ÂU-LẠC VIỆT HẢI ĐẢO DAYAK BORNEO.

ÂU-LẠC VIỆT HẢI ĐẢO DAYAK BORNEO.

Nguyễn Xuân Quang

Lần này chúng tôi trở lại Borneo thăm người Dayak ở vùng Sarawak, một vùng đất tự trị thuộc liên bang Mã Lai Á có một mục đích đi tìm các dấu vết của Bách Việt.

Image result for dayak people distribution mapBản đồ Borneo (nguồn: dayak.id).

Sarawak có biệt danh là Đất Chim Rìu, Chim Việt (Bumi Kenyalang). Chim Việt này thấy trong tín ngưỡng, văn hóa và trong mọi khía cạnh của cuộc sống người Dayak. Ví dụ:

clip_image003Túi vải treo tường có quốc biểu chim Việt của Sarawak (kỷ vật của tác giả).

clip_image005Chim Việt quốc biểu của Sarawak, ngực có chiếc khiên cờ Sarawak.

clip_image007Đĩa thờ chim Việt (kỷ vật của tác giả).

Sarawak được mệnh danh là Đất Chim Việt, một là vì có nhiều loài chim này, hai là vì Chim Việt là vật tổ thiêng liêng tối cao của người Dayak.

Người Dayak Sarawak nói riêng và Dayak Borneo nói chung có chim tổ tối cao là chim Việt ruột thịt với Việt Nam cùng đại tộc Việt ngành Chim Việt, chim biểu của thần mặt trời Viêm Đế Viêm Việt.

Vài Dòng Về Người Lạc Việt Hải Đảo Dayak ở Sarawak.

Sarawak có nhiều sắc tộc bản địa, bài viết này chú trọng chính tới tộc người Dayak và chứng minh người Dayak ruột thịt với người Việt chúng ta. Tác giả Kim Định gọi người Dayak là Bộc Việt. Xin nhắc lại Đại tộc Việt thuộc chủng Người Vũ Trụ, là Người Tiểu Vũ Trụ sinh ra từ quả bầu Đại Vũ Trụ. Chủng Người Vũ Trụ có hai ngành: ngành âm Vũ, không gian là Nòng và ngành dương Trụ, mặt trời là Nọc.

Người Việt (Rìu, vật nhọn, mặt trời) thuộc ngành Nọc. Ngành nọc Việt lại chia ra hai nhánh: nhánh mặt trời nọc dương thái dương là Nọc Việt, dương Việt (yang Yue) và nhánh mặt trời nọc âm thái dương là Nòng Việt, âm Việt (yin Yue).

Con chim Việt ở hình quốc biểu Sarawak ở trên có chiếc sừng hình móc xoắn clip_image009. Nhìn theo nòng nọc (âm dương) lưỡng cực, hình xoắn mang nghĩa sinh tạo. Đây là chim cắt tạo hóa, sinh tạo. Chim biểu tượng cho thần mặt trời tạo hóa ứng với Viêm Đế.

Tôi đã viết nhiều bài cho thấy Việt Nam và Nam Dương ruột thịt với nhau như Tương Đồng Việt-Bali Nam Dương, Nam Dương: Hình Bóng Âu Lạc ở Đảo Lombok, Rìu Việt ở Nam Mỹ, Đa Đảo…. ở trong blog bacsinguyenxuanquang.wordpress.com nên xin không nói dài dòng nhắc lại về sự tương đồng tổng quát nữa. Chỉ xin nhắc lại một vài điểm chính:

Vắn tắt thì tổng quát có rất nhiều tộc thuộc Nam Đảo, Đa Đảo, Hắc Đảo (Melanesia) ở Nam Hải, Đại Dương Châu ruột thịt với Việt Nam. Sự liên hệ này có từ khi con người di cư từ Đông Phi qua Đông Nam Á rồi đi xuống Nam Đảo, sau đó biển dâng cao họ lại di cư lên Đông Nam Á (như nhiều tộc người ‘Thượng’ ở Tây Nguyên có nguồn gốc từ Nam Đảo, Đa Đảo), những biến cố lịch sử như khi Trung Quốc xâm chiếm vùng đất Bách Việt nhiều lần, nhiều đợt ‘thuyền nhân’ (‘boat people’) người Việt đi xuống Nam Hải giống như đợt boat people trong cuộc chiến tranh Việt Nam vừa qua…. Có tác giả cho rằng người Menang Kerbau ở Nam Dương là di duệ của Hai Bà Trưng. Có thì giờ tôi sẽ viết về đề tài này.

Khoảng 40.000 năm trước đã có những người sống bằng bới tìm thực phẩm ở quanh cửa phía tây của các Hang Niah (cách 110 cây số tây nam Miri) ở Sarawak. Có nhà di truyền học cho rằng 40.000 năm là mốc thời gian người tân tiến (modern man) rời Đông Phi di chuyển tới Đông Nam Á. Sọ người tân tiến đã tìm thấy ở gần Hang Niah, là di tích con người cổ đại nhất tìm thấy ở Mã Lai và là sọ con người tiến bộ cổ nhất từ Đông Nam Á.

Về khảo cổ học cũng tìm thấy các sọ người hắc chủng Negrito, Melanesia ở Việt Nam.

Về văn hóa họ có các dấu tích văn hóa Hòa Bình. Về ngôn ngữ học: Mã Lai Nam Dương ngữ có những tương đồng mật thiết với Việt ngữ.

Về di truyền học các tộc Nam Đảo và Đa Đảo có DNA giống Việt Nam.

……

Vài Nét Về Người Dayak Sarawak.

Người Dayak nói chung là những tộc bản địa sống ở nam Borneo. Có giải thích cho là từ Dayak có gốc từ Mã Lai ngữ aja có nghĩa là ‘thổ dân’, “bản địa’ (native) gần như với nghĩa “người rừng sâu’ (‘backwoodman’).

Ngày nay dùng chỉ chung các tộc ở Borneo.

Người Dayak Sarawak chia làm hai nhánh: một nhánh ở vùng thấp cửa sông và duyên hải là Dayaks Biển (Sea Dayaks) Iban và một nhánh ở vùng núi cao và thượng nguồn những dòng sông chính là người Dayaks Đất Liền (Land Dayaks) Bidayuh.

  1. Người Dayak Biển

Số người Dayaks Biển Iban ở Sarawak cao nhất ở Borneo, vào khoảng 745.400 người.

Những người Iban đầu tiên định cư ở Sarawak đến từ Kalimantan, phần đất Borneo ở phía nam Sarawak.

Cả cộng đồng hay cả chi tộc Iban sống chung trong các nhà dài (longhouse). Ngày trước nhà dài cũng là một thứ ‘ấp chiến lược’ để phòng ngự khi còn tục săn đầu người giữa các bộ tộc thù nghịch. Họ vốn là những kẻ săn đầu người lừng danh của đảo Borneo này. Ngày nay tại nhiều nhà dài vẫn còn trưng bầy các chiến lợi phẩm đầu lâu (head trophies) gọi là antu pala (xem dưới).

Xã hội chia ra nhiều đẳng cấp như raja berani (người giầu và dũng cảm), orang mayuh (thường dân) và ulun (tôi tớ, nô lệ). Ngày nay mặc dù theo Thiên Chúa giáo (Iban có số người theo Thiên Chúa giáo nhiều hơn Hồi giáo vì trước đây họ có một vị tiểu vương người da trắng, white Rajah, là người Anh tên là James Brooke, vào năm 1838) nhưng họ vẫn sống theo những thói tục cổ truyền và đức tin với các lễ hội lớn đầy mầu sắc như Gawai Kenyalang (hornbill, or the god of war festival) (Lễ Hội Chim Rìu, Mỏ Cắt, Chim Việt hay Lễ Thần Chiến Tranh), Gawai Antu (Lễ Hội Vong Nhân) và Gawai Dayak (Lễ Gặt Hái)…

Người Ibans nổi tiếng về rượu nếp (sweet rice wine) gọi là tuak, về tục xâm người, chạm đồ gỗ, đan, dệt, kết cườm…

Xâm chổ rất đặc thù là biểu tượng cho sự can đảm, dũng mãnh của các chiến sĩ Iban (xem dưới).

Người Dayak biển ứng với Lạc Việt (xem dưới).

2. Người Dayak Đất Liền Bidayuh.

Nhánh này phần lớn sống ở phía nam Sarawak.

clip_image010Người Dayak Đất Liền (http://anakmit95.blogspot.com/)

Lưu ý người nữ đội nón, một dạng biến thể của nón quan, lính lệ và nón lá phụ nữ Việt Nam hiện nay.

clip_image012Người Dayak đội nón lá như người Việt (nguồn: Hans Scharer, dịch bởi Rodney Needham, Ngaju Religion, The Hague-Martinus Nijhoff, 1963).

clip_image014Dù nón lá tại Bảo Tàng Viện Sabah, vùng nằm phía trên Sarawak.

clip_image016Người Dayak đội nón lá ở trụ cổng Bảo Tàng Viện Sabah (ảnh của tác giả).

Họ sống trên các sườn dốc núi đá vôi, chia ra nhiều chi tộc nói các phương ngữ thông hiểu được nhau. Họ được biết tới nhiều qua các dụng cụ âm nhạc như các trống rất lớn và các bộ gõ bằng tre như pratuakng.

Giống như người Dayak Biển Iban, ngày trước họ sống trong các nhà dài cổ truyền.

Tộc ở thượng nguồn sông gọi là Người Ulu (Orang Ulu) có nghĩa là ‘người thượng nguồn’. Có nhiều chi tộc như Kenyak, Kayan, Lun Bawang, Kelabit Penan, Bsaya và Berawan.

Ngày xưa họ cũng là các tộc săn đầu người.

Họ trang trí nhà dài bằng những tranh tường (murals) và gỗ chạm. Họ nổi tiếng về đóng thuyền, xâm chổ người và kết hạt cườm… Nhạc cụ nổi tiếng là đàn sape của người Kayan và sampe của Kenyak, nhạc cụ tre của Lun Bawang. Tộc Kelabit và Lun Bawang làm ruộng lúa nước, nổi tiếng về gạo thơm…

Người Dayak Đất Liển ứng với Âu Việt (xem dưới).

Vật Tổ Chim Mỏ Cắt, Chim Rìu, Chim Việt của Đại Tộc Việt.

Như đã nói ở trên Sarawak, Đất Chim Việt có vật tổ là chim Rìu, chim Việt như Viêm Việt chúng ta.

Xin nhắc lại sơ qua về chim tổ Việt này.

Chim Cắt có điểm đặc thù là mỏ rất to, nhọn như cây bổ, búa chim, cây rìu. Cắt liên hệ với Anh ngữ ‘cut’ (cắt), Phạn ngữ khad, to divide, to break, ta có khad = khắc (carving) = cắt (t=d), Tiền cổ-Ấn Âu ngữ *kès- ‘cut’ và gốc Ngôn Ngữ của Chúng Ta Nostratic *k’aca. Cắt là chim có mỏ rất lớn như rìu để cắt, chặt. Theo chuyển hóa c=h (cùi = hủi), ta có cắt, cát, các = hac, hache (Pháp ngữ), hacha (Tây Ban Nha ngữ), hack (Anh ngữ) rìu, búa chim… Chim cắt là chim cát, cao cát, chim rìu. Dân dã Việt Nam cũng gọi chim cắt là chim mỏ rìu, chim rìu.

Cũng còn có chú mỏ rìu,

Rõ là tay thợ, khẳng khiu chán chường.

(Vè con chim).

Như thế chim cắt là chim Việt của họ Việt Mặt Trời thái dương. Loài chim Cắt Lớn Great Hornbill được chọn làm chim tổ Việt tối cao, Cao Tổ Viêm Việt. Điểm này ăn khớp với chim Mỏ Cắt Lớn thường sống trên ngọn cây cao như thấy qua bài đồng dao:

Bổ cu bổ cắt,

Tha rác lên cây,

Gió đánh lung lay

Là ông Cao Tổ.

Những người mặt rỗ,

Là bố Tiêu Hà.

Nước chẩy đường xa,

Là dượng Tào Tháo.

Đánh bạc cố áo,

Là anh Trần Bì.

Đây là bài đồng dao chơi chữ có nhắc đến những nhân vật cổ sử Trung Quốc như Hán Cao Tổ, Tiêu Hà, Tào Tháo… Chim cắt thường tha rác làm tổ trên đỉnh ngọn cây. Tổ rất cao nên gọi là cao tổ. Cao Tổ cũng có nghĩa là ông tổ tối cao và Cao Tổ cũng là vua Cao Tổ sáng lập ra nhà Hán. Tiêu Hà là thừa tướng nhà Hán. Tiêu Hà cùng với Trương Lương, Hàn Tín là “tam kiệt nhà Hán” mà tiêu hà cũng có nghĩa là bị sâu hà ăn lỗ chỗ như hạt tiêu (ví dụ khoai lang bị hà ăn lỗ chỗ) trông như người mặt rỗ. Tào Tháo là nhân vật đời Tam Quốc mà tào tháo cũng có nghĩa là “đào tháo” nước cho nước chẩy đi xa. “Nước chẩy” cũng có nghĩa là đi tháo dạ ra nước (tức tiêu chẩy). Nhân vật Táo Tháo bị thua chạy, phải “Tháo chậy” nhiều lần vãi… cả hai thứ ra quần nên mỗi lần bị tháo dạ, tiêu chẩy chúng ta thường nói là bị Tào Tháo đuổi. Còn Trần Bì là giản lược của tên ông Trần Bình (vì thế có nhiều bản chép là Trần Bình), một vị thừa tướng triều Hán thời Hán Sở và Tây Hán. Trần là họ Trần nhưng cũng có nghĩa là trần truồng, không mặc áo, quần. Trần bì có nghĩa là ở trần phơi bì, phơi da ra, trần bì là mặc “áo da”. Đánh bạc cầm cố mất áo nên là anh Trần Bì ở trần phơi da ra là vậy. Qua bài đồng dao này, nếu nhìn dưới lăng kính vũ trụ tạo sinh, ta thấy chim bổ cu, chim cắt có “cao tổ” là Tổ Tối Cao của vũ trụ trời đất của ngành nọc dương Viêm Việt.

Con chim này cũng có hùng tính, rất “macho”, “có phong tục lạ”. Khi con cái ấp trứng nuôi con, chim đực lấy bùn đất bịt kín cửa tổ (thường là một hốc cây), giam con cái vào trong, chỉ chừa một cái lỗ hổng để đưa thức ăn vào nuôi con cái trong thời gian ấp trứng và nuôi cả các con khi còn nhỏ để con mẹ luôn luôn ở bên chăm sóc con.

Chim Cắt, Chim Việt là Chim Tổ của Viêm Việt.

Chim Cắt Lớn, chim Rìu Việt Lớn là chim biểu của thần mặt trời Viêm Đế, có họ Khương (Sừng) của Viêm Việt.

Tôi đã viết rất nhiều về chim tổ này (mà chưa có một học giả Việt Nam nào có gan lên tiếng thừa nhận theo tôi!), chỉ xin đưa ra vài ba chứng tích:

1. Qua Sử Miệng (ca dao, truyền thuyết).

.Bổ Nông là Ông Bồ Cắt.

Ở thượng thế, cõi trời có vật tổ là loài chim. Chúng ta có hai vật tổ chim tối cao là chim Cắt, Việt, chim biểu của thần mặt trời Viêm Đế và chim Nông là chim biểu của thần không gian Thần Nông như đã nói qua bài đồng dao Bổ Nông là Ông Bồ Cắt (Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt).

cat nong

Chim cắt Việt và chim Nông, hai chim tổ cõi trời tạo hóa của Việt Nam (kỷ vật của tác giả).

.Truyền thuyết Mường.

Truyền thuyết Mường cho thấy Mường Việt có chim tổ là chim Tráng, chim Chàng. Chàng có một nghĩa là đục (chisel). Theo một truyền thuyết Mường khác, người Mường có hai con chim Kláng, Klao (tương ứng với truyền thuyết khác là chim Ây, cái Ứa) đẻ ra trứng trăm trứng nghìn, nở ra muôn vật muôn loài, đẻ ra người Đáo (tức người Kinh, người Việt) đẻ ra người Mường… Từ Kláng chuyển sang Việt ngữ là Cláng, Chàng (đục) tức chim mỏ cắt (xem chương Nhận Diện Danh Tính Hùng Vương).

2. Qua Sử Sách.

-Việt Nam

.Chim Hồng

Chúng ta thường nói tới hai từ Lạc Hồng, chúng ta là con Hồng cháu Lạc. Chim Hồng chim Lạc. Chim mỏ cắt có tên “chữ” Hán Việt là chim hồng hoàng. Họ Hồng Bàng là họ chim Mỏ cắt, họ Chim Việt. Hồng Lạc là họ chim Việt Hồng Hoàng, nhánh Âu Cơ và Rắn Nước Lạc, nhánh Lạc Long Quân (xem chương Hồng Bàng trong Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

.Mê Linh

Thủ đô Mê Linh của Hai Bà Trưng là thủ đô chim Cắt Lang, chim cắt biểu Hùng Lang Vương.

Mê Linh là biến âm của Mơ Linh, chim Cắt Langling.

Trong dân ca Ê-Đê Tây Nguyên (Ê-Đê liên hệ với Nam Đảo), có câu hát nói tới một giống chim mơ-linh, mơ-lang:

Anh đến từ nơi xa,

Anh mang theo chim mơ-linh từ nhà,

Chim mơ-lang từ buôn.

Anh nghĩ rằng em là con gái chưa tơ vương….

Mơ-lang, mơ-linh chính là từ lấp láy của langling, chim mỏ cắt langling. Mã Lai ngữ langling: the Southern pied hornbill (chim cắt có lông sặc sỡ, nhiều màu ở miền Nam).

Chim Việt Mê Linh, Mơ Linh, Mơ Lang thấy rõ qua Mã ngữ Kenyalang, chim Việt, chim biểu tượng của Dayak. Kenyalang có Kenyah tên vùng đất và lang. Malay-English Dictionary của R.J. Wilkinson cho biết lang: a generic name for hauks, kites and eagles (tên chủng loại chỉ diều hâu, ó, ưng). Như thế lang chỉ chung loài mãnh cầm, loài chim mang dương tính có mỏ lớn như rìu, búa chim có một khuôn mặt biểu tượng cho mặt trời trong đó có chim cắt, chim rìu, chim Việt. Mã ngữ lang này ruột thịt với Việt ngữ lang là chàng. Chàng vừa có nghĩa là con trai, đàn ông (Dạ cổ hoài lang), vừa có nghĩa là chàng (chisel) là cây đục, vật nhọn. Chim lang hiển nhiên là chim chàng, chim đục, chim cắt, chim rìu, chim Việt. Đúng vậy. Chứng sử Việt cho thấy Hai Bà Trưng dòng dõi Hùng Vương, Vua Mặt Trời, đóng đô ở Mê Linh. Mê Linh biến âm với Mơ Linh, Mơ Lang. Thủ đô Mê Linh của Hai Bà Trưng đặt theo tên chim mơ-linh, chim mỏ cắt, chim Việt, chim Lang, chim biểu của Hùng Vương, Vua Mặt Trời dòng thần mặt trời Viêm Đế có chim biểu là chim Cắt Lớn, chim Đại Việt (Trống Đồng là Trống Biểu Hùng Vương, Vua Mặt Trời).

Như vậy qua tên vật tổ chim cắt Kenyalang, người Dayak là một thứ Lang Việt hải đảo thuộc nhánh Lang Hùng ngành Nòng Việt của đại tộc Việt, Người Mặt Trời.

.Chim Việt Thăng Long.

Về khảo cổ học xin đưa ra một ví dụ tiêu biểu nhất. Trong các vật khai quật được ở thành cổ Thăng Long, Hà Nội có thấy các ngói, gạch trang trí đầu chim mà hiện nay các nhà khảo cổ học Việt Nam gọi là đầu chim phượng, linh điểu của Trung Quốc .

clip_image021Chim Việt Thăng Long (ảnh của tác giả).

Ta thấy rõ như dưới ánh mặt trời Viêm Đế Viêm Việt là con chim này có mũ lửa hình sừng và mỏ rất lớn. Đây phải là chim Việt Mỏ Cắt Lớn. Chim phượng của Trung Quốc thần thoại hóa từ loài chim trĩ không có mũ sừng. Nếu hiểu phượng là lửa thì đây là chim Lửa, chim Phượng Mỏ Cắt Việt.

Tôi đề nghị gọi là Chim Việt Thăng Long, Chim Cắt, Chim Lửa, Chim Rìu Thăng Long.

-Mường Việt.

Người Mường gọi chim cắt, chim mũ sừng là chim Khướng như thấy trong truyện thơ Mường:

Khách phương nào tới

Mà sao tốt tướng oai nghi

Như con chim khướng mấy thuở mấy thì

Bay qua lèn đá dựng,

Đã đứng nên đứng,

Đã ngồi nên ngồi…

(Truyện Út Lót – Hồ Liêu, Hoàng Anh Nhân, Tuyển tập truyện thơ Mường, t.2, tr.99).

Theo qui luật biến âm giữa Việt và Mường, ta có dấu sắc Mường = dấu huyền Việt như mấn = mần (làm) nên khướng = khường và kh Mường = s Việt như khang = sang, không = sông, nên khường = sường = sừng. Con chim khướng là con chim sừng (đầu có mũ sừng) và ta cũng thấy khướng biến âm với Hán Việt khương (có nghĩa là sừng). Chim khướng là chim sừng, chim khương. Viêm Đế có họ là Khương (sừng) như thế chim Sừng Khướng mỏ cắt là chim biểu của mặt trời Viêm Đế họ Khương. Chim cắt cũng được thờ phượng đúc thành tượng vàng thấy trong truyện Út Lót:

Nàng Út Lót nói với hai chị rằng:

“Đồ vàng đúc hình con chim cắt…”.

…..

-Người Ao (Âu) Naga ở Assam.

Đây là tộc người liên hệ mật thiết với Lạc Việt, một thứ Âu Lạc Việt. Chứng tích chim bồ cắt là một vật tổ còn thấy ở nhiều tộc tại đây ví dụ tộc Ozukumtzur (bird-became-woman) do vật tổ chim cắt sinh ra có taboo kiêng kỵ không ăn thịt chim cắt (William Carson Smith, The Ao Naga Tribes of Assam, tr.111).

Chứng tích thờ chim cắt thấy đi kèm với rắn nước, rồng đất cắc kè, kì nhông, kỳ đà, thằn lằn còn thấy nhiều ở người Ao Naga ở Assam. Trong nghệ thuật khắc gỗ, hiển nhiên là khắc tạc hình tượng thờ, hình vật tổ, cũng thấy có hình rìu mỏ cắt.

clip_image023

-Tộc Jingo, Vân Nam

Vân Nam, nam Trung Quốc, địa bàn cũ Bách Việt , tộc Jingo có trang phục đầu chim cắt, chim Việt.

hornbill 2

Tộc Jingo, nam Trung Quốc  có trang phục đầu chim cắt, chim Việt, Bảo Tàng Dân Tộc Thiểu Số Vân Nam (ảnh của tác giả).

3. Qua Sử Đồng.

Hình bóng chim rìu, chim Việt thấy rất nhiều trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn. Xin đưa ra một ví dụ tiêu biểu.

Trên mặt trống đồng Duy Tiên, mặt tuy bị vỡ nhưng còn thấy rõ hình ba con mỏ cắt lớn Great hornbill, đầu có mũ sừng.

clip_image025Chim Mỏ Cắt Lớn trên trống Duy Tiên.

Và còn nhiều nữa…

Chim Tổ Việt của Việt Hải Đảo Dayak.

Người Dayak Sarawak cũng chọn giống chim Cắt Sừng Lớn (Great Hornbill, Buceros rhinoceros) là loài chim rìu lớn nhất làm vật tổ chim và chim biểu quốc gia. Họ coi chim tổ này là hồn thiêng thượng đế, tạo hóa, tổ tiên. Đây chính là ý nghĩa của chim Cắt là chim Tổ Mặt Trời có một khuôn mặt là đấng thượng đế, đấng tạo hóa, đấng sinh tạo, tổ tiên của tộc người mặt trời. Họ thuộc tộc Đại Việt Mặt Trời Chim Việt Viêm Đế. Họ cũng coi chim Cắt là thần chiến tranh. Điều này cũng dễ hiểu thôi, mặt trời mang hùng tính dĩ nhiên là thần chiến tranh (xem dưới).

Họ tin rằng nếu chim mỏ cắt bay qua nhà thì chúng mang lại may mắn cho cộng đồng địa phương.

clip_image026

clip_image028Chim Cắt Lớn (Great Hornbill, Buceros bicornis), chim tổ của người Dayak và là quốc biểu của Sarawak chụp ở lobby khu An Dưỡng Hilton Batang Ai, Kuching, Sarawak (ảnh của tác giả).

clip_image030(ảnh của tác giả).

Một tù trưởng Dayak đội  trang phục đầu vật tổ chim cắt (nguồn: wikipedia) .

Ta cũng thấy chim rìu, chim Việt tingang, kenyalang, chim tổ tối cao của người Dayak đi cặp với Rắn Nước (Watersnake) trong cặp lưỡng hợp Chim-Rắn ứng với Chim-Rắn, Tiên Rồng của Việt Nam (xem dưới).

Những Điểm Tương Đồng Khác Giữa Người Dayak với Người Việt.

Ngoài vật tổ chim Việt , chim Hồng-Rắn Lạc họ còncó những điểm tương đồng khác. Ở đây xin giới hạn nói tới nhiều các điểm tương đồng thấy qua hình bóng chim tổ Việt.

Ta thấy ngay họ giống chúng ta qua:

-Như vừa nói ở trên, họ theo thần giáo, vũ trụ giáo dựa trên nguyên lý lưỡng hợp nòng nọc (âm dương) Chim-Rắn, Tiên Rồng (sẽ nói rõ ở dưới).

-Họ cũng chia ra hai nhánh như chúng ta: người Dayak Đất Liền Bidayuh ở vùng núi cao thuộc nhánh lửa, Chim Việt, Chim Hồng (hoàng) ứng với nhánh Âu Cơ như các tộc Mường. Người Mường thờ chính yếu mẹ tổ Ngu Cơ (Âu Cơ) có vật biểu là con nai sao hơn là cha tổ Lạc Long Quân cá chép. Nhánh này ứng với Âu Việt. Các tộc Dayak Biển Iban ở vùng đất thấp, cửa sông duyên hải thuộc nhánh nước, rắn, rồng, Rắn Lạc ứng với Lạc Long Quân. Nhánh này ứng với Lạc Việt.

-Xã hội phân chia đẳng cấp giống như Mường Việt có Lang, Cun, thường dân và tôi tớ.

-Có những ngôi nhà dài giống như các nhà lang của Mường, nhà làng. Nhà Dài cũng trang trí chim Việt.

-Xâm mình

Như đã nói ở trên, xâm chổ rất đặc thù. Ngày nay hiểu theo nghĩa duy tục là biểu tượng cho sự can đảm, dũng mãnh của các chiến sĩ, là biểu hiệu dòng tộc, là bùa hộ mệnh, xua đuổi tà ma, là biểu hiện thành thân, thành nhân, là cầu xin sống sung túc, hạnh phúc. Thật ra nguyên thủy xâm mình có một khuôn mặt biểu trưng cho thần linh (thiện cũng như ác), thánh thần, tổ tiên và Chu Kỳ Cuộc Sống (Circle of Life).

Vì thế các hình thái xâm mình thường có hình vật tổ chim Việt, Rắn Nước, Chó Trời Aso.

clip_image032Hình xâm chim cắt tingang trên cánh tay một người nữ Dayak (http://www.larskrutak.com/).

clip_image034

Xâm hình rắn nước, rồng (etsy.com).

clip_image035

Một người Dayak ở Kayahan xâm mình (Dayak, ca. 1896. Credit: Dr. A.W. Nieuwenhuis, Quer Durch Borneo, vol. 1, plate 81).

Người Dayak xâm mình có hình vẩy rắn, vẩy cá hay da cá sấu giống người Văn Lang xâm mình rắn, rồng để xua đuổi thuồng luồng. Thời Văn Lang xâm mình hình rắn thần, cá sấu theo lệnh Hùng Vương cũng có thể phải hiểu theo nghĩa chính thống là xâm vật tổ, thần tổ, tổ tiên, xâm biểu hiệu dòng tộc…, hơn là hiểu theo ý nghĩa chính là những hình dùng để đe dọa, xua đuổi thủy quái như hiện nay vẫn hiểu. Hiểu như một thứ bùa hộ mệnh như thế chỉ là hiểu theo ý nghĩa duy tục.

Người đàn ông quấn khăn đen trông giống khăn đóng Việt Nam. Khăn đen hình dải dây biểu tượng cho con dải (rắn) nước. Mầu đen là mầu thái âm nước. Dải khăn đen biểu tượng rắn nước dòng Lạc Việt Lạc Long Quân. Quấn dải khăn rắn nước của Dayak xác thực khăn đóng của phái nam người Việt vốn là một dải khăn đen biểu tượng cho con dải nước dòng Lạc Long Quân, sau này để tiện lợi đóng lại thành khăn đóng. Người đàn ông này trông giống trăm phần trăm một người Việt Nam.

clip_image036

Chân xâm hình vật tổ chim Việt (uk.pinterest.com).

Hình chim Việt ở đây có mỏ và sừng giống Chim Việt Thăng Long như đã nói ở trên.

-Tế tục săn đầu người (headhunting rituals).

Người Dayak có thói tục săn đầu người lừng danh (xem dưới).

…..

Vũ Trụ Giáo

Điểm tương đồng quan trọng nhất là người Dayak theo vũ trụ giáo thấy rõ qua vật tổ chim Việt dùng làm quốc biểu ngày nay. Vì vậy xin nói rõ thêm về vũ trụ giáo của người Dayak và so sánh với vũ trụ giáo Việt Nam.

Người Dayak như chúng ta khởi đầu theo thần giáo, bái giáo (animism), thờ đấng tạo hóa, thần linh, tổ tiên và thần thiên nhiên vũ trụ. Sau đó chuyển thành vũ trụ giáo có cốt lõi văn hóa theo lưỡng hợp nòng nọc (âm dương) Chim Rắn (Tiên Rồng) có hai vật tổ chính là Chim Cắt-Rắn Nước. Họ nhận mình là con cháu của một cặp nguyên thủy nòng nọc (âm dương) chim/rắn, sinh ra vũ trụ và con người trong đó có người Dayak. Nguyên lý lưỡng hợp chim rắn thấy trong tín ngưỡng, văn hóa, nghệ thuật, trong muôn mặt của đời sống.

Các vật tổ tối cao (supreme deities) chia ra làm hai: tổ cõi dương hay cõi trên và tổ cõi âm hay âm thế.

Tổ cõi dương nguyên thủy là Chim Cắt (hornbill) có tên là Tingang (Basa sangiang: Bungai). Khi tiếp cận với Ấn giáo có tên ngoại quốc là Mahatara hay Bahatara Guru (tên này có nghĩa là Chúa Tể, Great Lord nhưng trong Ấn giáo cũng dùng chỉ thần Shiva). Mahatara sống trên núi nguyên khởi (primeval mountain).

Tổ cõi âm nguyên thủy là Rắn Nước có tên là Tambon (tên Hindu-Java là Naga) là một loại Rắn Nước huyền thoại (mythical Watersnake). Khi bị ảnh hưởng của Ấn giáo, trong đời sống thường nhật gọi là Jata, dạng giản lược của tên Bawin Jata Balawang Bulau. Jata phát gốc từ Phạn ngữ deva và devata. Jata là từ chỉ chung thần hồn, âm hồn ở cõi âm, hạ thế. Jata có vật chủ là cá sấu (bujai) và cá sấu biến hóa thành dạng người ở cõi âm.

Hai vật tổ Chim-Rắn này có giống phái khác nhau. Chim Cắt tingang biểu tượng cho dương vật (Ting- biến âm với đinh, vật nhọn).

clip-image010-thumb11

Chim cắt để thờ trong các am âm hồn. Mỏ biểu tượng cho Nọc, mặt trời,  dương vật. Thân chim có hình mặt trăng biểu tượng cho Nòng, lỗ âm hộ. Chim mang khuôn mặt lưỡng hợp nõ nường, nòng nọc (âm dương) (Maprik, Papua, New Ginea).

Rắn Nước Jata Balawang Bulau có nghĩa là ‘the feminine Jata with the golden door’ (‘Jata cái với cửa vàng’). Diễn tả ‘cửa vàng’ là một uyển khúc ngữ pháp (cho thanh nhã, tránh thô tục) ám chỉ âm hộ phái nữ’ (The expression ‘golden door’ is an euphemism for the female pudenda’). Miệng Rắn Nước biểu tượng cho âm đạo.

Như thế nhìn dưới diện vũ trụ giáo, cặp chim cắt-rắn nước này biểu tượng nõ nường, nòng nọc (dương âm). Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, nhìn dưới dạng lưỡng cực, ở cõi tạo hóa ngành dương là chim Cắt, chim Rìu, Chim Việt, chim Sừng (Hornbill), chim Hồng, chim biểu tượng của thần mặt trời Viêm Đế và Rắn Nước, Rắn Lạc, rắn biểu của thần không gian Thần Nông.

Như trên đã nói, người Dayak chia làm hai nhánh: người Dayak Đất Liền Bidayuh ở vùng đất cao, miền núi ứng với vật tổ chim cắt và người Dayak Biển Iban ứng với rắn-nước. Điểm này giống chúng ta có hai nhánh người đất liền vùng cao là nhánh Chim, lửa, chim Hồng (hoàng) Âu Cơ và các tộc vùng đất thấp, ven sông biển là nhánh Rắn-Nước, Rắn Lạc Lạc Long Quân. Bằng chứng hùng hồn, vững chắc nhất là còn ghi khắc lại trong sử đồng. Trên trống Quảng Xương còn ghi khắc lại hai nhánh Chim-Rắn, Hồng Lạc, Tiên Rồng này.

-Nhánh Chim Cắt Tiên ứng với nhánh 50 Lang theo Mẹ Âu Cơ.

clip_image037Đại tộc người chim cắt lửa thái dương có trang phục đầu có mũ sừng và mỏ rìu thái dương.

Đại tộc Lửa thái dương Càn này có trang phục đầu có hình đầu chim cắt lớn (Great hornbill) có sừng cường điệu và có mỏ rìu gồm hai nọc que mang tính thái dương. Chiếm cả khuôn mặt là con mắt dương chấm-vòng trònclip_image039 có một nghĩa là mặt trời. Mắt cũng là biểu tượng của mặt trời (trời có mắt). Mặt tròn hình nòng O diễn tả không gian. Khuôn mặt diễn tả mặt trời-không gian càn-khôn cho biết người chim này thuộc đại lửa thái dương Càn sinh tạo. Mặc váy xòe hình hai cánh chim.

-Nhánh Rắn Nước Sừng ứng với nhánh 50 Lang theo Cha Lạc Long Quân.

clip_image040Đại tộc người trần truồng Nước, Rắn, Mặt Trời-Nước.

Nhánh Rắn Nước này ở trần truồng cho biết thuộc tộc nòng âm, nước mang tính chủ (ở trần xuống nước không bị ướt quần áo giống như Chử Đồng Tử, Chàng Trai Sống Bên Bờ Nước ở trần truồng). Đại tộc này là đại tộc Nước thái âm mang tính thái dương ứng với Chấn IOO. Đại tộc này có trang phục đầu có phần trên là hình đầu rắn có sừng hay mồng mang tính thái dương. Phần sau trang phục đầu có dải dài buông xuống tận mặt đất, hình dòng nước chẩy giữa hai viền bờ tô đậm. Dải nước này trông như dải dây biểu tượng cho rắn nước mà tiếng cổ Việt gọi là con dải. Cả trang phục đầu diễn tả hình rắn nước nọc (có sừng) thái dương. Rắn có mồng, có sừng tức rắn nước Việt, Rắn Lạc. Rắn sừng hình dải sau này thần thoại hóa thành thuồng luồng, rồng Việt. Con mắt cũng là hình mặt trời cho thấy người rắn cũng là Người Mặt Trời thuộc ngành mặt trời thái dương và rắn là rắn nọc âm thái dương (xem Một Chương Sử Đồng: Trống Quảng Xương).

Bây giờ ta hãy lướt qua hình bóng vật tổ chim Cắt Dayak so sánh với chim Cắt Việt qua qui trình vũ trụ tạo sinh:

Thái cực

Thoạt đầu Chim Cắt Rắn Nước được thờ phượng như một đấng tạo hóa, một thần sinh tạo vũ trụ nhất thể ứng với thái cực như thấy qua quan tài chim cắt-rắn nước nhất thể:

clip_image002[3]

Quan tài chim Cắt-Rắn Nước nhất thể

(nguồn: Hans Scharer, dịch bởi Rodney Needham, Ngaju Religion, The Hague-Martinus Nijhoff, 1963).

Đối chiếu với sử đồng Việt:

Thuyền trên trống sông Đà, đầu thuyền khắc đầu rắn nước và đuôi thuyền đầu chim mỏ rìu.

clip_image044Đuôi thuyển đầu chim rìu Việt lưỡng hợp với mũi thuyền đầu rắn nước.

Đầu mũi thuyền trên trống đồng Hoàng Hạ hình chim mỏ rìu thấy giống chiếc rìu trăm phần trăm biểu tượng bộ phận sinh dục nam cắm vào miệng rắn nước biểu tượng bộ phận sinh dục nữ.

clip_image046Chim Rìu Lửa trong miệng Rắn Nước ở đầu thuyền trên trống Hoàng Hạ ở dạng nhất thể đích thực.

Mũi thuyền ở dạng lưỡng hợp nhất thể đích thực chim lửa mỏ cắt với rắn nước, Chim-Rắn, Tiên Rồng

…..

Lưỡng nghi.

Chim Rìu Rắn Nước được thờ riêng rẽ ở hai ngành lửa nước, nòng nọc (âm dương) ứng với lưỡng cực nòng nọc đề huề, Chim Rắn ngang nhau như thấy qua:

1. Cực dương Chim Cắt Tingang.

-Rìu Chim Cắt.

Chim Cắt Lớn là chim biểu tượng của thần mặt trời Viêm Đế. Chim Cắt tingang biểu có một khuôn mặt biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam hiển nhiên biểu tượng cho mặt trời, cực dương. Vì thế các dao, rìu Mã Lai, Nam Dương thường có hình chim cắt.

clip_image048Rìu Mã Lai có đầu chim cắt tại Bảo Tàng Viện Nghệ Thuật Á Châu San Francisco (ảnh của tác giả).

Đối chiếu với sử đồng Đông Sơn , Điển Việt có Rìu Việt chim Việt:

yue-ax-2

Rìu Việt chim Việt của Điền Việt (Bảo Tàng Viện  Côn Minh) (ảnh của tác giả).

-Thuyền vong Chim Cắt hay thuyền Châu Báu.

clip_image050Thuyền vong chim Cắt hay thuyền Châu Báu (Jewel-boat) (nguồn: Hans Scharer đã dẫn).

Đối chiếu với sử đồng Đông Sơn, thuyền vong chim-rắn lưỡng cực của Dayak tương đương với hai con thuyền dẫn đầu 6 con thuyền phán xét linh hồn trên trống Ngọc Lũ I và họ hàng. Bốn con thuyền còn lại của bốn chi tộc ứng với tứ tượng.

-Quan tài Chim Cắt.

Người Dayak có hai loại quan tài Chim Cắt và Rắn Nước. Quan tài chim cắt dùng chôn người chết phái nữ.

clip_image052Quan tài Chim Cắt (nguồn: Hans Scharer đã dẫn).

-Nhà.

Nhà chim cắt biểu tượng dương, cực dương, cõi dương.

clip_image054Nhà cõi dương.

Nhà chim cắt cõi dương có mái nhọn đỉnh biểu tượng cho dương, có đầu mái hình chim cắt tingang, đầu cây dù trên nóc có hình đầu dương vật, hai lá cờ tam giác có một nghĩa thái dương (Từ Nọc Tam Giác), hai con gà là loài chim biểu tượng mặt trời (xem Dậu Là Diều), trong nhà treo dao găm biểu tượng cho nọc, dương, vùng đất phía bên phải dương có con bò hay trâu, thú có sừng mang dương tính…

Nhà nọc cõi dương có một khuôn mặt biểu tượng cực dương.

Nhà nọc chim cắt tương đương với nhà nọc mặt trời thái dương trên nóc có một con chim trĩ lửa thái dương trên trống Ngọc Lũ I và họ hàng (Ý Nghĩa Nhà Trên Trống Đồng Đông Sơn).

Người nhẩy múa hóa trang thành Người-chim cắt-mặt trời trên trống Ngọc Lũ I có trang phục đầu hình đầu chim cắt lớn.

clip_image056Người chim cắt-mặt trời trên trống Ngọc Lũ I.

Trang phục đầu có phần trước hình trụ nọc cao diễn tả sừng chim cắt lớn cách điệu, cánh tam giác và đuôi nhọn. Trang phục đầu là hình chim cắt lớn cách điệu hóa.

2. Cực âm Rắn Nước Tambon hay Thuyền Vàng.

clip_image058Thuyền Rắn Nước hay thuyền Vàng diễn tả cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) (nguồn: Hans Scharer đã dẫn).

-Quan tài Rắn Nước.

Quan tài Rắn Nước dùng chôn người chết phái nam.

clip_image059Quan tài Chim Cắt-Rắn Nước (nguồn: Hans Scharer đã dẫn).

Quan tài chim cắt dùng chôn phái nữ và quan tài rắn nước chôn phái nam. Chim dương lại dùng cho phái nữ, rắn nước âm lại dùng cho phái nam, như thế có nghịch lý không? Xin thưa không. Điểm này cho thấy họ ruột thịt với chúng ta. Phái nữ thuộc dòng chim lửa như 50 lang Hùng thuộc nhánh lửa, dòng chim Việt theo mẹ Âu Cơ lên núi và phái nam thuộc dòng rắn nước như 40 lang Hùng thuộc nhánh nước rắn nước theo cha Lạc Long Quân xuống biển. Phái nữ được chôn trong quan tài chim cắt để hồn trở về với Mẹ Tổ Âu Cơ. Phái nam được chôn trong quan tài rắn nước để hồn được trở về với Cha Tổ Lạc Long Quân.

-Nhà Rắn Nước.

clip_image061Nhà cõi âm (nguồn: Hans Scharer đã dẫn).

Nhà Rắn Nước có mái vòm bầu trời, vòm không gian biểu tượng cho âm giống nhà nòng không gian trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn. Đầu mái hình đầu Rắn Nước, có cờ hình túi âm đạo, trong nhà treo cồng là một thứ trống âm, bên có lưới cá biểu tượng cho âm…

Nhà nòng cõi âm có một khuôn mặt biểu tượng cực âm.

Nhà nòng rắn nước tương đương với nhà nòng không gian thái âm trên trống Ngọc Lũ I và họ hàng.

Tứ tượng.

Quan niệm tứ tượng trong tôn giáo Dayak thấy rõ qua sự kiện là ‘các vị thần cõi Thượng Thế Dayak được chỉ định bởi bốn tên khác nhau, tương phản mãnh liệt với nhau đến nỗi mỗi tên ta có ấn tượng là nói về một vị thần khác nhau’ (The deity of the Upperworld is designated by four different names, which constrast so strongly with each other that with each name one has the impression of dealing with a different god (nguồn: Hans Scharer, đã dẫn). Tác giả này cho là có bốn tên là do tên cũ và tên mới ảnh hưởng Ấn giáo hay Hồi giáo. Nhưng ta thấy câu mấu chốt “ta có ấn tượng là nói về các vị thần khác nhau’ cho thấy đây phải hiểu là bốn vị thần khác nhau.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, ở cõi tạo hóa, sinh tạo thế gian là bốn tổ phụ: Đế Minh Lửa, thái dương , Kì Dương Vương Đất, thiếu dương, Lạc Long Quân, Nước, thái âm, Tổ Hùng thế gian Gió, thiếu âm.

Tứ tượng thấy trong tín ngưỡng và văn hóa Dayak thấy nhan nhản. Xin đưa ra một hai ví dụ điển hình là:

.Trang phục đầu của người Dayak.

Trang phục đầu thường diễn tả vũ trụ tạo sinh trong đó có tứ tượng.

clip_image063Trang phục đầu của tộc Sangiang (nguồn: Hans Scharer đã dẫn).

Vòng tròn trên cùng diễn tả thượng thế (hư vô, thái cực, lưỡng nghi) sinh ra tứ tượng: đầu mác hình thoi. Hình thoi là dạng hình vuông chuyển động biểu tượng cho Gió, thiếu âm (Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que Hình Học); hai cây lao mũi nhọn hai bên diễn tả thái dương tượng Lửa; hai vật hình lá có đầu móc nước sóng cuộn biểu tượng cho Nước, tượng thái âm; hình cung hơi nhọn đầu diễn tả gò núi âm tức đồi non, tượng Đất ngành nọc âm. Trang phục đầu diễn tả vũ trụ tạo sinh với khuôn mặt tứ tượng mang tính chủ.

.Nhà.

Trở lại căn nhà cõi dương chim cắt vừa nói ở trên. Nhà làm theo vũ trụ tạo sinh mang hình ảnh cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống), tam thế hiển nhiên trong có diễn tả tứ tượng.

clip_image064

Thượng Thế cõi dương diễn tả bằng cây dù mang hình ảnh vòm không gian, vòm trời, hình đầu rùa dương vật (qui đầu) vì nhà cõi dương, nhà nọc, mặt trời. Trung thế là nhà sàn. Hai lá cờ biểu tượng tượng Gió, hai con gà biểu tượng tượng Lửa thái dương, các con thú bốn chân biểu tượng tượng Đất. Hình sóng biểu tượng tượng Nước tức tứ tượng. Hạ thế ngầm hiểu là vùng dưới hình sóng nước.

Tam Thế.

Xin đưa ra vài ba ví dụ:

Người Dayak nói riêng cũng như các tộc Đông Nam Á nói chung có tam thế theo vũ trụ giáo.

clip_image066Hình diễn tả vũ trụ học của các tộc Đông Nam gồm tam thế: 1. Đất thế gian 2. Vùng Thượng nguồn (Upstream region) nhà của chim, thường là chim mỏ cắt và các vị thần tổ cõi trời

3. Vùng Hạ nguồn (Downstream region) nhà của rắn, rồng và các vị thần đất. 5. Hạ Thế, cõi âm (nguồn: Robert MCKINLEY, Michigan State University, https://www.haujournal.org/).

Như đã nói ở trên các nhà thiêng liêng, thờ phượng của người Dayak diễn tả tổng thể vũ trụ (cosmic totality) trong đó phân ra tam thế.

clip_image068

Nhà thiêng liêng chia ra làm tam thế. Thượng Thế là tầng trên, chỏm nóc có hình cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống), phần dưới có hai người đánh cồng. Dayak thuộc tộc nòng âm nên đánh cồng (một thứ trống âm) không đánh trống (mang dương tính, trống). Người quay mặt về phía phải, dương có dáng đàn ông, đánh cồng dương diễn tả cực dương và người bên trái, âm có dáng là đàn bà, đánh cồng âm diễn tả cực âm. Ta có lưỡng nghi.

Sàn thượng thế thẳng mang dương tính hình chim cắt tingang. Chim cắt là ranh giới giữa thượng thế và trung thế có hai khuôn mặt ở hai cõi sinh tạo thượng thế và trung thế. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt ứng với Đế Minh vừa có khuôn mặt Đế ở cõi tạo hóa thượng thế vừa có khuôn mặt Vương (Minh Vương ngang vai vế với như Kì Dương Vương, Lạc Long Quân, Hùng Vương) ở cõi sinh tạo thế gian trung thế ứng với tượng thái dương Lửa. Trung thế là tầng giữa có cảnh sinh hoạt lễ lạc, nhẩy múa. Sàn trung thế lõm cong mang âm tính hình rắn nước tambon. Rắn Nước là ranh giới giữa trung thế và hạ thế có hai khuôn mặt ở hai cõi sinh tạo trung thế và hạ thế. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt ứng với Lạc Long Quân vừa có khuôn mặt Quân, vua ở trung thế (ngang vai vế với Minh Vương, Kì Dương Vương, Hùng Vương) ở cõi sinh tạo cõi nước thế gian trung thế ứng với tượng thái âm Nước.vừa có khuôn mặt Chúa cõi âm ty.

Hai bên cạnh nhà có hai con rồng komodo. Tầng dưới cùng phần trên là hạ thế dương gian gồm phần gầm nhà có cảnh làm lúa gọc và gia súc. Dưới là hạ thế âm gian là cõi nước dương có hình thuyển và dưới nước là cõi âm ty.

Nhà trên trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn cũng diễn tả trọn vẹn thuyết vũ trụ tạo sinh và cũng chia ra tam thế:

clip_image070Một ngôi nhà nọc, mặt trời trên trống Ngọc Lũ I.

Phần trên nóc nhà có hai chim trĩ là thượng thế. Phần trong nhà có cảnh người cung nghinh, tế lễ mặt trời là trung thế. Phần dưới sàn trung thế là hạ thế. (xem Ý Nghĩa Hình Nhà Trên Trống Đồng).

Ba Tiểu Thế Qua Vật Tổ.

Mỗi thế lại chia ra làm ba tiểu thế. Trung thế chia ra ba tiểu thế thấy rõ qua vật tổ: cõi trời là chim mỏ cắt Việt như đã biết. Cõi nước là rắn nước Lạc như đã biết. Cõi đất là loài thú bốn chân sống trên mặt đất. Người Dayak thuộc ngành Nòng Việt nên thờ chó trời Aso.

clip_image072Đầu mái nhà hình chó thần thoại Aso.

clip_image074

Ta thấy ngành Nọc Việt, Viêm Việt mang dương tính thờ vật tổ đất thế gian là con thú bốn chân hươu sủa, mang gạc, loài có sừng mang tính dương của dương, thái dương. Hươu sừng mang gạc thú biểu của Kì Dương Vương, Lộc Tục (Hươu Đực) trong khi Dayak thuộc nòng Việt mang âm tính thờ vật tổ đất thế gian là con thú bốn chân chó Aso. Chó đây là chó thần thoại. Chó là di duệ của sói lang có đặc tính là biết tru, biết hú nên dùng làm biểu tượng cho Gió. Gió là dương I của phía âm O tức thiếu âm IO. Dayak Nòng Việt âm nên thờ Aso mang tính thái dương của âm tức Gió dương.

Chúng ta cũng vật tổ Chó Trời Thiên Cẩu Sói Lang ở ngành nọc âm thái dương. Lang Trời là thú biểu của Hùng Lang Vương có một khuôn mặt thần Bầu Trời, Gió Dương (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Lang trời thấy trên trống Miếu Môn I (xem trống này).

.Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống).

Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) là biểu tượng chính thấy trong mọi lãnh vực của đời sống người Dayak. Xin đưa ra vài ba ví dụ bằng hình:

1. Trụ Lễ Tang Ma.

clip_image075Trụ sanggaran dựng trong lễ tang ma Tiwah (Tiwah mortuary feast) diễn tả nhất thể của chim Cắt và Rắn nước (unity of Horbill and Watersnake) (nguồn: Hans Scharer đã dẫn).

Trụ này thật sự là cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống). Lưỡng hợp Chim Cắt Lửa và Rắn Nước là lưỡng hợp nòng nọc (âm dương) sinh ra vũ trụ, thế giới, muôn sinh, muôn vật chia ra tam thế:

a.Thượng thế.

Thượng thế là phần phía trên có sọ người và giới hạn dưới là Chim Cắt, nghĩa là thượng thế được biểu tượng bằng chiếc sọ người và Chim Cắt. Tại sao sọ người lại dùng làm biểu tượng cho thượng thế? Như đã biết cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) sinh ra con người nguyên khởi (Mẹ Đời, Cha Đời) nên con người giống hình cây. Đầu người ứng với vòm cây là thượng thế. Hai tay dang ngang ứng với cành cây là cõi đất bằng trung thế. Chân ứng với gốc rễ cây là hạ thế. Thân người ứng với thân cây là trục thế giới. Ở đây ta thấy rõ sọ người biểu tượng cho thượng thế như trong thần thoại Norse, sọ của người khổng lồ Ymir trở thành vòm thiên đường (thượng thế) sau khi Ymir chết. Thượng Thế là nơi cư ngụ của đấng tạo hóa, các vị thần sinh tạo, tổ tiên. Đầu sọ vì thế liên kết với sinh tạo, tái sinh, linh hồn (đầu được cho là chỗ ở của linh hồn), đời sống sau khi chết. Do đó sọ được thờ phượng trong nhiều đức tin (belief), bái giáo, tôn giáo như trong thời Tiền-Columbus ở châu Mỹ, sọ được người Aztec, Maya thờ phượng. Sọ là một ảnh tượng (iconography) trong Ấn giáo và Phật giáo, nhất là phái Mật Tông Tây Tạng. Trong các biểu trưng (emblem) Thiên Chúa giáo, sọ liên kết với ăn năn, sám hối (penitence) và hiếu đạo (pious) của sự tạm dung đời sống, cuộc đời.

Đây là lý do tại sao có tục săn đầu người (head-hunting). Người Dayak săn đầu người (ngayau) cũng như các tộc khác săn đầu người mục đích chính để dâng cúng đấng tạo hóa, thần sinh tạo, tổ tiên và lấy hồn kẻ thù.

Image result for dayak headhunting

Sọ kẻ thù chạm khắc chim tổ  Cắt tingang và Rắn Nước Tambon (nguồn: tribalartasia.com).

Ngày nay hiểu theo nghĩa duy tục, suy diễn nông cạn là chứng tỏ sự dũng mãnh, can đảm, hy sinh liều mạng, cầu được sung túc…

Người Ao Naga, một thứ Âu Lạc ở Assam trước đây cũng có tục săn đầu người.

Người Dayak Việt hải đảo ruột thịt với người Ao-Naga, Âu Lạc thấy qua sự thời phượng Chim Hồng Cắt-Rắn Lạc, Tiên Rồng, qua tục săn đầu người này, qua tục xâm chổ…

b. Trung thế.

Trung thế là phần giữa Chim Cắt và Rắn Nước. Đây là cõi nhân gian.

Chim Cắt là ranh giới giữa thượng thế và trung thế như đã nói ở trên.

c. Hạ thế.

Hạ thế là phần nằm dưới Rắn Nước diễn tả bằng bình nước. Đây là cõi âm. Bình nước diễn tả cõi âm là cõi nước. Nước chia ra làm nước dương là phần có ánh sáng chiếu tới thường có mầu trong xanh ứng với tiểu thế nước của trung thế (xin nhắc lại mỗi thế lại chia ra ba tiểu thế: trung thế có ba tiểu thế là trời, đất và nước). Phần nước không có ánh sáng chiếu tới, đen tối thật sự là âm thế, âm ty. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, Lạc Long Quân vua mặt trời Nước ứng với nước dương và là Chúa cõi âm có thủy phủ ở Vịnh hạ Long ứng với nước âm đen tối, âm ty.

Rắn Nước là ranh giới giữa trung thế và hạ thế như đã nói ở trên.

Các sắc tộc ở Việt Nam cũng có cây trụ lễ tang ma này.

clip_image077Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) của sắc tộc Co ở Quảng Nam ở Viện Bảo Tàng Dân Tộc Học Việt Nam, Hà Nội.

clip_image079Trên đỉnh cây có hình chim (ảnh của tác giả).

Chim này chắc chắn là chim mang dương tính biểu tượng mặt trời như chim cắt, chim Việt.

2. Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) trong đền thờ.

clip_image081
Cây Đời Sống kiểu tộc Người Ulu, Sarawak với rễ trên không buông ngoằn ngoèo xuống đất (Stylized Orang Ulu Tree of Life from Sarawak with aerial roots spiraling to ground).  (Source: http://www.flickr.com/photos/87453322@N00/3877832454/).

Lưu ý Cây Đời Sống có rễ phụ thòng xuống mặt đất là cây da, cây đa. Cây đa này ruột thịt với cây Si của Mường Việt. Cây Si là Cây Đời Sống của Mường Việt sinh ra Mẹ Đời Dạ Dần.

Trên đỉnh cây có Chim Cắt cho thấy chim cắt là chim tổ tối cao. Các vật tổ khác như Rắn Nước, Chó Trời Aso ở dưới.

3. Nhà làng Người Dayak Đất Liền Bidayuh.

Người Dayak Đất Liền Bidayuh làm các nhà cộng đồng tròn baruk.

clip_image082Nhà cổ truyền hình tròn baruk của người Bidayuh (nguồn: en.wikipedia.org).

Như đã nói ở trên, các nhà thờ phượng Dayak diễn tả tổng thể vũ trụ (cosmic totality) giống như các nhà trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn.

Nhà làng tròn baruk là nhà cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) có hình bầu nậm nòng nọc (âm dương) biến dạng.

Nhà Lập Pháp mới, Petra Jaya ở thủ đô Kuching, Sarawak làm phỏng theo nhà làng baruk.

clip_image083Nhà Lập Pháp mới, Petra Jaya, Kuching tiểu bang Sarawak (nguồn: Wikipedia).

3. Trang Phục Đầu (headdress).

Một dạng trang phục đầu của người Dayak diễn tả cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống):

clip_image085Trang phục đầu tộc Sangiang (nguồn: Hans Scharer đã dẫn).

Trang phục đầu của tộc Sangeang diễn tả cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) với tam thế.

Chúng ta cũng thờ cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) rất nhiều như dùng cây si, cây đa đã nói ở trên, cây nấm của người Thái ở Nghệ An.

Trống đồng nòng nọc (âm dương) Cây Nấm Vũ Trụ (Nấm Tam Thế, Nấm Đời Sống) Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I) là một ví dụ điển hình. Cấu trúc đền Tổ Hùng cũng phỏng theo cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) (xem Cấu Trúc Đền Hùng).

Tử Sinh, Tái Sinh, Hằng Cửu.

Tử sinh, tái sinh, hằng cửu thấy qua:

.Các thuyền vong thuyền vong như đã nói ở trên. Các thuyển này tương tự như các thuyền phán xét linh hồn trên trống Ngọc Lũ I và họ hàng.

.Các quan tài chim Việt Rắn Lạc như đã nói ở trên.

.Nhà mồ cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống).

clip_image087Nhà mồ của một nữ quí tộc Kayan (larkrutak.com)..

Nhà mồ hình cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) trên có chim tổ mỏ cắt Việt. Chùa Một Cột của Việt Nam được giải thích là có hình hoa sen, làm theo giấc mơ của vua Lý Thái Tông thấy Phật Bà Quán Thế Âm ngồi trên hoa sen. Nhìn dưới lăng kính vũ trụ tạo sinh, chùa có một khuôn mặt là cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) giống như nhà mồ này.

Hiển nhiên người chết được chở trong các thuyền vong, chôn trong quan tài chim Việt-rắn Lạc và chôn trong các nhà mồ cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) là đều cầu mong được tái sinh hay về miền hằng cửu.

Thờ Mặt Trời.

Như đã biết, người Dayak Sarawak chọn giống Cắt Sừng Lớn (Great Hornbill, Buceros rhinoceros) là loài chim rìu lớn nhất làm vật tổ chim và chim biểu quốc gia. Chim Cắt Lớn là chim biểu tượng của thần mặt trời Viêm Đế. Chim Cắt cũng biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam hiển nhiên biểu tượng cho mặt trời, cực dương. Như thế hiển nhiên người Dayak thuộc đại tộc Người Việt Mặt Trời nhánh Việt hải đảo theo vũ trụ giáo, có chim tổ Cắn Lớn, họ cũng thờ mặt trời như người Việt Nam. Họ thuộc tộc Đại Việt Mặt Trời Chim Việt Viêm Đế.

Như đã nói ở trên, họ coi chim tổ này là hồn thiêng thượng đế, tạo hóa, tổ tiên. Đây chính là ý nghĩa của chim Cắt là chim Tổ Mặt Trời có một khuôn mặt là đấng thượng đế, đấng tạo hóa, đấng sinh tạo, tổ tiên của tộc người mặt trời. Họ cũng coi chim Cắt là thần chiến tranh.

.Mũ chiến sĩ anh hùng đội mũ lông chim cắt.

clip_image089Một chiến sĩ Iban đội mũ anh hùng lông chim cắt, chim Việt, thần chiến tranh.

clip_image091

Hiền thê tác giả đội mũ ‘anh thư’ lông chim cắt, thần chiến tranh chụp chung với những người Iban, Sarawak.

Phụ nữ Việt Nam là những anh thư con cháu Thái Dương Thần Nữ Âu Cơ dòng dõi Chim Việt Mặt Trời hùng anh.

Điều này cũng dễ hiểu thôi, mặt trời mang hùng tính dĩ nhiên là thần chiến tranh.

Xin nhắc nhở các nhà làm văn hóa, làm nghệ thuật Việt Nam khi thiết kế trang phục đầu của thời Hùng Vương, của con dân Hùng Vương Mặt Trời, dòng thần mặt trời Viêm Đế có chim biểu là chim mỏ cắt Lang phải có lông chim Việt (hay ít ra nếu không có, có thể thay bằng lông loài hùng điểu, mãnh cầm như gà trống, trĩ, ưng, ó, diều hâu, những loài chim biểu tượng mặt trời). Ngay cả Hai Bà Trưng là di duệ Hùng Vương có thủ đô là chim Việt Mơ Lang, Mơ Linh, Mê Linh, trang phục đầu cũng phải có lông chim cắt Lang mầu trắng đen (lang có một nghĩa là trắng và đen là mầu âm, nữ) vì Hai Bà là những anh thư dòng dõi Hùng Vương nhánh Lửa, Chim Mê Linh Thái Dương Thần Nữ Âu Cơ. Bằng chứng thấy rõ qua phụ nữ Ao ở Nagaland (Đất Rắn), một thứ Âu Việt, vẫn quấn băng đầu có cắm lông chim cắt trắng đen, chim biểu tượng mặt trời Hùng Lang.

clip_image092Phụ nữ tộc Ao ở Nagaland quấn băng đầu có lông chim trắng đen, xén bằng đầu mang âm tính, nữ (nguồn: retoldbygrandma.blogspot.com)

Lưu ý chuỗi đeo cổ có hình mặt trời thái dương thần nữ với tia sáng tròn đầu mang âm tính.

Hai Bà cũng có thể đội vòng đầu, băng đầu (headband) hay đội khăn vòng tròn hay vành khăn biểu tượng cho mặt trời đĩa tròn âm, không có nọc tia sáng, có mầu vàng, mầu mặt trời âm thái dương hay mầu cầu vồng, mầu ánh sáng mặt trời.

Ví dụ như một vài các em trong Đoàn Văn Nghệ Thiếu Nhi Lạc Hồng trong màn trình diễn Vỗ Cái Trống Cơm.

clip_image094Một số các em trong Đoàn văn Nghệ Thiếu Nhi Lạc Hồng trình diễn bài Vỗ Cái Trống Cơm tại Hội Chợ Tết Sinh Viên, Quận Cam, Nam Cali, Xuân Đinh Dậu 2017. Các em đội khăn vòng tròn mặt trời đĩa tròn thái dương thần nữ  Âu Cơ  (ảnh của tác giả).

Chiếc khăn vòng tròn mặt trời âm nữ này cũng thấy ở phụ nữ Dayak:

clip_image002[1](nguồn: id.com).

Lưu ý một số tộc Dayak cũng có tục căng tai như một vài tộc ở Tây Nguyên Việt Nam.

và trong một vài tộc Maya ở Guatemala, một thứ Lạc Việt Trung Mỹ (họ có DNA giống hệt người Việt).

clip_image002

Mô hình đội khăn vòng tròn của một tộc Lạc Việt Maya tại Viện Bảo Tàng Đồ Dệt Ixchel, Thành Phố Guatemala (ảnh của tác giả).

(vì không được phép chụp ảnh bên trong nên tôi đành phải chụp hình trên màn ảnh truyền hình ở bên ngoài nên ảnh bị mờ).

Hiện nay các nhà làm văn hóa, nghệ thuật Việt Nam thường ‘tối dạ’ cho Hai Bà Trưng đội khăn vành dây to như cái rế (!). Trước hết thời Hai Bà làm gì có khăn vành dây! Thứ đến là khăn vành dây là biểu tượng của ngành rắn nước Lạc Long Quân. Trước kia các tộc của ngành rắn nước Lạc Long Quân quấn đầu bằng một dải vải tức con dải (rắn) nước. Ngày nay để tiện dụng đóng lại thành khăn vành dây. Khăn vành dây là con rắn quận lại thấy rõ qua chiếc khăn vành dây Rắn Cầu Vồng Tocayal của tộc Tzutujil (Tz’utujil), Maya sống ở làng Santiago de Atitlán của hồ Atitlán, Guatemela, một thứ Lạc Việt Trung Mỹ.

clip_image098Cụ già bán hàng người bản xứ thuộc tộc Tzutujil ở Santiogo Atitlán, đội khăn vành dây Rắn Cầu Vồng Tocayal, trông giống như một cụ già Việt Nam.

Với thủ đô Mê Linh thì Hai Bà có dòng máu Chim Việt Mê Linh, Thái Dương Thần Nữ Âu Cơ mang tính chủ hơn là dòng máu Rắn Nước Lạc Long Quân. Phái nữ miền Trung Nam thích đội khăn vành dây vì phần lớn vốn có tổ tiên di cư từ vùng duyên hải miền Bắc và Bắc miền Trung thuộc địa bàn Lạc Việt Lạc Long Quân vào, tức nhánh Rắn Nước Lạc Long Quân. Trong khi phụ nữ miền Bắc ở vùng đất cao, núi như tộc hai bà Trưng, tộc Mường chẳng hạn thuộc nhánh Chim Lửa Âu Cơ thích vấn đầu, đội khăn vòng tròn mặt trời và đội nón thúng cổ truyền mặt trời quai thao (Jeanne Cuisinier trong Les Mường gọi là Le Chapeau de Soleil).

.Phụ nữ Dayak có vành cổ áo kết hạt cườm hình mặt trời có nọc tia sáng mũi mác thái dương sinh động (Từ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que Mũi Mác)

clip_image100

Vành cổ áo kết hạt cườm của phụ nữ Dayak hình mặt trời nọc tia sáng thái dương .

Đây là chứng tích cho thấy phụ nữ Dayak là con cháu của một thái dương thần nữ giống như phụ nữ Việt là di duệ của thái dương thần nữ Âu Cơ. Phụ nữ Việt đeo kiềng vàng. Kiềng là còng, vòng tròn, là hình ảnh mặt trời đĩa tròn không có nọc tia sáng mang âm tính giống như mặt trời đĩa tròn của thái dương thần nữ Amaterasu thấy trên lá cờ Nhật hiện nay. Như vừa nói ở trên, giống như phụ nữ Ao (Naga), Âu Việt đeo chuỗi cổ hình mặt trời có nọc tia sáng tròn đầu mang âm tính.

.Ngoài ra như đã nói ở trên họ có tục xâm chổ (kelingai) với nhiều hình thái liên quan tới tín ngưỡng, vật tổ…

clip_image102Một người đàn ông Dayak xâm mình. Trang phục đầu có lông chim Việt, băng đầu (head band) cũng có hình vật tổ.

Lưu ý lông chim cắt Việt ở đây có mầu trắng đen của loài cắt lang ứng với chim cắt biểu của Hùng Lang Vương. Lông chim để nguyên mang dương tính, đầu lông không cắt xén bằng ngang (khác phái nữ lông cắt bằng đầu mang âm tính thấy ở trang phục đầu của phụ nữ Ao Naga như vừa mới nói ở trên).

Các hình thái xâm chổ ngoài hình vật tổ chim cắt, rắn nước, chó aso, thường thấy các hình thái gọi là hình hoa cà “bungai terung’:

clip_image104Hình xâm theo họa kiểu ‘Hoa Cà’

(http://robinsonmike.blogspot.com/, Kingdom of Sarawak).

bởi vì các hình thái này được cho là trông giống hoa cà.

clip_image106Hoa cà (kew.org).

Mã ngữ bungai là hoa, bung- chính là Việt ngữ bông. Trung Nam nói bông nhiều hơn là hoa. Ngôn ngữ Trung Nam có một khuôn mặt gần cận với Chàm ngữ và Nam Đảo, Đa Đảo ngữ hơn ngôn ngữ miền Bắc. Terung, Mã ngữ torung là cà. Quả cà giống quả trứng nên Anh ngữ gọi cây cà là cây trứng eggplant.

clip_image107

Cà và trứng gà (nguồn: Wikipedia).

Terung, torong ruột thịt với telor, trứng (r=l). Ta thấy rõ t(e)rung = Việt ngữ trứng,  t(o)rong = tròng. Cà terung có quả hình trứng, tròng. Mã ngữ torong masam, cà chua, có hình dạng như quả cà. Cau (betel nut) có hình như quả trứng nên cổ ngữ Việt Mường gọi cau là nang như mo nang là mo cau. Nang có một nghĩa là trứng (noãn nang). Cau có ca-, cà- hình trứng.

Ở giữa những hình hoa cà có những hình móc xoắn tròn, có khi gọi là con nòng nọc có tên là ‘Tali Nyawa’, “Circle of Life” (‘Chu Kỳ Sự Sống’) hay ‘Rope of Life’ (‘Dây Sinh Mệnh’). như đã nói ở trên ở đầu chim quốc Kenyalang Sarawak, hình xoắn có một nghĩa là sinh tạo, tạo hóa. Như vậy hình hoa cá có hình xoáy cũng mang nghĩa tạo hóa, sinh tạo. Do đó mới có nghĩa là  Chu Kỳ Sự Sống hay Dây Sinh Mệnh. Các hình hoa cà này ngoài các mục đích xử dụng khác, thường được dùng xâm chổ chính trong lễ thành đinh, thành thân của một người con trai dayak vào tuổi được coi là trưởng thành, thành nhân.

Tại sao lại là hoa cà? Tại sao không phải là một thứ hoa nào khác? Tại sao lại liên hệ nhiều tới lễ thành nhân trong Chu Kỳ Sự Sống? Để trả lời tận ngọn ngành, ta phải dựa vào chữ nòng nọc vòng tròn-que, dịch lý và cổ sử Việt. Cà hình trứng có nghĩa biểu tượng gì? Trứng có tròng đỏ dương ứng với mặt trời và tròng trắng trong ứng với không gian. Cà-trứng mang hình ảnh vũ trụ, trứng vũ trụ. Ông thần Sấm Dông Phù Đổng Thiên Vương nói với sứ giả:

Bay về bay dổng vua bay,

Cơm thời bay thổi cho đầy bảy nong.

Cà thời muối lấy ba gồng,

Ngựa sắt, vọt sắt ta thời dẹp cho.

Ông Dóng ăn bẩy nong cơm ba gồng (gánh) cà xong uống hết một khúc sông:

Bẩy nong cơm, ba gồng cà,

Uống một hơi nước, cạn đà khúc sông.

Số 7 (nong cơm) là số Càn (lửa vũ trụ) và số 3 (3 tuổi và 3 gồng cà pháo muối chua) là số Đoài vũ trụ, khí gió. Như thế ông nuốt lửa, khí gió và uống hết một khúc sông nước vào người tức là những thứ dùng để tạo ra sấm dông bão. Rõ hơn nữa cà là một thứ quả hình trứng (egg-plant) mang biểu tượng bầu Trứng Vũ Trụ và pháo là vật nổ đùng đùng như sấm. Ông ăn cà pháo là nuốt cả hư vô, khí gió, Trứng Vũ Trụ và nuốt cả lửa vũ trụ, nuốt cả pháo vũ trụ vào người nên từ cậu bé vươn vai đứng dậy trở thành con người khổng lồ có sức mạnh vô song như dông tố, như sấm dông. Rõ ràng ông Dóng là Thần Sấm Dông Nhà Trời nên mới có tên là Phù Đổng Thiên Vương (Phù là nổi, gió như thổi phù phù và Đổng là động, sấm) (Ý Nghĩa Ngày Vía Phù Đổng Thiên Viên Mống Chín Tháng Tư Âm Lịch).

Quả cau hình trứng, như đã nói ở trên cau có ca- cà, cau bổ đôi trông giống một quả trứng luộc bổ hai. Quả cau biểu tượng cho trứng vũ trụ, trứng thế gian là biểu tượng của Hùng Vương sinh ra từ bọc trứng thế gian đội lốt bọc trứng vũ trụ. Ngày giỗ Tổ Hùng sinh bao giờ cũng cúng cau (mà không cúng trầu). Như thế hình xâm hoa cà bungai terung phải hiểu theo nghĩa trứng vũ trụ gồm mặt trời và không gian, phải hiểu theo vũ trụ tạo sinh, dịch lý. Những hình thái xâm chổ này, theo duy dương dòng chim cắt tingang là những mặt trời tạo hóa, sinh tạo. Thật vậy, ta thấy hình hoa cà giống hình mặt trời rõ nhất là những hình có các hình nọc mũi mác như nọc tia sáng tỏa ra, clip_image108. Phần lớn hoa cà có 6, 7 cánh trong khi các hình mặt trời này có 8 nọc tia sáng cánh hoa. Số 8 là số Khôn tầng 2 (0,8). Mặt trời là mặt trời Càn-khôn mang tính tạo hóa, sinh tạo. Ngoài ra ở tâm mặt trời có hình xoắn ‘chu kỳ sự sống’ hay ‘dây sinh mệnh’ có khi cho là hình con nòng nọc clip_image109 chính là một từ nòng nọc vòng tròn-que có một khuôn mặt là đĩa thái cực thái dương-thái âm mang tính sinh tạo.

clip_image110

Đĩa thái cực thái dương-thái âm.

Theo duy dương là từ hai nọc que dính nhau mầu trắng chuyển động thành hình cánh quạt máy bay hình lưỡi liềm mang tính thái dương vận hành, sinh tạo. Theo duy âm là hai nòng vòng tròn mầu đen chuyển động mở ra thành hai dấu phẩy (comma) mang tính thái âm vận hành, sinh tạo. Nhìn dưới dạng nhất thể ta có thái cực ở tầng tứ tượng (có thái dương, thái âm). Hiển nhiên mặt trời 8 nọc tia sáng càn-khôn có hình đĩa thái cực là mặt trời tạo hóa, sinh tạo cõi thế gian (thế gian vì Khôn 8 tầng hai là tầng thế gian, thái cực thái dương-thái âm ở tầng tứ tượng là tầng sinh tạo thế gian). Hiểu theo Chu Kỳ Sự Sống, Dây Sinh Mệnh, Con Nòng Nọc cũng nằm trong nghĩa của thái cực, càn khôn, vũ trụ, tạo hóa, nói rộng ra là trong nghĩa của vũ trụ thuyết, dịch lý. Riêng về hình thái hoa cà này được dùng chính trong lễ thành thân, thành đinh của người con trai Dayak rất thích hợp với mặt trời sinh tạo. Mặt trời biểu tượng hùng tính, dũng mãnh, hy sinh, chiến sĩ, thần chiển tranh… mặt trời hùng tính, có một khuôn mặt biểu tượng bộ phận sinh dục nam cương cường, đánh dấu giai đoạn dậy thì có hoạt tình (active sexual activity) trong Chu Kỳ Đời Sống của người con trai trở thành đàn ông, lúc này được phép lấy vợ, sinh con.

Một vài hình thái xâm chổ hoa cà.

-Hình thái hoa cà mặt trời nọc tia sáng có chữ nòng vòng tròn ở tâm.

Trong trường hợp hình thái mặt trời 8 nọc tia sáng càn khôn ở tâm có chữ nòng vòng tròn đơn giản hơn clip_image111. Nòng vòng tròn này có thể là chữ hay dấu nòng chấm rỗng có một nghĩa không gian. Ta có mặt trời-không gian, vũ trụ mang tính tạo hóa, sinh tạo. Đây là mặt trời tạo hóa, sinh tạo.

-Hình thái mặt trời tạo hóa, sinh tạo có nọc tia sáng hình cánh hoa clip_image112 mang âm tính và nọc tia sáng hình que mang dương tính. Hai loại ánh sáng này cho biết mặt trời lưỡng tính phái, nhìn dưới dạng nhất thể là thái cực. Mặt trời cũng mang tính sinh tạo, tạo hóa.

Ở tâm có hình xoắn ‘chu kỳ sự sống’, ‘dây sinh mệnh’ hay ‘con nòng nọc’ như đã nói ở trên, có một khuôn mặt nhìn dưới diện nhất thể là thái cực. Đĩa thái cực này là biến thể của một dạng đĩa thái cực thường thấy ở Việt Nam:

clip_image113

Đĩa thái cực hai vòng xoáy nòng nọc (âm dương) trên mình lợn (tranh dân gian Đông Hồ).

Hình đĩa thái cực hai vòng xoáy này ruột thịt với đĩa thái cực của Đạo giáo: clip_image114. Điểm tương đồng này thấy rõ qua hai lá cờ Đại Hàn:

clip_image115

Cờ Đại Hàn triều đại Joseon (1876).

clip_image116

Cờ Nam Hàn hiện nay (nguồn: quora.com).

Vì thế cờ Đại Hàn gọi là cờ thái cực, thái cực kỳ (teugukgi hay teugeukgi).

Như đã biết thái cực cũng có một khuôn mặt sấm tạo hóa, sinh tạo. Nước lửa nguyên khởi liên tác sinh ra tiếng sấm Big Bang. Vì thế đĩa thái cực có một khuôn mặt là đĩa sấm sét, đĩa thiên lôi biểu tượng của thần sấm như thấy rõ qua khuôn mặt cà trứng vũ trụ, sấm dông bão của Phù Đổng Thiên Vương như đã nói ở trên. Thần sấm có một khuôn mặt là thần chiến tranh, thần hủy diệt để kiến tạo như thần Shiva có một khuôn mặt là thần hủy diệt, chiến tranh thấy qua chiếc trống cầm trong tay, biểu tượng của sấm. Rõ như ban ngày hình đĩa thái cực ở tâm hình xâm hoa cà bungai terung có một khuôn mặt thần sấm, thần chiến tranh của Dayak.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, hình xâm chổ hoa cà  mang nghĩa biểu tượng sấm tạo hóa qua khuôn mặt trời thái cực này cũng có thể dùng làm biểu tượng cho Thần Sấm Dông Phù Đổng Thiên Vương có biểu tượng tượng thực vật là quả cà, cà pháo.  Người Dayak xâm hình hoa cà có một khuôn mặt là con cháu Thần Cà Sấm Dông Phù Đổng Thiên Vương!

Ngoài nghĩa hoa cà là mặt trời sinh tạo như đã nói ở trên nên được dùng xâm chổ trong lễ thành đinh, với khuôn mặt sấm sinh tạo nên cũng được dùng biểu tượng cho con trai trong lễ thành nhân đánh dấu người con trai đã thành nam nhi mang đầy hùng tính, trở thành một chiến sĩ, anh hùng, con cháu của là thần chiến tranh chim tổ Cắt Việt, thần sấm sét vũ trụ có biểu tượng là hoa cà mang tính thái cực.

-Hình thái ở tâm có hình hoa bốn cánh: clip_image117.

Hoa bốn cánh là một biến dạng của từ nòng nọc hình chữ thập có một nghĩa là tứ tượng. Cánh hoa đầu tròn mang âm tính. Đây là mặt trời diễn tả hư vô (chấm đen ở tâm), thái cực, lưỡng nghi (hai loại tia sáng cánh hoa âm và nọc que dương) và tứ tượng hình chữ thập bốn cánh hoa tròn đầu của nhánh nòng âm.

Tóm lại hình xâm chổ hoa cà Bungai Terung này phải hiểu là hoa cà trứng vũ trụ, hoa vũ trụ, theo duy dương dòng chim cắt tingang là hoa cà mặt trời sinh tạo nhất thể. Như thế rõ như hai năm là mười hình xâm hoa cà bungai terung phải hiểu theo nghĩa vũ trụ tạo sinh, dịch lý. Đây cũng giải thích tại sao hình hoa cà trứng vũ trụ này được xâm ở chỗ quan trọng nhất trên thân người là ở hai vai. Hai vai gánh vác sơn hà, non sông, vũ trụ.

….

Qua các hình thái xâm chổ mặt trời này cho thấy người Dayak thờ mặt trời và theo vũ trụ giáo như Bách Việt.

Lưu ý mặt trời Dayak cũng có nhiều hình thái khác nhau thấy qua các nọc tia sáng và hình xoắn nòng nọc (âm dương) ở tâm tùy theo tính nòng nọc của mặt trời. Trường hợp này giống hệt như các mặt trời trên trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn (Ý Nghĩa Hình Mặt Trời Trên Trống Đồng Nòng Nọc Đông Nam Á).

Như thế các hình thái xâm chổ của người Dayak ngày nay gọi là hoa cà bungai terung chỉ hiểu theo nghĩa duy tục, dân dã đã đánh mất ý nghĩa vũ trụ tạo sinh, dịch lý nguyên thủy. Phải dựa vào cổ sử Việt, văn hóa Việt, chữ nòng nọc vòng tròn-que và Việt dịch nòng nọc mới hiểu rõ được ý nghĩa ngọn nguồn.

Không còn gì để nghi ngờ người Dayak là một thứ Việt hải đảo của đại tộc Việt, Người Mặt Trời, qua khuôn mặt chim Việt Lửa mang tính chủ hiện nay là ngành  Nọc Việt.

….

Để chấm dứt và để cho hiểu rõ tại sao chim Cắt là chim Rìu, chim Việt, xin kể một câu chuyện cổ tích của người Dayak vùng Kelantan, Borneo: Con Chim Torok hay Chim Bổ Sập Nhà Bố Vợ (Burong Tebang Rumah Bapok Mentua).

Chim Torok là chim bổ cắt, chim rìu. Ngày xửa ngày xưa, lâu thật là lâu, không còn ai nhớ là vào lúc nào, ở một xó rừng núi nọ ở Borneo, có một cặp vợ chồng già nghèo, hiền lành, chất phác, sống trong thanh bần, đạm bạc. Ngày ngày, hai vợ chồng trồng rau, kiếm củi, hái trái cây rừng đem trao đổi lấy thực phẩm để sống. Hai người sống với một người con gái duy nhất. Cuộc đời phẳng lặng trôi giữa rừng cây. Đến một hôm, có một người con trai tới xin cưới con ông bà. Hai vợ chồng lúc đầu do dự vì không biết rõ tung tích kẻ lạ. Sau đó vì hạnh phúc của con gái nên cuối cùng họ cũng ưng thuận. Người con trai ở lại ở rể (hãy còn thời mẫu hệ).

Ngày tháng trôi qua, chẳng bao lâu sau cặp vợ chồng trẻ xích mích với ông bà già. Người con rể rất lười biếng chỉ ăn không ngồi rồi và lăn ra ngủ. Họ bắt đầu cãi nhau to. Cuối cùng chàng rể và cô vợ cầm rìu lăm lăm đốn sập căn nhà của ông già. Ông già đáng thương nói rằng: “Vợ chồng tao già rồi, chỉ có túp lều trú thân, nếu tụi bay chặt sập nhà, tao sẽ nguyền rủa chúng bay chết biến thành một loài chim phải bổ cây, chặt củi khó nhọc mà kiếm ăn, chứ không phải chỉ ăn không ngồi rồi được chúng tao hầu hạ như bây giờ đâu”. Hai người trẻ không thèm để ý tới lời ông già. Họ chặt hết mấy cây cột nhà làm sập túp lều của ông bà già. Chặt xong thấy vợ chồng người già ngồi khóc, họ lăn ra cười như điên dại. Sau đó quả nhiên hai vợ chồng người trẻ biến thành hai con chim có mỏ rất to, to như cái “chiếc bổ”, chiếc rìu. Đó là chim bổ cắt. Chim này phải mang mỏ to bằng nửa người, to như chiếc rìu lớn, mổ ăn khó khăn như một hình phạt. Vì thế cho nên người Kelantan gọi là chim torok và mới có truyện Burong Tebang Rumah Bapok Mentua (Con Chim Bổ Sập Nhà Bố Vợ).

Chuyện này cũng dựa vào tiếng kêu đặc biệt của loài chim cắt. Tiếng kêu bắt đầu bằng một loạt những âm “húp”, “húp”, “húp”, mỗi tiếng “húp” cách nhau nửa phút, kéo dài từ năm đến mười phút, sau đó khoảng cách các tiếng “húp” càng ngày càng ngắn lại, nghe càng dồn dập, cho tới khi những tiếng “húp” “húp” “húp” lặp đi lặp lại chừng mười đến mười hai lần, con chim chấm dứt tiếng kêu bằng một chuỗi tiếng “cười” ngật ngưỡng như “vỡ ra” vang dội cả rừng cây. Người Kelantan nghe tiếng chim bồ cắt kêu mường tượng ra như sau: Kong-kong, kong-kong, kong-kong; be’rok, be’rok, be’rok; Ha! Ha! Ha! Những tiếng kong-kong nghe như tiếng rìu chặt cây trong rừng bong-bong, cong-cong; mấy tiếng berok, berok, berok đọc nhanh nghe như ‘bro,’ ‘bro’, tiếng cây bị chặt bổ (ngã) xuống và cuối cùng là tiếng cười đểu giả Ha! Ha! Ha!

Con chim bổ sập nhà bố vợ không những phải tự đi kiếm ăn nuôi thân, không những khổ sở vì có mỏ to mà còn chết vì chiếc mỏ đó nữa. Các thổ dân Mã Lai, Nam Dương thường giết chim lấy mỏ làm ngải, làm bùa. Ngải làm bằng mỏ chim bổ cắt dùng ngừa bị ngộ độc là một thứ ngải rất quí nổi tiếng ở Mã Lai. Họ lấy mỏ chim làm thành nhẫn đeo tay hay những vật nhỏ đeo hoặc giữ trên người hoặc dùng mỏ làm muỗng. Mỗi khi người đeo nhẫn ngải mỏ chim này bị đe dọa hay tiếp cận với chất độc, như lúc ngồi vào bàn ăn có chất độc, nhẫn này sẽ đổi thành màu xanh xám, màu xỉn xạm đi. Nhẫn làm bằng mỏ chim rất quí vì có thể dùng làm thuốc giải độc cấp cứu. Trong trường hợp bị trúng độc, hay bị đầu độc, mài cái nhẫn trong nước đổ vào miệng nạn nhân. “Đối với những bùa ngải thuốc độc Mã Lai, nhẫn làm từ mỏ loài bồ cắt có sừng cứng là loại nhẫn quan trọng nhất, nó là một bửu bối dùng trong việc chữa trị cấp cứu những vụ đầu độc của dân bản xứ” (The most important ring in regard to Malay poisons is the finger ring fashioned out of the beak of the solid-billed hornbill, which is much treasure for use in the emergencies of native poisoning) (John D. Gimlette, Malay Poisons and Charm Cures p.64). Còn muỗng làm bằng mỏ bổ cắt dùng để thử thuốc độc trong đồ ăn, nếu múc thức ăn có chất độc nó biến thành màu đen. Tại Perak Mã Lai muỗng này được dùng nhiều. Mỏ chim này giống như ngà, nói đúng ra nó là một thứ ngà. Tương tự ngày xưa vua chúa Á châu dùng đũa hay thẻ ngà thử thuốc độc, nếu nhúng vào thực phẩm có chất độc, ngà sẽ đổi thành xám đen. Mỏ chim cắt tại Mã Lai cũng được dùng làm ngải yêu, bùa yêu. Mỏ được làm thành trâm cài áo, cài đầu, làm cúc, móc gài áo. Các bà các cô dùng những thứ này để được yêu. Theo tôi vì mỏ bổ cắt tượng trưng cho bộ giống phái nam nên các bà các cô mới dùng làm bùa yêu. Vì thế loài chim này chết vì mỏ của nó, có nơi gần như tuyệt chủng.

Nhưng điều quan trọng ở đây là truyện thần thoại này cho ta biết nguồn gốc của chữ “bổ”, cây “rìu”.

Từ torok chỉ chim bổ cắt Mã Lai Á. Torok đọc nhanh là tok là thọc, đục, đốn. Người Ao (Âu, Âu Việt) Naga ở Assam cũng có từ dok, tok là cắt, đục, thọc. Một loài bổ cắt cũng có tên khoa học là Tockus và một giống chim có mỏ rất to rất đẹp, quốc biểu của nước Belize, Nam Mỹ gần cận với bổ cắt là chim toucan. Tockus và Toucan có toc-, touc đều mang âm tok, thọc, đục. Tóm lại chim cắt torok là chim đục, chim chàng (chisel). Nếu coi âm “to” của (to)rok là âm dượm giọng, âm nuốt đi còn lại vần -rok thì rok, ruk là rựa, rào, rìu, nọc, dùi. Torok là chim rìu. Mỏ nó to và trông như cây rìu. Chim Torok hay chim tobok là chim rìu, chim rựa, chim rào, chim dao, chim đục, chim búa, chim bửa, chim bổ. Chữ bổ còn có nghĩa là rơi, té, ngã như bổ nhào, bổ ngửa ra (ngã ngửa ra), rơi bổ xuống đầu. Chữ bổ nghĩa rơi này cũng chính là chữ berok trong tiếng kêu berok, berok, berok của con chim bổ, chim rìu torok như đã nói ở trên. Berok nói nhanh thành ‘bro’ thành bổ. Dùng bổ (rìu) chặt thì cây bổ xuống, rời ra, rơi xuống, dễ hiểu. Ở đây berok là tiếng cây bị chặt bổ xuống đất. Nên nhớ không phải chúng tôi cố “ép” chữ “berok” thành âm ‘bro’ khi phát âm nhanh. Một tác giả người Anh ông Gimlette cũng xác quyết điều này, ông đã viết từ trước năm 1915: “b’erok, b’erok, b’erok pronounced quickly, somewhat ‘bro’, gives the crash of the falling timbers…” (John D. Gimlette, sđd tr. 65-66).

Điểm cốt yếu chủ chốt của con chim này là mỏ. Vậy chim torok chính là chim đục, chim rìu. Con chim rìu này chính là chim Việt. Rìu là việt.

Người Dayak là Việt hải đảo ngành Nọc Việt. Ta có thể dùng truyền thuyết và cổ sử Việt để giải thích và hiểu cổ sử Dayak và ngược lại. Các nhà làm văn hóa Việt Nam hãy tìm xuống các tộc Việt hải đảo này để truy tìm những nét đặc thù thuần Việt và những mắt xích đã mất của văn hóa Việt. Văn hóa Việt hải đảo còn giữ được cốt lõi chính thống không bị Hoa hóa vì họ chưa bao giờ bị người Trung Quốc đô hộ. Trường hợp này giống như văn hóa Việt hải ngoại sẽ còn giữ được nét chính thống, truyền thống.

Người Dayak có hai nhánh Dayak Đất Liển Âu Việt và nhánh Dayak Biển Lạc Việt, nhìn chung là Âu-Lạc Việt Hải Đảo. Với vật tổ chim Cắt tingang mang tính chủ, Âu Việt Dayak có thể mang khuôn mặt chủ. Điểm này thấy rõ qua sự kiện là Người Dayak Việt hải đảo ruột thịt với người Ao-Naga, Âu Lạc thấy qua sự thời phượng Chim Hồng Cắt-Rắn Lạc, Tiên Rồng, qua tục săn đầu người, qua tục xâm chổ…

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: