví dụ:

-Dóng sấm trên trống Hàng Bún.

Trở lại dóng sấm trên trống Hàng Bún đã nói ở trên. Như đã biết sấm có một khuôn mặt tạo hóa, sinh tạo. Big bang là tiếng sấm khai thiên lập địa. Từ chấm-vòng tròn lớn ở tâm dóng sấm trên trống Hàng Bún nhìn dưới dạng nhất thể có một khuôn mặt thái cực, vũ trụ.

-Dóng sấm trên trống Nam Ngãi II.

clip_image038Dóng sấm trên trống Nam Ngãi II.

Trên trống Nam Ngãi II dóng sấm thể điệu hóa thành hình thoi.

Tương tự ở tâm dóng sấm có từ chấm vòng tròn có một khuôn mặt nòng nọc (âm dương) nhìn dưới dạng nhất thể là thái cực, vũ trụ.

Bốn đỉnh hình thoi hình nọc mũi mác clip_image040 có một nghĩa là lửa thái dương, lửa chớp và bốn hình móc nước chuyển động. Lửa chớp và mưa nước tạo ra sấm.

Từ chấm vòng tròn ở tâm dóng sấm hình thoi này có một khuôn mặt thái cực, vũ trụ.

-Trống Bắc Thái Lan, trống Vạn Gia Bá và trống Điền Việt nói ở trên.

Mặt trống diễn tả mặt trời tạo hóa.

Điểm này thấy rõ qua sự kiện là trống đồng là trống nòng nọc (âm dương) nên mặt trời mang tính nòng nọc (âm dương), sinh tạo tạo hóa. Mặt trời dương nằm trong không gian vòng tròn âm mang tính sinh tạo, tạo hóa, vũ trụ (Cơ Thể Học Trống Đồng). Ta cũng thấy mặt trời nọc chấm đặc-vòng tròn trên trống này tương đương với Mặt Trời Đấng Tạo Hóa Ra Ai Cập cổ. Theo truyền thuyết mặt trời Ra lưỡng tính phái, diễn tả theo linh tự là chấmvòng tròn

clip_image041

Nếu nhìn dưới dạng nhất thể của lưỡng cực nòng nọc (âm dương) thì thần Ra là Đấng Tạo Hóa (Creator) nhất thể có một khuôn mặt ứng với thái cực, Trứng Vũ Trụ, ứng với Thần Nông-Viêm Đế nhất thể.

Như thế mặt trời tạo hóa trên trống Đông Bắc Thái Lan, Vạn Gia Bá, Điền Việt có một khuôn mặt tạo hóa lưỡng tính phái tức thái cực của ngành nọc, trống, mặt trời ứng với ngành Thần Mặt Trời Thái Dương Viêm Đế, Viêm Việt.

Lưỡng Nghi.

a. Cực dương.

Vì ở cực dương mang dương tính nên từ clip_image042 gọi là chấm-vòng tròn và có các nghĩa nọc, đực, dương, bộ phận sinh dục nam, lửa, thái dương, mặt trời mang tính tạo hóa, sinh tạo.

Hãy lấy một vài ví dụ để soi sáng các nghĩa này.

-/Nọc, đực, dương, mặt trời.

.Chấm-vòng tròn có một nghĩa là mặt trời mang tính sinh tạo, tạo hóa thấy hầu hết trong mọi nền văn hóa thế giới.

clip_image043

Ví dụ:

-/Từ chấm-vòng tròn/vòng tròn-chấm có nghĩa là mặt trời tạo hóa trên trống đồng.

Như đã nói ở trên, nhìn dưới diện lưỡng cực các mặt trời sinh tạo trên trống đồng nòng nọc cũng có một khuôn mặt là cực dương.

-/Người mặt trời trên trống Quảng Xương.

Trên trống đồng Quảng Xương, hai nhóm người nhẩy múa ở hai bên nhà nọc mặt trời có trang phục đầu đều có hình ngữ chấm-vòng tròn trông như con mắt. Như đã biết , con mắt chấm vòng tròn có một nghĩa là mặt trời.

clip_image045

Ta thấy rõ như ban ngày là ở một số người quanh hình con mắt dương chấm-vòng tròn có những tia sáng tỏa ra và cả ở những vật biểu cầm ở tay cũng vậy. Do đó từ chấm-vòng tròn ở đây có nghĩa là mặt trời sinh tạo, tạo hóa, vũ trụ. Trăm phần trăm những người này là những Người Mặt Trời rạng ngời.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt những Người Mặt Trời rạng ngời này là Người Mặt Trời, con cháu của thần mặt trời Viêm Đế-Thần Nông, là Người Mặt Trời Xích Quỉ con dân của Kì Dương Vương, Vua Mặt Trời Thượng Đỉnh, là những Lang mặt trời, những Hùng Vương mặt trời, là Người Việt Mặt Trời Rạng Ngời, con dân của Tổ Hùng Mặt Trời Tạo Hóa, Sinh Tạo (Trống Quảng Xương, Một Chương Sử Đồng).

b. Cực Âm.

-Mặt trời cực âm.

Gồm mặt trời thuần âm thái âm nhánh nòng nữ và mặt trời âm nhánh nọc, nam.

./Nòng thái âm nam.

Nhìn theo duy âm ngành dương, âm nam, từ chấm-vòng tròn có chấm nọc dạng nguyên tạo của nọc que I, lửa, mặt trời và vòng tròn theo duy âm có một khuôn mặt là nòng, không gian, nước (có một khuôn mặt tương đương với hai nòng vòng tròn OO, thái âm). Gộp lại ta có lửa nước, mặt trời nước.

Trên trống đồng là trống biểu của ngành trống, đực, nam, theo nguyên tắc không có mặt trời thái âm, nữ mà chỉ có mặt trời thái âm nam ngành nọc dương thái dương.

Ví dụ trống đồng nòng nọc, âm dương Đào Xá.

clip_image047               Trống Đào Xá có mặt trời 6 nòng vòng ánh sáng (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Trống có mặt trời là một u đĩa tròn nổi mang âm tính ngành Nòng (vì đây trên mặt trống nên đây là mặt trời chứ không thể coi là mặt trăng được). Mặt trời bao quanh bởi một vành sáng to coi như là vành không gian. Tất cả coi như là một dạng từ chấm-vòng tròn. Ở đây ánh sánh mang âm tính là 6 vòng ánh sáng. Số 6 là số âm thái dương Tốn. Như thế mặt trời có một khuôn mặt âm thái dương. Theo duy âm, nữ là mặt trời vòng sáng có chấm u tròn mang tính thái dương. Mặt trời này có một khuôn mặt là mặt trời nòng nữ thái dương.

Ta đã biết Tốn OII có một khuôn mặt là Nàng O Lửa II, Nàng Mặt Trời O Thái Dương II. Đây là một khuôn mặt của Mẹ Tổ Âu Cơ. Như thế trống này liên hệ ruột thịt với Mẹ Tổ Âu Cơ, là trống biểu của phía thái dương thần nữ Âu Cơ dưới khuôn mặt Tốn vũ trụ.

Như đã nói ở trên, vì ở trên trống, theo duy dương, nòng thái dương phải được đại diện bởi một khuôn mặt nam. Theo truyền thuyết thì chồng Chấn Lạc Long Quân đại diện, còn ở cõi thế gian, lịch sử thì trống là trống biểu của một khuôn mặt nam, lang trong 50 lang Hùng theo mẹ lên núi. Ở đây ta thấy trống là trống biểu của nhánh lửa 50 lang Hùng theo mẹ lên núi có một khuôn mặt là Đoài vũ trụ IIO. Ta thấy rất rõ mặt trời Nữ Thái Dương Âu Cơ Tốn OII có một khuôn mặt gió âm được đại diện bởi nhánh Hùng Lang Đoài khí gió dương vũ trụ IIO ngược tính âm dương với Tốn OII (Đoài IIO là khuôn mặt ngược cũa Tốn OII) (xem thêm Nhóm Trống Mặt Trời Có Ánh Sáng Âm Nòng Vòng Ánh Sáng).

Tóm lại trống Đào Xá có hình mặt trời chấm (đĩa tròn)-vòng tròn là mặt trời sinh tạo, tạo hóa. Sáu vòng ánh sáng nòng âm xác thực là mặt trời chấm-vòng tròn âm thái dương. Trên trống đồng có một khuôn mặt là mặt trời âm thái dương nam làm đại diện và có một khuôn mặt biểu tượng cho cực âm của ngành nọc âm thái dương.

./Nòng thái âm nữ.

Như đã nói ở trên khuôn mặt thái âm nữ, cực âm nữ không thấy trên trống đồng. Ngược lại thấy nhiều trên cồng, đĩa đồng và gương đồng (xem dưới).

Tóm lại từ chấm vòng tròn có một khuôn mặt là mặt trời âm biểu tượng cho cực âm. Trên trống mặt trời âm này thường là mặt trời âm nam.

Tứ Tượng

a. Tứ Tượng Chung.

Theo nguyên tắc từ chấm-vòng tròn/vòng tròn-chấm trên trống đồng cũng diễn tả tứ tượng chung. Ví dụ ngôi nhà thờ mặt trời trên trống Quảng Xương.

clip_image048Một ngôi nhà thờ mặt trời trên trống Quảng Xương.

Nhà thờ mặt trời có hai mặt trời với ánh sáng tỏa rạng ngời ở hai bên cửa. Bốn góc của mái có bốn từ chấm-vòng tròn clip_image049 mang nghĩa tứ tượng ngành mặt trời thái dương như sau:

1. Từ chấm-vòng tròn ở góc trái trên có đầu mái hình hai nọc que có nghĩa lửa thái dương cho biết từ chấm-vòng tròn này diễn tả lửa thái dương Càn.

2. Từ chấm-vòng tròn ở góc trái dưới có đầu mái hình núi tháp nhọn có cạnh trên bằng ngang diễn tả đất lửa thế gian Li.

3. Từ chấm-vòng tròn ở góc phải trên có đầu mái hình tua bờm chim diễn tả gió dương Đoài vũ trụ khí gió.

4. Từ chấm-vòng tròn ở góc phải dưới có đầu mái chữ V diễn tả nước dương Chấn.

Như thế bốn từ chấm-vòng tròn ở bốn góc mái nhà diễn tả tứ tượng. Ở đây có những chi tiết phụ đi kèm để chỉ định nghĩa.

b. Tứ Tượng Riêng Rẽ.

Tượng Thái Dương, Lửa Thái Dương.

Vì mang tính dương nên đọc chấm nọc trước: chấm-vòng tròn.

.Với nghĩa nọc, đực, dương, mặt trời, lửa, thái dương sinh tạo, tạo hóa.

-/Từ chấm-vòng tròn clip_image050với nghĩa biểu tượng cho cực dương như đã nói ở trên cũng có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng thái dương.

-/Từ chấm-vòng tròn với nghĩa là mặt trời clip_image051

Như đã nói ở trên, từ chấm-vòng tròn thấy trên trống đồng có một nghĩa mặt trời. Mặt trời cũng có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng thái dương, lửa thái dương.

-/Dóng sấm trống Hàng Bún.

Trở lại dóng sấm trên trống Hàng Bún.

clip_image037[1]

Ở đây ta chú ý tới các từ chấm-vòng tròn nhỏ ở bốn đầu dóng sấm. Bốn đầu chữ thập có hình ba thùy dương hình trái tim, lá đa diễn tả nước thái âm không gian chuyển động. Trong có từ chấm-vòng tròn clip_image052 nhỏ có một nghĩa là nọc, đực, dương, lửa thái dương vũ trụ. Nước không gian liên tác với lửa thái dương chớp tạo ra sấm.

Từ clip_image052[1] ở bốn đầu dóng sấm chữ thập có nghĩa là nọc, đực, dương, lửa thuần dương, lửa thái dương có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng thái dương, lửa thái dương.

Tượng Thiếu âm, Khi Gió.

Như đã biết thiếu âm IO là dương I của âm O, là nguyên thể của khí, gió, từ chấm-vòng tròn có một khuôn mặt diễn tả không khí, gió clip_image053

Từ chấm-vòng tròn với nghĩa thiếu âm này thấy rất nhiều và rất rõ nghĩa trên trống đồng Đông Sơn nhất là thuộc nhóm trống thiếu âm.

Ví dụ trên trống Thiết Cương ở vùng tứ hành gồm có tứ tượng ở dạng vận hành, sinh động ta có từ tâm trống ra ngoài:

clip_image055Vùng tứ hành trên trống Thiết Cương (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Hai vành 1 và 2 là hai vành chấm vòng-tròn và vòng tròn-chấm có tiếp tuyến. Tiếp tuyến ở đây có một nghĩa là chuyển vận, vận hành, sinh động (diễn tả hành trong tứ hành). Vành 1 có tiếp tuyến có tiếp điểm ở đỉnh vòng tròn đi xuống mang dương tính. Vành này nằm sát mặt trời cũng có dương tính hơn vành thứ 2. Ta biết thiếu âm là dương của âm, vậy vành số 1 là vành thiếu âm vận hành. Từ chấm-vòng tròn này mang nghĩa thiếu âm IO.

Mặt khác nếu coi tiếp tuyến là một nọc que I, thì tiếp tuyến-chấm-vòng tròn thiếu âm là IIO, quẻ Đoài khí gió vũ trụ.

Vành số 2 có tiếp tuyến ngược lại, có tiếp điểm ở đáy vòng tròn và ở xa mặt trời hơn nên mang âm tính hơn vành 1. Ta biết thiếu dương là âm của dương vậy từ vòng tròn-chấm ở vành 2 mang nghĩa thiếu dương OI. Nếu coi tiếp tuyến như là một nọc que I, thì tiếp tuyến vòng tròn-chấm thiếu dương OI là IOI, quẻ Li.

Còn lại vành 3 là vành hỗn hợp giữa chữ S gẫy do ba nọc que tạo thành. Ba nọc III là nọc thái dương, lửa vũ trụ Càn III và giọt nước chuyển động chữ N mập là nọc nước thái âm Chấn.

Tóm lại vùng tứ hành gồm có bốn tượng vận hành là Đoài IIO vũ trụ có từ chấm-vòng tròn mang nghĩa thiếu âm; Li IOI có từ vòng tròn-chấm mang nghĩa thiếu dương và vành Càn, Chấn lưỡng hợp.

Từ chấm vòng tròn ở đây có một nghĩa thiếu âm, khí gió.

Tượng Thiếu Dương OI, Lửa Thiếu Dương, Đất.

Thiếu dương về vật thể là nguyên thể của đất, núi, lửa đất Li. Thiếu dương OI có hào âm nòng O trên hào dương nọc que I mang âm tính nên ta đọc là vòng tròn-chấm.

Từ vòng tròn-chấm với nghĩa thiếu dương, đất khó thấy trong các nền văn hóa khác nhưng thấy rất nhiều và rất rõ nghĩa trên trống đồng Đông Sơn nhất là thuộc nhóm trống thiếu dương.

Ví dụ:

-/Trống Hoằng Vinh.

Trên trống Hoằng Vinh ở vùng tứ hành gồm có tứ tượng ở dạng vận hành, sinh động, ta có từ tâm trống ra ngoài:

clip_image057Vùng tứ hành trên trống Hoằng Vinh.

Vành số 1 là vành hỗn hợp, lưỡng hợp hình chữ S gẫy tia chớp do ba nọc que tạo thành. Ba nọc là nọc thái dương, lửa vũ trụ Càn và giọt nước chuyển động hai hình tam giác đen là nọc nước thái âm Chấn.

Vành số 3 là vành nọc nấc thang hay thanh nganh đường rầy xe lửa (thường gọi lầm là răng lược) mang nghĩa nọc âm thái dương. Ta biết Đoài vũ trụ IIO là thái dương II của âm O. Như thế vành này có một khuôn mặt là Đoài vũ trụ.

Như thế còn lại vành 2 là vành vòng tròn-chấm bắt buộc phải có nghĩa là thiếu dương, nguyên thể của lửa đất Li IOI.

-/Trống Thiết Cương.

Trở lại trống Thiết Cương. Như đã biết ở vùng tứ hành có vành chấm vòng tròn với nghĩa thiếu dương đất dương Li.

./Trống Chợ Bờ.

CHO BO

Vùng tứ hành trống Chợ Bờ.

Vùng tứ hành có vành 1 gồm chuỗi sóng chữ N hay chữ S gẫy lửa thái dương Càn và hai giọt nước thể điệu hóa nước dương Chấn. vành thứ 3 là vành thanh ngang đường rầy Gió dương Đoài vũ trụ khí gió. Ở giữa hai vành này là vành vòng tròn chấm, còn lại là thiếu dương Đất dương Li.

Tượng thái âm, Nước dương ngành thái dương.

Như đã nói ở trên ở phần tứ tượng chung, từ chấm-vòng tròn cũng có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng nước dương.

Ví dụ:

.Các biểu tượng cực âm đã nói ở trên cũng có thể có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng thái âm.

.Trống trống Ngọc Lũ II.

Ở khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có hình thái tứ tượng (hiện nay gọi lầm là họa tiết lông công) ở trống Ngọc Lũ II.
                                               clip_image059

Khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có hình thái tứ tượng ở trống Ngọc Lũ II (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Ở đây ta thấy hình thái tứ tượng có: hình bờm gió nọc thiếu âm Đoài vũ trụ, nọc mũi mác là nọc thái dương, lửa vũ trụ Càn, hình chữ V kép núi tháp đất Li. Còn lại từ vòng tròn-chấm nằm ở giữa phải có nghĩa là nọc thái âm, nước dương Chấn.

Hãy so sánh hình thái tứ tượng ở trống muộn Ngọc Lũ II này với hình thái tứ tượng ở trống cổ Ngọc Lũ I còn giữ chính thống.

clip_image061Hình thái tứ tượng ở trống Ngọc Lũ I (nguồn: Nguyễn Văn huyên).

Ta thấy từ chấm-vòng tròn tương đương với hai giọt nước có đuôi Chấn clip_image063.

Nếu là ý tác giả và không phải là lỗi kỹ thuật thì từ chấm vòng tròn có một nghĩa biểu tượng ho tượng thái âm, nước ngành nọc thái dương.

Như đã biết thái âm cũng có hai khuôn mặt nòng nọc (âm dương).

Nòng thái âm nam.

Thường thường trên trống đồng chỉ có khuôn mặt nòng thái âm nam của ngành nọc âm thái dương. Từ chấm vòng tròn với nghĩa nước dương ngành nọc dương thái dương ít thấy, thường được thay thế bằng khuôn mặt âm nam làm đại diện dưới dạng từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm có nghĩa là nước dương Chấn (xem Từ Chấm-Hai Vòng Tròn Đồng Tâm).

Nòng thái âm, nữ.

Để bài viết được đầy đủ xin nói sơ qua khuôn mặt nòng nữ này thấy ở cồng, đĩa và gương đồng.

Từ vòng tròn-chấm/chấm-vòng tròn với nghĩa phía thuần âm nữ, như đã nói ở trên, thấy nhiều ở đĩa đồng, cồng và gương đồng. Để bài viết được trọn vẹn, xin nói lướt qua đĩa đồng, gương đồng và cồng.

a. Cồng Mẹ.

Như đã biết, cồng là một thứ trống âm, biểu tượng của ngành nòng âm thái âm (lệnh ông không bằng cồng bà).

Theo truyền thuyết của một vùng ở Tây Nguyên Việt Nam, cồng do một vị thần nữ sáng tạo ra. Một số tộc Tây Nguyên họ hàng mật thiết với các tộc Đa Đảo theo mẫu hệ, thuộc dòng nước, Lạc Việt hải đảo có tục thờ cồng. Cồng biểu tượng cho ngành nòng âm phía thái âm nữ thấy rõ nhất qua các cồng gọi là cồng mẹ có cục u tròn ở tâm mặt cồng trông như cái vú hay núm vú phái nữ.

Diễn tả theo chữ nòng nọc vòng tròn-que, theo thuần âm thì cồng tròn là nòng O và u tròn vú là một chấm đen mang âm tính. Cồng lúc này ta có từ chấm (đen)-vòng tròn có nghĩa là mặt trời sinh tạo nòng âm, nữ. Nếu đọc theo âm ta có vòng tròn-chấm (đen) có một nghĩa là không gian âm, nước.

Vào thời phụ quyền cực đoan, cha thay thế mẹ, ta có cồng cha, cồng đực. Có thể đây là loại cồng không có cục u tức chiêng hay cục u diễn tả một nọc chấm đặc mang dương tính.

Ví dụ trên hai tấm phên ở mặt trước ngôi nhà nòng âm không gian trên trống Ngọc Lũ I có các từ (hay chữ) chấm-vòng tròn mà một số tác giả cho là những chiếc cồng, cho thấy các ngôi nhà nòng này mang tính thái dương, lửa, mặt trời hay thuộc ngành nọc âm thái dương.

clip_image065Một ngôi nhà nòng không gian trên trống Ngọc Lũ I.

Theo duy âm các nhà nòng này là nhà không gian thái dương. Theo duy dương là nhà nòng ngành mặt trời nòng âm thái dương.

Ta thấy rất rõ ở đầu mái bên phải có từ chấm-vòng tròn có nghĩa là mặt trời, thái dương nằm trong vòng tròn lớn có một nghĩa là nòng, không gian. Đầu mái xác thực ngôi nhà nòng này là nhà nòng không gian thái dương hay nhà mặt trời nòng âm thái dương.

Lưu ý nhà có để cồng là nhà nòng âm, không gian còn nhà có để trống là nhà nọc, dương, mặt trời.

b. Đĩa đồng Điền Việt.

Những đĩa tròn đồng cũng được thờ phượng vì mang ý nghĩa vũ trụ luận. Trong đó cũng có loại biểu tượng cho nhánh nòng thái âm. Ví dụ một đĩa đồng Điền, Vân Nam.

clip_image067Đĩa đồng Điền, Vân Nam (nguồn: Bronze Arts of Dian Kingdoom, Ynnan National Fine Arts).

Đĩa diễn tả mặt trời-không gian trụ-vũ. Ở tâm có chấm nọc ngọc trắng mang âm tính và vành tròn vàng rất dầy, mang tính thái âm OO (độ dầy gấp đôi độ dầy của vòng tròng bình thường). Đọc theo duy dương là chấm-vành tròn, một dạng thể âm của từ chấm-vòng tròn. Ta có chấm mặt trời-vành tròn không gian nước thái âm tức mặt trời nước sinh tạo IOO, quẻ Chấn. Ta cũng thấy rõ không gian bên ngoài có những hình sóng cuộn diễn tả nước chuyển động ứng với nọc nước, nước dương thái âm Chấn. Ngoài ra còn có dát 8 hột ngọc trắng tròn. Số 8 là số Khôn tầng 2 có khuôn mặt âm là nước, Chấn. Rõ ràng mặt trời là mặt trời nước Chấn được diễn tả bằng chấm và vòng tròn rất dầy mang tính thái âm, nước.

Nếu đọc ngược lại theo chiều âm tức đọc vành tròn trước, ta có vành tròn là mặt trời âm đĩa tròn O và chấm nọc mang tính thái dương II, ta có mặt trời nữ thái dương OII, Tốn hay nếu xem vành tròn là không gian thì ta có không gian thái dương Tốn.

c. Gương đồng.

Gương biểu tượng cho phái nữ.

Từ chấm-vòng tròn mang nghĩa thái âm nữ cũng thấy nhiều trên gương đồng.

Vào thời phụ quyền hiển nhiên cũng có loại gương đồng mang tính âm nam và cũng có loại có một khuôn mặt đại diện cho âm nữ (Gương Đồng Trung Quốc và Trống Đồng Đông Sơn).

Tam thế, Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống).

Như đã biết từ vòng tròn-chấm mang nghĩa sinh tạo, tạo hóa, vũ trụ qua hình ảnh trứng vũ trụ, thái cực thì hiển nhiên nó cũng có nghĩa biểu tượng cho tam thế. Trống có mặt trống hình chấm (đĩa tròn)-vòng tròn như Thượng Nông, Vạn Gia Bá, Đông Bắc Thái mang hình ảnh nấm vũ trụ, tam thế ngành nọc dương, mặt trời thái dương.

Trục Thế Giới

Trống có mặt trống đơn giản là mặt trời nguyên tạo, tạo hóa chấm vòng tròn như trống Điền Việt, Bắc Thái Lan, Vạn Gia Bá thì mặt trời là chóp đỉnh, là thiết diện của trục thế giới. Nói một cách khác, từ chấm-vòng tròn có một khuôn mặt là thiết diện của trục thế giới, biểu tượng trục thế giới.

Như đã biết, rõ nhất là các trống đồng Điền dùng làm trụ bàn thờ có chức vụ như một trục thế giới trên

có các cảnh tế lễ, hiến sinh. Các trống đồng Điền Việt có mặt trống là chấm vòng tròn như đã nói

ở trên có một khuôn mặt là trục thế giới.

Tử Sinh, Tái Sinh, Vĩnh Hằng.

Hiển nhiên ta thấy rất rõ nghĩa tử sinh, tái sinh, hằng cửu qua từ chấm-vòng tròn/vòng tròn-chấm mang ý nghĩa biểu tượng trọn vẹn của Vũ Trụ Tạo Sinh, dịch lý và với nghĩa mặt trời sinh tạo, tạo hóa trong ngành nọc mặt trời thái dương. Các trống có mặt trống hình mặt trời chấm vòng tròn tạo, hóa, sinh tạo hiển nhiên mang trọn vẹn nghĩa vũ trụ thuyết, bao hàm nghĩa tử sinh, tái sinh, hằng cửu. Các trống này cũng như các loại trống đồng khác vì thế được dùng làm vật tùy táng chôn theo người chết hầu mong hồn người chết được tái sinh hay về miền vĩnh hằng.

…..

Như thế ta thấy rất rõ từ chấm-vòng tròn/vòng tròn-chấm mang ý nghĩa biểu tượng trọn vẹn của Vũ Trụ Tạo Sinh, Dịch ứng với nhiều giai kỳ trong qui trình sinh tạo.

DẤU TỪ VÒNG TRÒN-CHẤM/CHẤM VÒNG TRÒN.

Cũng như các chữ và từ nòng nọc vòng tròn-que khác từ chấm-vòng tròn/vòng tròn-chấm cũng được dùng làm dấu.

Cũng như các dấu khác dấu vòng tròn có chấm thường dùng lẫn lộn với chữ, cũng dễ lầm lẫn với chữ mặc dầu theo chính thống dấu thường nhỏ hơn chữ, thường ở dạng đơn chiếc, đứng lẻ loi một mình, dùng làm chỉ định tố.

-Dấu với nghĩa nọc, dương.

Hình hai giọt nước trong khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có hình thái tứ tượng (hiện nay gọi lầm là họa tiết lông công) ở trống Ngọc Lũ I.

clip_image069

Hình hai giọt nước trong khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có hình thái tứ tượng ở trống Ngọc Lũ I.

Hai giọt nước có đuôi là hai giọt nước rơi từ trời mang tính tạo hóa, trong có chấm- vòng tròn có một nghĩa là nọc, đực, dương thái dương nguyên tạo, sinh tạo, tạo hóa. Hai giọt nước này là tượng nọc thái âm, nọc nước thái âm Chấn sinh tạo ngành nọc thái dương. Ở đây nghiêng nhiều về dấu hay chữ dùng làm dấu vì hai giọt nước là biến dạng của hai nòng OO vốn đã có nghĩa là thái âm nước và có đuôi vốn đã diễn tả chuyển động mang dương tính. Chấm-vòng tròn chỉ là một dấu bổ nghĩa, xác thực tính dương, chuyển động mà thôi.

-Dấu với nghĩa mặt trời clip_image070, thái dương ngành nọc mặt trời thái dương.

Ví dụ:

-Nhà Nòng, không gian trên trống Hoàng Hạ.

Trên nóc nhà nòng, không gian ở trống Hoàng Hạ có hai con gà trống và mái.

clip_image072

Một ngôi nhà nòng, không gian trên trống Hoàng Hạ.

Trên người hai con gà này đều có hình ngữ chấm-vòng tròn. Ở đây ta loại nghĩa nọc, đực, dương ra ngoài vì gà mái không thể có nghĩa là đực, dương được. Ở đây chỉ còn nghĩa thái dương, mặt trời, ngành mặt trời thái dương mà thôi. Như vật chấm-vòng tròn ở đây nghiêng nhiều về một dấu hơn là một từ chỉ tính thái dương, mặt trời, ngành mặt trời thái dương.

-Thuyền trên trống Hoàng Hạ.

Từ chấm vòng-tròn dùng như một dấu thấy rất rõ ở một con chim trên trống Hoàng Hạ:

clip_image074

Một con chim nông đứng ở đầu mũi thuyền trên trống Hoàng Hạ.

Con chim đứng ở đầu mũi thuyền, ở dưới nước, trên trống Hoàng Hạ có mỏ túi, mỏ nang, mỏ nông, có con mắt âm nước chấm-hai vòng tròn đồng tâm, trên người có hình sóng nước dương chấm-hai vòng tròn đồng tâm. Đây là con chim nông biểu tượng cho Chấn nước dương, thái dương. Con chim sau đuôi thuyền bay lên trời có mỏ nhọn nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) có nghĩa là nọc, dương, lửa, mặt trời, thái dương sinh động, Càn… Hai con chim ở dạng lưỡng hợp thái âm thái dương ngành nọc thái dương.

Trước chân con chim nông đứng ở đầu mũi thuyền có một tấm bảng nhỏ trong có hình ngữ chấm-vòng tròn. Ta thấy rất rõ chấm-vòng tròn này dùng như một dấu, một dấu hiệu, một bảng hiệu, chỉ cho biết con chim nông thuộc ngành nọc lửa, mặt trời, thái dương.

Xin lưu tâm là trống Hoàng Hạ có mặt trời 16 nọc tia sáng thuộc nhóm trống Khôn tầng 3 (0, 8, 16) mang nhiều âm tính, nước có một khuôn mặt là mặt trời nước Chấn mang tính chủ vì vậy các chim thú mang tính mặt trời thái dương ngành nọc âm thái dương.

Kết Luận

Kết luận nói chung về từ vòng tròn-chấm/chấm-vòng tròn.

Từ vòng tròn-chấm/chấm-vòng tròn là một từ hỗn hợp nòng nọc (âm dương) đầu tiên và quan trọng nhất của hệ thống chữ nòng nọc vòng tròn-que, một dạng căn cội mang tính nguyên tạo của vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo, dịch học.

Từ vòng tròn-chấm/chấm-vòng tròn này có vô số nghĩa theo vũ trụ tạo sinh, dịch lý.

Ngày nay thường chỉ được hiểu nhiều nhìn dưới diện duy dương với nghĩa là mặt trời. Và cũng không hiểu rõ đây là mặt trời nguyên tạo, sinh tạo, tạo hóa.

Duy chỉ trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn, từ này còn thấy có đủ tất cả ý nghĩa theo Vũ Trụ Tạo Sinh, Dịch diễn tả một cách chính thống, rành rọt ở ngành trống, nọc, dương, thái dương, mặt trời thái dương. Điểm này cho thấy trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là một cuốn từ điển của chữ nòng nọc vòng tròn-que với các nghĩa còn chính thống, chính gốc. Trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là bộ Dịch đồng bằng hình ảnh duy nhất của nhân loại. Các nhà làm trống của đại tộc Đông Sơn ở Việt Nam là những bậc thầy, bậc sư phụ về chữ viết nòng nọc vòng tròn-que.

Ta phải nhìn ít nhất dưới hai diện nòng nọc (âm dương) là vòng tròn-chấm và chấm-vòng tròn.

Ta cũng phải phân biệt hai khuôn mặt từ và chữ.

Từ vòng tròn-chấm/chấm-vòng tròn có thể dùng làm dấu.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: