RỪNG MƯA BORNEO, CHỨNG TÍCH SINH HỌC NỀN VĂN MINH HUY HOÀNG ĐẠI TỘC VIỆT.

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

RỪNG MƯA BORNEO, CHỨNG TÍCH SINH HỌC NỀN VĂN MINH HUY HOÀNG ĐẠI TỘC VIỆT.

Nguyễn Xuân Quang.

Borneo là một kỳ quan thiên nhiên của rừng mưa trinh nguyên nhiệt đới.

Lần này trở lại Borneo tìm dấu vết cổ Việt ở vùng Sundaland (vùng đất gồm Bán đảo Mã Lai, Borneo, Sumatra, Java và các đảo nhỏ mang tên Sunda, ngày xa xưa dính liền với Đông Nam Á), nơi được Stephen Oppenheimer gọi là Địa Đàng Phương Đông. Chúng tôi không viếng thăm được vùng Borneo của Nam Dương vì lý do an ninh nên chỉ viếng thăm được Borneo thuộc Liên Bang Mã Lai Á là Sabah lần trước và lần này là  Sarawak.

Image result for sabah sarawak

Bản đồ Sabah-Sarawak (kln.gov.my).

Bên cạnh việc tìm kiếm các dấu vết sinh học liên hệ tới Việt Nam, chúng tôi thưởng ngoạn môi trường sinh thái rừng mưa nhiệt đới Borneo. Xin ghi lại mươi hình ảnh muông thú, cây cỏ rừng mưa Sarawak, Borneo cho thấy có các chứng tích liên hệ với muông thú, cây cỏ Việt Nam, với nền văn hóa, văn minh Việt Nam.

1.Sarawak, Đất Chim Việt (Sarawak, The Land of the Hornbill).

Sarawak được mệnh danh là Đất Chim Việt vì là vùng đất có nhiều nhất loài chim rìu, chim Việt, chim mỏ sừng Hornbill ở Borneo và vì là đất của người Dayak, một thứ Nòng Việt. Tác giả Kim Định gọi người Dayak là Bộc Việt. Bộc hiểu theo nghĩa là Bọc, là Nang, là Nòng thì Bộc Việt thuộc nhánh Nòng Việt phía Lạc Việt Lạc Long Quân-Thần Nông. Tiếng Mã Lai chim cắt, chim rìu, chim Việt là Kenyalang và tiếng Dayak là tingang. Đây là chim tổ tối cao của người Dayak đi cặp với Rắn Nước trong cặp lưỡng hợp Chim-Rắn ứng với Chim-Rắn, Tiên Rồng của Việt Nam.

Mã ngữ Kenyalang, chim Việt có lang. Malay-English Dictionary của R.J. Wilkinson cho biết lang: a generic name for hauks, kites and eagles (tên chủng loại chỉ diều hâu, ó, ưng). Như thế lang chỉ chung loài mãnh cầm, loài chim mang dương tính có mỏ lớn như rìu, búa chim có một khuôn mặt biểu tượng cho mặt trời trong đó có chim cắt, chim rìu, chim Việt. Mã ngữ lang này ruột thịt với Việt ngữ lang là chàng. Chàng vừa có nghĩa là con trai, đàn ông (Dạ cổ hoài lang), vừa có nghĩa là chàng (chisel) là cây đục, vật nhọn. Chim lang hiển nhiên là chim chàng, chim đục, chim cắt, chim rìu, chim Việt. Đúng vậy. Mã Lai ngữ langling: the Southern pied hornbill (chim cắt có lông sặc sỡ, nhiều màu ở miền Nam).

Trong dân ca Ê-Đê Tây Nguyên (Ê-Đê liên hệ với Nam Đảo), có câu hát nói tới một giống chim mơ-linh, mơ-lang:

Anh đến từ nơi xa,

Anh mang theo chim mơ-linh từ nhà,

Chim mơ-lang từ buôn.

Anh nghĩ rằng em là con gái chưa tơ vương….

Mơ-lang, mơ-linh chính là từ lấp láy của langling, chim mỏ cắt langling.

Chứng sử Việt cho thấy Hai Bà Trưng dòng dõi Hùng Vương, Vua Mặt Trời, đóng đô ở Mê Linh. Mê Linh biến âm với Mơ Linh, Mơ Lang. Thủ đô Mê Linh của Hai Bà Trưng đặt theo tên chim mơ-linh, chim mỏ cắt, chim Việt, chim Lang, chim biểu của Hùng Vương, Vua Mặt Trời dòng thần mặt trời Viêm Đế có chim biểu là chim Cắt Lớn, chim Đại Việt (Trống Đồng là Trống Biểu Hùng Vương, Vua Mặt Trời) .

Kiểm chứng thêm ta cũng thấy chim Mỏ Sừng (Hornbill) là chim Sừng, chim Khướng (Mường ngữ khướng biến âm mẹ con với Hán Việt khương, sừng), chim Cắt, chim Rìu, chim Việt. Đây là chim biểu của thần mặt trời Viêm Đế, có họ Khương (Sừng) của Viêm Việt.

Như vậy người Dayak là một thứ Lạc Việt hải đảo thuộc ngành Nòng Việt của đại tộc Việt, Người Mặt Trời.

clip_image002Chim Cắt Lớn (Great Hornbill, Buceros bicornis), chim tổ của người Dayak và là quốc biểu của Sarawak chụp ở lobby khu An Dưỡng Hilton Batang Ai, Kuching, Sarawak (ảnh của tác giả).

clip_image004Chim Rìu Lớn (ảnh của tác giả).

Hình bóng chim rìu, chim Việt thấy rất nhiều trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn (xem bài viết Sarawak, Đất Chim Việt trong số tới).

2. Người Rừng Orang Utan.

Nói tới rừng mưa Borneo là nghĩ ngay tới Người Rừng Orang Utan (Mã-Nam Dương ngữ Orang là Người, Chàm ngữ Urang, người. Hutan là Rừng; Hut(an) làm nghĩ tới từ đôi Việt ngữ heo hút chỉ vùng hoang vắng như rừng núi hoang vu). Việt Nam còn gọi là đười ươi, lười ươi. Tôi còn nhớ câu chuyện đọc hồi nhỏ Đười Ươi Giữ Ống. Truyện nói rằng đười ươi khi bắt được người cứ nắm chặt hai cánh tay rồi ngửa mặt lên trời cười (?). Vì thế những người đi rừng thường đút tay vào hai ống tre lớn. Khi bị bắt, thừa lúc đười ngửa mặt lên trời, rút tay ra khỏi ống trốn thoát được. Câu chuyện này cho thấy thủa xa xưa người rừng, đười ươi có ở đất Việt. Ngày nay người rừng không còn thấy nhắc tới ở Việt Nam nhưng các địa khai hóa thạch cũng tìm thấy ở Việt Nam chứng minh người rừng đã có mặt ở phần đất Việt Nam.

An toàn và bảo đảm chắc chắn thấy được người rừng nên viếng thăm Trung Tâm Hoang Dã Semenggok.

clip_image006Trung Tâm Đời Sống Hoang Dã Semenggoh.

Lưu ý tấm bảng Semenggoh hình cây rìu Việt đầu chim Việt tingang.

YUE AXE WARRING

Rìu Việt (Yue) mỏ cắt Điền Việt.

clip_image009Chụp cùng với một gia đình Người Rừng Orang Utan.

Điểm phân biệt thấy ngay là lông người rừng mầu nâu đỏ khác với khỉ đột (gorilla) và dã nhân (ape, chimpanzee) lông đen.

clip_image011Bố coi chừng con chơi (ảnh Thanh Mai Michelle Nguyễn).

Người rừng tên khoa học là Pongo pygmaeus thuộc loài linh trưởng (khỉ và người) châu Á gần cận với con người về thể xác lẫn tinh thần. Chúng chia xẻ 97% DNA với loài người.

clip_image013Người rừng con đang quan sát tìm hiểu một thứ lá gì để học (ảnh Thanh Mai Michelle Nguyễn).

Chúng rất thông minh ví dụ như đêm đêm bẻ cành lá làm tổ giống như một mái lều nhỏ trên cây để ngủ, dùng lá làm dù che mưa, dùng cành lá làm vật đuổi ong, lấy lá lau phân, dùng lá lót tay cầm các quả có gai như sầu riêng, dùng que gãi lưng, dùng que nhọn làm lao đâm cá, dùng cành cây nhún mạnh làm hỏa tiễn phóng người lên cành cao…

clip_image015Mẹ nhìn thấy con nghịch ngợm, âu lo cho tương lai của con (ảnh Thanh Mai Michelle Nguyễn).

Người rừng mẹ nuôi dưỡng và dậy dỗ con như người. Mẹ nuôi con tới 7 năm. Đây là loài thú nuôi con lâu nhất trong các loài động vật kể cả loài người.

clip_image017Mẹ đưa con thơ đu qua cầu dây (ảnh Thanh Mai Michelle Nguyễn).

Người rừng cũng có triệu chứng khủng hoảng giữa đời (mid life crisis) (nguồn: Wikipedia).

……

Như đã nói ở trên các địa khai hóa thạch cũng tìm thấy ở Việt Nam cho thấy Việt Nam và vùng Đất Sunda ngày xưa cùng một địa khối.

3. Khỉ Mũi Vòi Voi (Proboscis) (Nam Dương ngữ Bekantan).

Công Viên Quốc Gia Bako (Bako National Park) lâu đời nhất ở Sarawak là một chỗ lý tưởng để tìm xem các sinh vật rừng mưa nhiệt đới sống trong môi trường thiên nhiên của chúng.

clip_image019

clip_image021Đi săn tìm muông thú tại Công Viên Quốc Gia Bako.

Ở đây thấy được nhiều giống lạ quí hiếm như: loài khỉ có mũi rất đặc biệt trông như một thứ vòi voi gọi là khỉ mũi vòi voi (proboscis) (Latin proboscis (Pliny), Greek proboskis “elephant’s trunk”) clip_image023 .

clip_image025(ảnh Thanh Mai Michelle Nguyễn).

clip_image027(ảnh Thanh Mai Michelle Nguyễn).

clip_image029Khỉ mũi vòi voi tại Bako National Park (ảnh Thanh Mai Michelle Nguyễn).

clip_image031Áo lá chữ T (T shirt) khỉ mũi vòi voi.

4. Sundaland Mang Gạc Đỏ (Sundaland Red Muntjac, Bornean Red Muntjac, Barking Deer).

Mang gạc muntjac loài nhỏ con tại công viên sở thú Pilikula (nguồn: wikipedia).

Loài muntjac này có tên dân dã là hươu sủa ‘barking deer’, tới mùa nhẩy cái con đực gọi nai cái tiếng giống như chó sủa. Tên khoa học là Muntiacus muntjak. Hươu sủa thấy ở vùng đất Sundaland (Kitchener et al. 1990, Groves 2003) và Việt Nam.

Muntiacus-map.png

Vùng phân bố của mang gạc (nguồn: wikipedia).

 Mới đây mang gạc muntjac còn tìm thấy ở Vụ Quang.

clip_image004[1]Mang gạc ở Vụ Quang.

clip_image006[1]Muntjac vuquangensis lớn.

Muntjac chính là Việt ngữ muông gạc, mang gạc, con thú có gạc. Đây là thú tổ bốn chân của Kì Dương Vương. Kì là Ki, cây, cọc nhọn, sừng. Kì là con Cọc, hươu đực, hươu sừng (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc). Kì là cọc, trụ cũng có nghĩa biểu tượng đất, đất thế gian như Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ là ba vùng đất Việt Nam. Do đó hươu cọc, hươu sừng, mang gạc có một khuôn mặt biểu tượng cho đất thế gian. Kì Dương là Hươu Đực, Hươu Sừng, Mang Gạc, Muntjac biểu tượng cho đất thế gian. Dương cũng có nghĩa là đực, mặt trời. Kì Dương là Hươu Đực, Hươu Nọc, Hươu Mặt Trời thượng đỉnh trên trục thế giới, mặt trời chính ngọ, giữa trưa, mặt trời trời chói chang nhất. Tóm lại mang gạc muntjac là thú biểu tượng của Vua Hươu Đực, vua Kì Dương (Vua con Cọc Đực), Vua Hươu Mặt Trời thượng đỉnh Kì Dương Vương, vua tổ thế gian của Việt Nam, của đại tộc Việt Rìu (vật nhọn, cọc, nọc), Người Việt Mặt Trời. Vì thế mà Kì Dương Vương có tên mẹ đẻ là Lộc Tục tức Hươu Đục, Hươu Đực. Muntjac kì dương Mã ngữ gọi là kijang. Kijang chính là Việt ngữ kì dương (Nhận Diện Chân Tướng Kì Dương Vương, Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Con cọc, nọc, hươu sừng, mang gạc, con Kì dương (kijang) thú biểu của Kì Dương Vương thần thoại hóa thành con Kì trong cặp kì lân (kirin).

clip_image008Con Kì trong cặp kì lân.

Lưu ý con Kì nhỏ con, sừng hai mấu nhọn, có răng nanh lòi ra ngoài giống hệt kì dương, hươu sủa muntjac loài nhỏ.

Kì là con cọc, con đực. Lân là con nang, con nàng, con cái.

Đây là bằng chứng không còn tranh cãi kì và lân là linh vật của Việt Nam không phải của Trung Quốc (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Nhìn vùng phân bố, muntjac hươu Kì không có mặt ở vùng đất Hoa Hạ phía bắc  cũng xác thực người Trung Quốc  lấy Kì (Lân) của Bách Việt.

Xin nhắc là người Việt ngành Nọc Việt phải múa Kì trong khi người Việt ngành Nòng Việt múa lân. Miền Trung, Nam thích múa lân vì có gốc Nòng Việt.

Hươu sủa, mang gạc, munjact, kì dương còn thấy khắc ghi nhiều trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn như trên trống Ngọc Lũ I, Miếu Môn I, người hươu thấy trên Thạp Việt Khê…

Nhưng mang gạc thấy rõ nguyên con như trong thiên nhiên thấy trên trống Nam Dương:

clip_image010Mang gạc trên trống Sangeang (Đông Nam Dương).

(nguồn: A.J. Bernet Kempers, The Kettledrums of Southeast Asia).

Hươu sủa muntjac thấy ở Sundaland và Việt Nam, là thú tổ và linh thú Kì của Việt Nam là một chứng tích sinh học hùng hồn cho thấy Việt Nam là một phần của cái nôi của nền văn minh huy hoàng Sundaland, Địa Đàng Phương Đông.

5.  Linh Trưởng Ma Lượn Sunda (Sunda flying lemur).

clip_image039

Một con Sunda flying lemur đang bám vào thân cây (nguồn: Wikipedia).

Tên Mã-Nam Dương là Sunda Colugo (Galeopterus variegatus). Lemur là một loài có vú sống về đêm ở Madagascar. Lemur có nghĩa là ma, hồn ma dựa theo thần thoại La Mã Lemuria (Lễ Vong Nhân). Được gọi là ma vì chúng sống về đêm và di động rất chậm chạp như những bóng ma chập chờn. Lemur Madagascar là loài họ hàng gần cận nhất với loài thú có thứ bậc sinh học hàng đầu gọi là linh trưởng (primates) gồm khỉ và con người. Chúng được cho là một nhánh linh trưởng. Sunda flying lemur thật sự không phải là loài khỉ.

Được gọi là bay (flying) nhưng thật ra các con vật này không bay mà chỉ lượn hay liệng (gliding) từ cành cây này sang cành cây khác nhờ thân có màng. Khi màng mở ra tạo thành một chiếc dù dẹp trông giống cánh dơi.

clip_image041Một con mẹ ‘địu’ con nhỏ đang liệng từ cành này qua cành cây khác (nguồn: NBCnew.com).

Vì thế tôi gọi là con linh trưởng ma lượn. Loài này chỉ sống trên cây, không sống được dưới đất.

Loài này chỉ thấy ở Đông Dương và Sundaland.

clip_image043Khu vực phân bố của linh trưởng ma lượn.

Đây là một chứng tích sinh học cho thấy vùng Đông Dương trong đó có Việt Nam ngày xưa nối liền với vùng đất Sundaland mà bác sĩ Stephen Oppenheimer trong Địa Đàng Phương Đông cho rằng nơi đây là cái nôi của nền văn minh nhân loại.

6. Cá sấu.

clip_image002[3]Cá sấu Sarawak.

 Mã ngữ gọi cá sấu mõm dao (gavial. Tomistoma schlegli) là buya jolong-jolong. Jolong là dao long.Cá sấu mõm dao  thần thoại hóa thành dao (Giao) long. Loa2ii cá sấu này có trên trống Hòa Bình.

7. Kỳ Đà Nước Monitor.

Sarawak có một giống kỳ đà sống được dưới nước (water-lizard, Varanus salvator) gọi là kỳ đà nước monitor.

clip_image045Kỳ đà monitor (ảnh của tác giả).

Loài này cũng có ở Đông Dương, Việt Nam. Ở đây không gặp chúng nhưng chúng tôi đã thấy ở Vườn Lan Singapore.

Kỳ đà monitor họ hàng với Rồng Komodo ở đảo Komodo, Nam Dương.

clip_image047Rồng Komodo, Nam Dương.

Rồng komodo cũng thấy ghi khắc lại như một vật tổ trên trống đồng ví dụ thấy trên trống Sangeang Malakamau, Nam Dương:

clip_image049Rồng Komodo trên trống Sangeang Malakamau, Nam Dương.

(xem Trống Đống Nam Dương: Rồng Komodo).

và trên trống Lào U Bông hay trống Nen-xỏng.

Trống Đào Xá của Việt Nam có hình con thú giống rồng đất khủng long:

clip_image051Rồng đất dạng khủng long trên trống Đào Xá.

Có thể đây là dạng rồng đất thể điệu hóa, thần thoại hóa từ con thú chủ (host) là kỳ đà monitor hay rồng komodo.

Xin nhắc lại là tộc Ao Naga, một thứ Âu Long, Âu Lạc Việt ở Assam có vật tổ là thằn lằn, rắn nước và chim cắt như thấy qua nghệ thuật khắc gỗ:

clip_image002[1]

Điểm này cho thấy trống Đào Xá, Sangeang Malakamau, U Bông thuộc đại tộc Âu Lạc nhánh nọc âm thái dương. Bằng chứng thấy rõ nhất là trống có mặt trời nòng đĩa tròn với ánh sáng âm nòng vòng tròn.

8. Lợn Râu Xồm (beared pig).

clip_image033Lợn có râu quai nón (ảnh Thanh Mai Michelle Nguyễn).

Loài lợn này cũng có ở Đông Nam Á.

Heo cũng thấy trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn.

clip_image035Hình heo trên trống Cổ Loa I.

Lưu ý heo ở trong nhà nọc, mặt trời và quay mặt về phía tay phải, chiều dương nên là heo mang dương tính là heo nọc và có thể là heo có… râu !

9. Rắn Lục.

clip_image037Rắn Lục Asian pit viper (ảnh Thanh Mai Michelle Nguyễn).

Loài rắn này cũng có ở Việt Nam.

10. Hoa Rafflesia

Hoa Rafflesia là loài hoa của loài dây bò ký sinh, không có cọng, lá và rễ. Hoa được đặt tên theo Sir Thomas Stamford Raffles, trưởng phái đoàn thám hiểm rừng mưa Nam Dương của Tiến sĩ Joseph Arnold vào năm 1818 khi thấy loài hoa này.

clip_image052Hoa Rafflesia và nụ (nguồn: Wikipedia).

Đây là loài hoa lớn nhất thế giới, đường kính có thể hơn 100 cm và nặng tới 10kg. Hoa có mùi thịt luỗng thối, dân bản địa gọi là ‘hoa xác chết’. Mùi hôi thối quyến rũ ruồi để nhờ chúng giúp thụ phấn hoa. Tuy nhiên có giống có hoa lưỡng tính phái vừa đực vừa cái. Các loài vật ăn quả cũng có thể giúp phân tán hột đi khắp nơi. Hoa Rafflesia là hoa quốc biểu của Indonesia gọi là Puspa langka (Hoa Hiếm Thấy) or Padma Raksasa (Hoa Khổng Lồ), của Sabah thuộc Mã Lai và của tỉnh Surat Thani, Thái Land.

Ở đây, muốn xem loài hoa Rafflesia lớn nhất thế gới phải tìm đến Công Viên Quốc Gia Gunung Gading.

……

Rừng mưa nhiệt đới Borneo có hệ sinh thái còn mang những chứng tích sinh học, muông thú cây cỏ giống Việt Nam. Sarawak, Đất Chim Việt.

Borneo thuộc vùng Sundaland, nơi được cho là cái nôi của nền văn minh huy hoàng của loài người. Hiển nhiên cho thấy Việt Nam là một phần của chiếc nôi văn minh loài người này. Bằng chứng của nền văn minh này còn ghi lại trên trống đồng của đại tộc Đông Sơn.

(xem bài viết Lạc Việt Hải Đảo Dayak, Borneo trong số tới).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: