CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE: TỪ BA NỌC QUE III (Phần 4 và hết) TRÊN TRỐNG ĐỒNG.

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE.

CHƯƠNG III

CHỮ NỌC

(Phần 4 và hết)

TỪ NỌC BA NỌC QUE III.

Nguyễn Xuân Quang

TỪ BA NỌC QUE TRÊN TRỐNG ĐỒNG CỦA ĐẠI TỘC ĐÔNG SƠN.

(tiếp theo).

Ý Nghĩa Từ Nòng Ba Nọc Que Trong Vũ Trụ Tạo Sinh, Dịch Học Trên Trống Đồng.

Bây giờ ta lướt qua qui trình vũ trụ tạo sinh xét nghĩa từ ba nọc que III (bao gồm tất cả các dạng) trên trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn.

.Hư Vô

Hư vô ở đây thuộc diện siêu nọc dương tầng tám quẻ.

Hư vô thường thấy ở dạng ba nọc que hình tam giác. Hình tam giác có một khuôn mặt cõi trên, thượng thế. Thượng thế có một khuôn mặt hư vô. Ở đây hư vô mang khuôn mặt gián tiếp qua khuôn mặt thượng đế, đấng tạo hóa.

Xin nhắc lại trống đồng nòng nọc hình nấm vũ trụ Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I) chia ra tam thế. Mỗi tam thế lại chia ra ba tiểu thế. Hạ thế cũng chia ra ba tiểu thế, ba cõi nhỏ: cõi trên, cõi giữa và cõi dưới.

Trên trống đồng chính thống chân trống diễn tả hạ thế thường không có trang trí gì vì là nơi tăm tối.

Tuy nhiên ở những trống muộn, nhất là những trống của dòng Mặt Trời Nước, dòng nòng âm như các trống ở Nam Trung Quốc, Lào, Karen (Myanmar), Nam Dương… chân trống có các hình dấu chữ nòng nọc vòng tròn-que diễn tả hạ thế.

Xin nhắc lại phần lớn các trống nam Trung Quốc thuộc loại trống trệt, hình nồi úp là trống mặt trời Nước Nguyễn Xuân Quang IV. Ở chân trống đôi khi có vành hình đầu mác, tam giác biểu tượng cho cõi trên của hạ thế, nơi linh hồn thiện, tốt được tạm lưu lại chờ được lên thượng thế, tạo hóa để được tái sinh hay sống hằng cửu.

Ví dụ ở chân một trống Vân Nam hay Lào có hình thái chuỗi hình tam giác nổi/chìm.

clip_image002Vành từ nọc tam giác nổi/chìm ở một chân trống Vân Nam hay Lào (nguồn: galerie Michael Herrfurth. Asian Art, http://www.opiumgewichte.com).

Vùng chân trống biểu tượng hạ thế, cõi âm, đôi khi có một khuôn mặt tạo hóa ở cõi âm. Trong trường hợp đó, từ nọc tam giác biểu tượng cho các vị thần sinh tạo, đấng hạ đế cõi âm nhánh nọc âm thái dương có một khuôn mặt hư vô một cách gián tiếp.

Kiểm chứng lại ta cũng thấy có loại trống ở chân trống hạ thế có ba vành ba vòng tròn nòng OOO diễn tả Khôn, nước thái âm, cõi âm đối ngược với vành từ nọc tam giác vừa nói ở trên. Vành này biểu tượng cho các vị thần sinh tạo, đấng hạ đế cõi âm nhánh nòng âm có một khuôn mặt hư vô một cách gián tiếp. Ví dụ ở trống Nông Cống:

clip_image004Chân Trống Nông Cống có vành ba nòng vòng tròn.

.Thái Cực

Thái cực ở đây cũng thuộc khâu siêu nọc dương tầng tám quẻ thường ở dạng lưỡng hợp nòng nọc (âm dương) bậc ba, Khôn-Càn. Ở trống biểu tượng cho ngành nọc dương thường ở dạng lưỡng hợp Càn-Chấn.

1. Dạng ba nọc kết hợp còn giữ hình nọc que.

Như đã thấy nhiều ở trên, tại vùng tứ hành có vành hình sóng tia chớp lửa Càn do ba nọc que hợp lại thành hình chữ S gẫy ba hay chữ N ôm hình sóng nước Chấn hình chữ S gẫy mập, phình bụng hay đậm nét. Nhìn dưới dạng nhất thể có một khuôn mặt thái cực.

2. Dạng ba nọc que kết hợp thành hình tam giác.

Như đã nói ở trên, đầu các con thuyền trên trống Ngọc Lũ I và họ hàng có dạng lưỡng hợp chim rìu lửa đầu tam giác có một khuôn mặt là nõ, bộ phận sinh dục nam cắm vào miệng rắn nước có một khuôn mặt là âm đạo. Nhìn dưới dạng nhất thể có một khuôn mặt thái cực.

.Lưỡng Nghi:

Đây cũng là lưỡng nghi của khâu ba nọc que siêu dương.

1. Cực dương nhìn theo khâu siêu dương.

Các ví dụ ở trên, dạng lưỡng hợp nhìn dưới diện phân cực  tách ra làm hai cực  thì tia chớp chữ S gẫy ba, chữ N và đầu chim rìu tam giác có một khuôn mặt biểu tượng cho cực dương.

2. Cực âm.

Đây là cực âm của khâu từ ba nọc que.

Vành tam giác răng cưa, răng sói có chuỗi tam giác chìm âm, Chấn có một khuôn mặt biểu tượng cho cực âm. Chuỗi này xen kẽ với chuỗi tam giác nổi dương có một nghĩa lửa thái dương sinh động, Càn có một khuôn mặt biểu tượng cực dương.

Tứ Tượng

Ở đây tứ tượng thuộc khâu siêu nọc dương III nên tượng Lửa và tượng Đất mang tính trội.

1. Tượng Thái Dương, Lửa Thái Dương Khâu Siêu Nọc Dương.

.Chim mỏ cắt  rìu lửa.

Các chim mỏ cắt, đầu rìu hình tam giác như ở đầu mũi thuyền trống Ngọc Lũ I và họ hàng nói ở trên có một nghĩa biểu tượng cho lửa thái dương, Càn, có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng Lửa thái dương.

. Vành tam giác đầu mác, răng cưa.

-Trống Pắc Tà.

clip_image006Trống Pắc Tà.

Trống Pắc Tà có mặt trời 8 nọc tia sáng. Số 8 là số Khôn tầng 2 (0, 8). Khôn hôn phối với Càn. Trống có một khuôn mặt Càn-Khôn. Khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có 6 từ nọc mũi mác chồng lên nhau. Có lẽ đây là lỗi kỹ thuật vì là trống muộn. Thật ra phải là 7 vì 7 là số Càn.

Hai vành ngoài bao quanh tâm trống mặt trời-không gian là vành nọc đầu mác, răng cưa và vành chấm-vòng tròn. Vành đầu mác tam giác diễn tả ánh sáng mặt trời chiếu từ mặt trời ra có một nghĩa là lửa thái dương, Càn. Vành chấm vòng tròn có một nghĩa là thiếu âm hay thiếu dương. Ở đây lấy nghĩa thiếu âm vì là trống Càn-Khôn mang tính chủ.

Hiển nhiên từ nọc tam giác đầu mác, răng cưa có một nghĩa là lửa thái dương Càn có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng thái dương, lửa thái dương.

-Trống Đông Sơn IV.

clip_image008Trống Đông Sơn IV.

Trống Đông Sơn IV có mặt trời 8 nọc tia sáng, như vừa mới nói ở trên, cũng là trống Càn Khôn. Trống này có khuôn mặt chủ là trống lửa thái dương Càn.

Vành bốn con cò là Cò Lửa thái dương Càn. Cả mặt trống chỉ có hai vành đầu mác tam giác có một nghĩa là lửa thái dương, thái dương.

Hiển nhiên từ đầu mác có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng thái dương.

.Đầu đao mái nhà nọc, mặt trời.

Như đã nói ở trên, ở trống Ngọc Lũ I và họ hàng có những ngôi nhà nọc, mặt trời đầu mái hình nọc nhọn đầu đao diễn tả nọc, dương, thái dương. Ở hai góc dưới hai đầu đao có hình hai tam giác có một nghĩa lửa thái dương, thái dương cho biết căn nhà này là nhà nọc, dương, mặt trời.

Tam giác ở đây có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng thái dương, lửa thái dương.

.Các vành ngoài biên trống nọc dương thái dương.

Như đã nói ở trên, những trống có các vành ngoài biên trống có hai vành nọc đầu mũi mác tam giác có một khuôn mặt là nọc dương thái dương. Vành nọc tam giác bên trong có một khuôn mặt diễn tả ánh sáng mặt trời chiếu từ mặt trời ở tâm ra.

Hiển nhiên nọc tam giác diễn tả tia sáng mặt trời có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng lửa.

……

2. Tượng Thiếu Dương, Đất Khâu Siêu Nọc Dương.

.Cò trên trống Phú Xuyên.

Như đã nói ở trên, cò trên trống Phú Xuyên là cò Đất dương, cò Đá có bờm hình tam giác núi tháp và giữa hai cánh có bỏ dấu tam giác xác thực là cò Đất dương Li.

Hiển nhiên từ và dấu tam giác diễn tả Đất dương có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng thiếu dương, Đất dương Li.

.Thuyền nhánh nọc dương thái dương trên trống Ngọc Lũ I.

Như đã biết, trên trống Ngọc Lũ I có 6 con thuyền phán xét linh hồn. Hai thuyền 1 và 2 dẫn đầu biểu tượng cho hai nhánh nòng nọc (âm dương) ứng với lưỡng nghi của đại tộc nước và 4 thuyền còn lại biểu tượng cho 4 tộc ứng với tứ tượng. Thuyền số 1 dẫn đầu là thuyền biểu tượng cho nhánh nọc dương Càn Li vì có hai cảnh phán xét linh hồn (có hai linh hồn trông như hai trẻ em trần truồng ngồi trên sàn thuyền mà hiện nay hiểu lầm là tù nhân. Một bị mòn mờ) của hai đại tộc Càn và Li.

clip_image010Thuyền biểu tượng cho nhánh nọc dương Càn Li.

Trống Ngọc Lũ I là trống thuộc nhóm trống thái dương thế gian vì có mặt trời 14 nọc tia sáng. Số 14 là số Tốn tầng 2 (6, 14) thế gian. Tốn OII là âm O thái dương II có khuôn mặt dương I thái dương II tức Càn làm đại diện (Vì thế thuộc nhóm thái dương Càn). Vì là trống thế gian nên có khuôn mặt Li mang tính chủ. Điểm này thấy rõ ở thân thuyền có hình thang ngược đặc tức hình tam giác ngược cắt cụt đầu có một nghĩa là Đất. Ở đây hình thang đặc đen là Đất âm vì là thuyền của tộc sông nước.

Trong các mấu chốt căn cước đặc thù ngoài các vật để dưới gầm đài tam thế như vừa mới nói ở trên còn có các mấu chốt khác như tay chèo chẳng hạn. Xin nhắc lại là các con thuyền đều có tay chèo đầu hình chim và dưới thuyền không có nước cho thấy thuyền bay được, không phải là thuyền thế tục (không phải là thuyền ‘lính thủy đánh bộ’, không phải là thuyền chiến thắng vinh quang sau khi đánh trận trở về như hiện nay cho là vậy) mà đây là thuyền phán xét linh hồn (Ý Nghĩa Hình Thuyền Trên Trống Đồng).

Người này tay cầm tay chèo có đầu chim rìu đầu mác tam giác nằm ngang. Đầu chim chỉ địa.

clip_image012

Rìu nằm ngang biểu tượng cho đất bằng. Chỉ địa mang âm tính. Chim rìu dương mang âm tính diễn tả âm O của dương I là thiếu dương OI, nguyên thể của Đất. Ta cũng thấy chim rìu này đầu không có mũ sừng, không phải là loài chim sừng lớn (Great Hornbill, Bruceros bicornis, chim biểu tượng của Lửa thái dương Càn ứng với Viêm Đế). Đây là chim cắt nhỏ, chim cắt đất (ground hornbill), chim biểu tượng cho Lửa thiếu dương Li, Đất ứng với Kì Dương Vương.

Tóm lại từ nọc tam giác nằm ngang đỉnh chỉ về phía tay phải, chiều dương diễn tả Đất thiếu dương Li có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng thiếu dương, Đất. Con thuyền này của nhánh nọc dương Li Càn với khuôn mặt Li mang tính chủ có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng thiếu dương Đất ngành thái dương.

.Các vành ngoài biên trống nhóm nọc dương thái dương.

Như đã nói ở trên, vành nọc tam giác chỉ thiên ở ngoài cùng, nhất là khi có bỏ ba dấu nọc chấm đặc bên trong có một nghĩa diễn tả núi tháp Đất dương. Hiển nhiên có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng đất dương Li.

3. Tượng Thiếu Âm Gió Khâu Siêu Nọc Dương.

a. Dạng ba nọc que.

Như đã biết qua bài viết Trống Quảng Xương, Một Chương Sử Đồng, trống Quảng Xương là trống Liên Bang Văn Lang Trăm Lang Hùng gồm hai nhánh: người Chim Cắt ngành nọc mặt trời Lửa ứng với nhánh 50 Lang Lửa, Chim Tiên theo mẹ Âu Cơ lên núi và nhánh nọc mặt trời Nước ứng với nhánh 50 Lang Nước Rắn Rồng theo cha Lạc Long Quân xuống biển. Vì vậy trên trống Quảng Xương có hai ngôi nhà nọc, mặt trời hình trụ thờ hai nhánh nọc và Lang Con Trai mặt trời (mà không có nhà nòng, âm, không gian).

clip_image014Ngôi nhà nọc, mặt trời nhánh nòng Khôn trên trống Quảng Xương.

Ngôi nhà nọc này hai bên cửa có hai hình mặt trời hiển nhiên trăm phần trăm là nhà mặt trời, đền thờ phượng mặt trời, thờ phượng Lang Mặt Trời, thờ Hùng Vương Mặt Trời.

Nhà nọc mặt trời của đại tộc nòng Khôn này gồm hai chi tộc: phía dương là chi nòng, Khôn dương Gió và phía âm là chi nòng Khôn âm Nước. Hai chi này diễn tả bằng hai người trần truồng ở hai bên nhà (vì là tộc Khôn mang âm tính nên không có quần áo).

Người ở bên phải tức phía dương. Dương của nòng, Khôn là Khôn dương khí Gió. Người này cũng trần truồng thuộc nhánh Khôn nhưng trên người có dấu nọc que xác thực là Khôn dương tức chi tộc Gió. Trang phục đầu hình chim có bờm Gió. Đuôi bờm hình sừng, búa, bổ do 3 nọc que to nét mang âm tính hợp lại clip_image016. Số 3 là số Đoài vũ trụ khí gió. Cánh hay đuôi hình phướn gió. Ở ngang trán có từ các sọc nhỏ song song clip_image018diễn tả bờm gió. Ta thấy rõ trang phục đầu là chim bổ nông, chim biểu khí Gió. Hiển nhiên người này thuộc chi tộc Gió. Con mắt người này cũng là từ chấm-vòng tròn có một nghĩa mặt trời. Đây là Lang Hùng mặt trời tộc Khí Gió.

Điểm chính cần muốn nói tới ở đây là phần bờm sau gáy trang phục đầu hình đầu chim bổ nông của người chi tộc Gió do ba nọc que to nét giống ba chiếc lông chim thể điệu hóa mang âm tính ghép lại clip_image016[1], diễn tả khí Gió dương, có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng thiếu âm Gió.

b. Dạng tam giác.

.Chim nông mỏ “bổ” (rìu).

Như đã nói ở trên, ở thạp đồng Hợp Minh có những con chim nước bay từ mặt nước lên giữa các con thuyền, có đầu hình đầu mác tam giác clip_image020 là con chim bổ nông.

Chim nông đầu bổ, búa hình tam giác ở đây có một khuôn mặt biểu tượng cho Gió dương, tượng thiếu âm Gió dương.

.Tay chèo thuyền số 5 trên trống Ngọc Lũ I.

Như đã nói ở trên, trên trống Ngọc Lũ I có 6 con thuyền phán xét linh hồn. Hai thuyền 1 và 2 dẫn đầu biểu tượng cho hai nhánh nòng nọc (âm dương) ứng với lưỡng nghi của đại tộc nước và 4 thuyền còn lại biểu tượng cho 4 tộc ứng với tứ tượng. Thuyền số 5 là thuyền tộc Gió thấy rõ qua một trong những mấu chốt đặc thù là vật hình trống hay trống để dưới gầm sàn đài cao tam thế.

clip_image022Thuyền số 5 biểu tượng cho tộc Gió trên trống Ngọc Lũ I (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Trống (drum) theo duy âm (vì là tộc thuyền, nước) có một khuôn mặt là trống (dương), nọc (I) của nòng âm O tức IO, thiếu âm nguyên thể của Gió. Việt ngữ có từ đôi trống không. Trống theo duy âm (trống của âm) có một khuôn mặt biểu tượng không gian (khí gió). Tiếng trống thu không.

Tương tự như trên, trong các mấu chốt căn cước đặc thù ngoài các vật để dưới gầm đài tam thế như vừa mới nói ở trên, còn có các mấu chốt khác như tay chèo chẳng hạn.

Người này tay cầm tay chèo có đầu chim hình đầu mác tam giác chỉ thiên hình búa, bổ có bờm gió clip_image024 . Trong có các dấu nọc chấm đặc nhấn mạnh tính dương. Đây là đầu chim bổ nông, chim biểu của khí gió.

Đây là cây chèo đầu chim bổ nông khí gió. Con thuyền này của tộc Gió ứng với tượng thiếu âm Gió dương.

Lưu Ý.

Trên trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn từ nọc tam giác diễn tả nghĩa vũ trụ tạo sinh hoặc vẫn giữ nguyên dạng tam giác chỉ để ở các vị trí khác nhau như thấy qua tam giác nằm ngang biểu tượng cho đất bằng ở trên hay thêm các chi tiết phụ vào cho biết tính nòng nọc (âm dương) của tam giác như thêm bờm gió ở thuyền số 5 này. Về sau này các chi tiết có khi dùng các gạch ngang trong tam giác như thấy trong các biểu tượng của phái Luyện Kim Đan, ví dụ tam giác thuận có gạch ngang diễn tả gió, tam giác nghịch có gạch ngang là đất:

clip_image026

.Từ tam giác lõm mang âm tính thiếu âm Gió ngành nọc dương thái dương.

Như đã nói ở trên, ở các vành ngoài biên trống nếu nhìn theo duy dương tức nhìn theo tam giác nổi và nhìn theo duy âm là nhìn theo tam giác chìm.

Nếu coi vành đầu mác tam giác nổi ở ngoài cùng hướng thiêng mang hình ảnh núi tháp biểu tượng cho Đất dương Li thì phần tam giác lõm có nghĩa là Đoài vũ trụ khí gió để có dạng lưỡng hợp thiếu dương-thiếu âm ngành nọc dương thái dương.

Hình tam giác lõm âm này có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng thiếu âm Gió dương.

.Túi âm thanh tam giác.

Trên trống Miếu Môn I, dưới mõm những “con thú lạ” và dưới mỏ những con cò bay có từ nọc hình chữ V hay tam giác. Các nhà nghiên cứu trống đồng hiện nay cho đây là ‘mồi’, những con thú và chim đang “tha mồi”.

clip_image027clip_image029Hình thú chim có hình ngữ tam giác dưới mõm và mỏ trên trống đồng Miếu Môn I.

Ta cũng đã biết chữ V là nguyên thể của tam giác ngược và chữ nọc mũi mác clip_image031 là nguyên thể của tam giác thuận. Tất cả có nghĩa như nhau chỉ khác tính nòng nọc (âm dương) sinh tạo ở các tầng sinh tạo khác nhau trong vũ trụ tạo sinh. Ở đây nếu tính cả cạnh dưới mỏ cò, mõm thú ta có “cái mồi” của các tác giả hiện nay có hình tam giác, vì thế ta nhìn dưới diện tam giác.

Mồi tam giác này chính là cái bao, cái bọc, cái nang hình nòng O dương hóa cấp ba (vì có ba cạnh) biểu tượng không gian, khí gió ở dưới dạng dương hóa, siêu thái dương. Túi gió dương chuyển động phát ra âm thanh. Đây chính là hình ngữ túi âm thanh. Về ngôn ngữ học, chữ L là dạng dương của N (Tiếng Việt Huyền Diệu). Lang là dạng dương của Nang. Nang có một nghĩa là túi. Vậy lang là nang dương, túi dương, túi chuyển động phát ra âm thanh. Con thú lạ có túi âm thanh dưới cổ là con thú có đặc tính biết hú hay tru tức thuộc về loài lang, sói, chó. Con Lang có túi âm thanh dưới cổ nên mới tru mới hú được. Đây là lý do có một giải thích về nhóm từ ‘lang bạt ký hồ’ dựa theo cái túi âm thanh này. Theo Từ Điển Hán Việt của Đào Duy Anh: ‘lang bạt kỳ hồ: con lang đạp cái bọc da ở trước cổ nó, lung túng không đi được. Người mình lại thường dùng mấy chữ ấy theo nghĩa trái hẳn là: đi nơi này nơi khác, không định chỗ nào’. Dù gì thì theo giải thích này cũng xác thực là con lang có túi ở cổ. Túi này là túi âm thanh tạo ra tiếng tru, tiếng hú vì vậy mà con lang là thú biểu của khí, gió giống như chim tu hú. Còn tại sao lại hiểu là đi đây đi đó? Có nhiều người giải thích theo nhiều cách. Ở đây xin thưa hiểu theo đi đây đi đó, không định chỗ nào là hiểu theo nghĩa  của từ lang là nang gió, túi gió. Ta có từ đôi lang bạt với lang là nang gió, túi gió. Theo qui luật về từ đôi đồng nghĩa của Nguyễn Xuân Quang (Tiếng Việt Huyền Diệu) ta có lang = bạt. Bạt có nghĩa là gió thấy qua từ đôi bạt gió (bạt = gió) như cánh chim bạt gió. Bạt với nghĩa gió có gốc Phạn ngữ vâta, gió, vát, to fan (quạt). Quạt tạo ra gió. Theo qu = v như quấn = vấn, ta có quạt = vát, vâta. Ở Thanh Oai có một làng nghề làm quạt giấy tên là làng Vác. Tên Vác này ruột thịt với Phạn ngữ vâta, gió và Phạn ngữ vát, quạt. Lang bạt kỳ hồ hiểu theo túi âm thanh ở cổ con lang tạo ra tiếng tru, hú, thú biểu của gió là hiểu theo bạt gió, tung bay khắp bốn phương trời như gió. Ta cũng thấy rõ tính lang bạt kỳ hồ này qua từ đôi phiêu bạt. Ta có phiêu = bạt. Phiêu là gió cuốn, gió thổi, trôi nổi, lên đênh như phiêu bồng, phiêu dao, phiêu đãng…

Tôi gọi con thú có bọc âm thanh tam giác này là linh thú lang sói. Nó có cốt là con chó sói, con lang, tương đương với từ thiên cẩu ngày nay dùng ở nhiều vùng quê ở Việt Nam. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, ta thấy thiên cẩu sói lang là hình bóng thú biểu thế gian của Hùng Vương với khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa thế gian có mạng khí gió vũ trụ (Đoài vũ trụ) vì một trăm Lang Hùng sinh ra từ một cái BỌC, cái NANG (trứng).

Tương tự, những con cò có túi âm thanh là những con cò có thể “huýt sáo” là những con cò gió, cò lả, cò trắng (mầu trắng là mầu của khí gió trong suốt), cò lang (lang có một nghĩa là trắng, chứng lang da vitiligo là chứng da hóa trắng, mầu lang là mầu sáng, mầu trắng) (xem chương Thế Giới Loài Vật Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á). Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, những con cò Lang (lang có nghĩa là trắng và cũng có một nghĩa nữa là Lang, con trai tức trăm Lang Hùng), cò trắng, Bạch Hạc, Cò Gió là chim biểu của Hùng Vương vì thế Hùng Vương mới đóng đô ở đất Bạch Hạc Cò Trắng, ở Phong Châu tức Châu Gió (xem Chim Lạc hay Cò Lang?).

Kiểm chứng lại ta thấy rất rõ trống Miếu Môn I là trống thuộc nhóm thái dương có mặt trời 14 nọc tia sáng. Số 14 là số Tốn tầng 2 (6, 14), Tốn OII là nòng O âm thái dương II. Trống có một khuôn mặt Đoài/Tốn (Đoài IIO là thái dương của nòng O, tức khí gió dương). Như thế trống có một khuôn mặt biểu tượng cho Hùng Vương có mạng Đoài khí gió vũ trụ con của Âu Cơ có một khuôn mặt Tốn khí gió âm.

Như vậy túi từ tam giác dưới mỏ thú lang và cò lang là túi dương mang tính siêu dương, túi gió chuyển động phát ra âm thanh. Ta có nang dương = túi, bọc dương = Khôn dương, khí, gió = lang (L là dạng dương của N = bạt (lang bạt) = phiêu (phiêu bạt) = gió.

Túi tam giác dưới cổ con thú Lang và cò Lang có một nghĩa gió ăn khớp trăm phần trăm với nghĩa gió của từ nọc tam giác đã nói ở trên.

Kiểm chứng lại một lần nữa để thuyết phục những ai còn nghi ngờ.

Ở trống Ngọc Lũ I có vành 18 con cò bay và 18 con chim đứng là những con chim biểu của Liên Bang Văn Lang.

clip_image033Một số chim trong vành 18 con cò bay và 18 con chim đứng ở trống Ngọc Lũ I.

Trong đó có tộc Gió có cò biểu là cò Gió và chim đứng là chim Gió.

clip_image035Cò bay Gió và chim đứng Gió.

Ta thấy rõ như ban ngày con cò cuối cùng trong nhóm 5 con cò này có bờm phướn gió trong có từ chấm-vòng tròn có một nghĩa là thiếu âm, nguyên thể của Gió (Từ Vòng Tròn-Chấm/Chấm-Vòng Tròn). Bờm cho biết là con cò Gió, cò biểu của tộc Gió. Con chim đứng dưới đất ngay dưới con cò Gió này có túi gió tam giác ở cổ, người chim gợn sóng Gió dạng sin (sinusoid). Hiển nhiên đây là con chim Gió biết huýt sáo, biết hú như chim tu hú, chim biểu của Gió, tộc gió cõi đất.

Không còn gì để nói nữa ‘mồi’ dưới mõm, mỏ thú chim này là túi âm thanh diễn tả bằng hình tam giác.

Tóm lại những con cò, thú hiện nay hiểu lầm là ‘tha mồi’ này, mồi có một khuôn mặt là từ nọc tam giác là những con cò lang, sói lang, thiên cẩu, chim, thú biểu của gió (xin nhắc lại từ thiên, trời có nhiều nghĩa, theo duy âm, thiên là bầu trời, khí gió. Thiên cẩu là con chó trời gió, con lang gió).

Tóm lại từ tam giác có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng khí, Gió.

.Nọc thanh thang hay thanh ngang đường rầy hiện nay thường gọi lầm là răng lược.

Như đã nói ở trên, hình thái nấc thang nếu coi như là một chuỗi gồm từng nhóm ba nọc que hợp lại có một khuôn mặt là nọc âm thái dương, Khôn dương, thiếu âm Khí Gió.

4. Tượng Thái Âm Nước Siêu Nọc Dương.

a. Dạng ba nọc que riêng rẽ.

Như đã nói ở trên trống Quảng Xương là trống Liên Bang Văn Lang Trăm Lang Hùng gồm hai nhánh: Người Chim Cắt ngành nọc mặt trời Lửa ứng với nhánh 50 Lang Lửa, Chim Tiên theo mẹ Âu Cơ lên núi:

clip_image037Người mặt trời Chim Cắt Lửa trên trống Quảng Xương.

và nhánh nọc mặt trời Nước ứng với nhánh 50 Lang Nước Rắn Rồng theo cha Lạc Long Quân xuống biển:

clip_image039Người mặt trời Rắn Nước trên trống Quảng Xương.

Trống có hai nhà nọc, mặt trời:

clip_image014[1]Ngôi nhà nọc, mặt trời nhánh nòng Khôn trên trống Quảng Xương.

Nhà nọc mặt trời của tộc nòng Khôn này của hai chi tộc: phía dương là chi nòng, Khôn dương Gió và phía âm là chi nòng Khôn âm Nước.

Người bên trái phía âm là người chi Khôn âm, Nước có trang phục đầu hình con dải (rắn nước) có thân hình thác nước đổ xuống tới chân và có sừng hai nọc que mang tính thái dương. Đây là con rắn nước thái dương, rắn nước Lửa ứng với Rắn Lạc của Lạc Long Quân. Người này có con mắt chấm-vòng tròn clip_image041 có một nghĩa là mặt trời. Đây là Lang Hùng mặt trời dòng Rắn Lạc Lạc Long Quân.

Điểm muốn nói tới ở đây là trên đầu có từ ba nọc que nghiêng như dòng nước chẩy từ cao xuống clip_image043 diễn tả nước chuyển động khâu siêu dương tương tự như từ Hán Việt xuyên 川, dòng nước từ trong núi chẩy ra, sông lớn.

Đây là từ/dấu ba nọc que xác thực người này là chi tộc nước lửa, nước mang tính chuyển động thái dương nhánh nọc âm thái dương ngành nọc thái dương.

Kiểm chứng lại với người chi tộc gió ở bên phải vừa mới nói ở trên. Người chi Gió này có trang phục đầu là chim bổ nông, chim biểu khí Gió. Tương ứng với phần ba nọc que nghiêng nước dương trên đầu người tộc Nước bên trái, ở người bên phải này là các sọc nhỏ song song clip_image018[1] diễn tả bờm gió.

Tóm lại từ ba nọc que nghiêng ở người chi tộc Nước clip_image043[1] diễn tả nước thái âm chuyển động có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng thái âm nhánh nọc âm thái dương.

b. Dạng tam giác ngược.

Như đã biết tam giác ngược có một nghĩa nước siêu dương clip_image045.

Ở thân trống Bản Thôm có những người cầm vũ khí khác nhau.

clip_image047Người ở thân trống Bản Thôm.

Người ở giữa cầm đòng hình cốc có chân chalice chữ Y có một nghĩa là âm, nước, bộ phận sinh dục nữ…, đầu có từ nọc tam giác ngược. Ở đây ta lấy nghĩa nước. Đòng này giống gậy biểu hoa súng, hoa sen hình chữ Y của các nữ thần Ai Cập cổ:

clip_image048Nữ thần tổ Mut cầm gậy hoa súng hình cốc chalice chữ Y.

Mut thật ra là Mu + T. Mu là Mụ, Mẹ và T chỉ phái nữ tương ứng với thị của Việt Nam. Mut là Mẹ Tổ. Ta thấy rõ cây đòng chữ Y là khí biểu của ngành nòng âm.

Trong đầu đòngclip_image049 hình tam giác ngược có một nghĩa là nước clip_image045[1]có các sọc nước chuyển động nọc que đứng như giọt nước mưa chuyển động rơi từ trời và từ chấm vòng tròn có một nghĩa là mặt trời, thái dương. Cây đòng này là cây đòng nước dương ngành nọc âm thái dương.

.Đây là đòng nước trăm phần trăm.

Kiểm chứng với hai người đứng hai bên. Người bên trái cầm rìu ngang sừng hươu biểu tượng Đất dương. Người bên phải cầm chùy hình móc cong bầu trời diễn ta Gió. Đầu chùy hình túi có tua như bờm gió cũng diễn tả bầu không gian, bầu trời gió. Ba người cầm ba tế khí (ceremonial weapons) diễn tả ba cõi nhỏ: Đất, Nước và Trời Gió của trung thế.

.Vật đựng hình tam giác ngược ở trống Cổ Loa I.

clip_image051Nhóm giã chầy cối bên một ngôi nhà nòng không gian trên trống Cổ Loa I.

Ở nhóm giã chầy cối bên một ngôi nhà nòng không gian trên trống Cổ Loa I có một người đứng trước một vật đựng hình tam giác ngược có chân giống cốc có chân chalice. Hình tam giác ngược cho biết đây là vật đựng chất lỏng, nước.

.Từ tam giác lõm mang âm tính thái âm nước ngành nọc dương thái dương.

Như đã nói ở trên, ở các vành ngoài biên trống nếu nhìn theo duy dương tức nhìn theo tam giác nổi và nhìn theo duy âm là nhìn theo tam giác chìm.

Nếu coi vành đầu mác tam giác nổi ở trong đầu hướng ra ngoài như là tia sáng từ mặt trời chiếu ra có một nghĩa Càn thì phần tam giác lõm có nghĩa là Chấn nước dương để có dạng lưỡng hợp thái dương thái âm ngành nọc dương thái dương.

Hình tam giác giác lõm âm này có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng thái âm Nước dương. Cả vành nhìn theo dạng dương nổi là một chuỗi sóng lửa thái dương và nhìn theo dạng chìm là một chuỗi sóng nước thái dương.

-Trống Hoằng Vinh.

clip_image053Trống Hoằng Vinh (nguồn: Nguyễn Văn Huyên và cộng tác viên).

Ở vùng tứ hành có vành lưỡng hợp chớp lửa Càn hình chữ S gẫy ba ngược ôm chữ S gẫy nước dương, nước mưa, hai giọt nước hai đầu thể điệu hóa thành hai hình tam giác đặc clip_image054 . Đúng ra tất cả phải là ba giọt nước tam giác để có lưỡng hợp thái dương thái âm Càn-Khôn. Ở đây là trống muộn nên đã diễn đạt không theo chính thống.

Dù gì thì cũng cho thấy tam giác đặc diễn tả nước siêu dương.

. Mũi và sừng tam giác ngược rắn nước.

Trở lại đầu thuyền đầu rắn nước trên trống Ngọc Lũ I và họ hàng:

clip_image056Đầu thuyền trên trống Hoàng Hạ.

Rắn đầu thuyền có mũi hình tam giác ngược và sừng là biến dạng tam giác ngược diễn tả nước dương, âm thái dương. Trong sừng rắn hình tam giác ngược biến dạng có chữ/dấu nọc que cong bổ nghĩa và xác thực nghĩa dương, thái dương.

Mũi và sừng dạng tam giác ngược xác thực rắn nước ngành thái dương có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng Nước dương.

-Tam Thế, Cây Vũ Trụ.

Từ nọc ba nọc que diễn tả thái cực, tứ tượng dĩ nhiên cũng có một khuôn mặt biểu tượng cho tam thế, cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) của khâu siêu nọc dương, có thể ở dạng gián tiếp hay hàm ý.

-Trục Thế Giới:

.Dàn Trống Bên Nhà Mọc Mặt Trời ở trống Vienna (Khai Hóa)

Trụ để trống ở trống Vienna mang hình ảnh trục thế giới.

clip_image058Trụ để trống ở trống Vienna hình nọc đầu mác, tam giác.

Trụ hình nọc đầu mác, nếu nhìn cả đáy là hình tam giác (xin nhắc lại nọc mũi mác là dạng nguyên thể của nọc đầu mác tam giác). Nọc đầu mũi mác tam giác có một nghĩa biểu tượng trục thế giới.

-Sinh Tử, Tái Sinh, Vĩnh Cửu.

Hiển nhiên từ nọc ba nọc que mang nghĩa biểu tượng sinh tử, tái sinh, vĩnh cửu trên trống đồng nòng nọc (âm dương). Vành sóng chớp lửa chữ S gẫy nhỏ nét lưỡng hợp với vành nước, mưa chữ S gẫy bụng trương phình mang tính càn khôn, sinh tạo, tạo hóa bao gồm cả sinh tử, tái sinh, vĩnh hằng ở khâu siêu dương.

DẤU BA NỌC QUE

Từ nọc ba nọc que cũng được dùng dưới dạng là một dấu (accent) như một chỉ định từ tố (determinative, indicator) với cùng nghĩa với chữ một nọc que và từ hai nọc que. Từ và dấu nọc ba nọc que nhiều khi dùng lẫn lộn khó phân biệt. Dấu thường thường nhỏ hơn chữ. Nhiều khi có thể đọc được theo cả hai dạng từ và dấu.

Ví dụ:

a. Dấu ba nọc que riêng rẽ.

Trở lại trống Quảng Xương đã nói ở trên. Người chi tộc nước có từ/dấu ba nọc que clip_image059. Ta thấy người này trần truồng, có trang phục đầu rắn nước, có sừng thái dương, có con mắt mặt trời, hiển nhiên là tộc Người Mặt Trời Rắn Nước. Vì thế ba nọc que chỉ giữ chức vụ bổ nghĩa, xác thực nghĩa thái dương, mặt trời của nước chuyển động ở khâu siêu dương, nên có thể nghiêng về một dấu.

Tương tự phần đuôi bờm do ba nọc que to nét mang âm tính ghép lại clip_image016[2] ở trang phục đầu người chi tộc Mặt Trời Gió cũng vậy.

b. Dấu tam giác thuận.

-Cò Đất Trên Trống Phú Xuyên.

Như đã nói ở trên, trống Phú Xuyên có 6 con cò bay.

clip_image061Hình cò bay trên trống Phú Xuyên có bờm tam giác và ở giữa cánh có tên viết bằng dấu hình tam giác.

Cò có bờm hình tam giác, nọc đầu mác (răng cưa, răng sói). Với khuôn mặt Đất dương Li mang tính chủ, từ tam giác này mang nghĩa núi tháp Đất dương Li.

Ở giữa cánh có tên viết bằng dấu hình tam giác (tôi tô đỏ cho dễ thấy). đây tam giác nhỏ nên nghiêng hẳn về dấu hơn là từ và bờm từ tam giác cũng đã cho biết rõ cò là cò Đất dương, cò đá rồi.

Dấu tam giác có nghĩa là lửa thế gian Đất dương Li.

-Tam Giác Đầu Đao Mái Nhà Nọc Mặt Trời.

Như đã nói ở trên, ở phía trong hai đầu đao ngôi nhà nọc, mặt trời trên trống Ngọc Lũ I có ba hình tam giác lồng vào nhau clip_image063  diễn tả lửa thái dương, mặt trời, Càn.

Nếu nhìn dưới diện ba tam giác là ba chữ ta có nghĩa lửa thái dương, Càn. Còn nếu hiểu tam giác nhỏ trong cùng là một dấu thì hai tam giác ngoài diễn tả thái dương, lửa thái dương bậc hai, thế gian.

c. Dấu tam giác nghịch.

Đòng nước.

Như đã nói ở trên ở thân trống Bản Thôm có người cầm đòng nước có mũi đòng tam giác để ở vị trí ngược diễn tả nước khâu siêu dương.

Đòng hình chữ Y hình cốc có chân giống các đòng hoa súng, hoa sen của các thần nữ Ai Cập cổ. Như thế chính đòng đã có nghĩa là đòng âm, nước nên đuôi và mũi đòng tam giác ngược có thể là một dấu dùng bổ nghĩa hay các thực như một chỉ định tố.

Kết Luận

Từ ba nọc que mang trọn vẹn nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh trong Vũ Trụ giáo, dịch học khâu siêu dương ở cõi sinh tạo thế gian năng hoạt.

Từ nọc ba nọc que cũng mang nghĩa gốc là nọc, đực, dương, lửa, mặt trời, thái dương… như từ một nọc que, hai nọc que nhưng có khuôn mặt chính mang tính chủ là lửa vũ trụ, ánh sáng, siêu dương, dương thái dương, thái dương của ngành nọc. Từ ba nọc que mang tính sinh tạo bậc ba ở tầng tám quẻ sinh tạo thế gian.

Như đã biết, trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn là trống biểu của ngành trống (đực), ngành nọc, ngành mặt trời, là trống biểu của Hùng Vương, Vua Mặt Trời, của người Việt Mặt Trời Thái Dương nên từ và dấu ba nọc que vì có tính siêu dương thành thử thấy nhiều hơn so với các từ nòng ba vòng tròn trên trống đồng.

Từ và dấu nọc ba nọc que trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn được viết với một ngữ pháp của chữ nòng nọc vòng tròn-que hết sức tuyệt hảo, hơn bất cứ ở một nền văn hóa nào khác.

(Xem tiếp Từ Vòng Tròn-Chấm/Chấm-Vòng Tròn).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: