TÊN NÔM NA MÁCH QUÉ CỦA 12 CON GIÁP: DẬU LÀ DIỀU (CHIM).

DẬU LÀ DIỀU (CHIM).

TÊN NÔM NA MÁCH QUÉ CỦA 12 CON GIÁP.

Nguyễn Xuân Quang

Trước thềm năm mới xin gởi tấm Thiệp Xuân Gà Đông Sơn.

CHÚC MỪNG XUÂN ĐINH DẬU 2017.

Cầu Chúc Quí Độc Giả và Thân Hữu Một Năm Đinh Dậu AN VUI.

clip_image002

Hình gà có từ chấm-vòng tròn clip_image004 có một nghĩa mặt trời trên mái một ngôi nhà nòng, không gian trên trống Hoàng Hạ.

Hình Đôi Gà Mặt Trời Viêm Việt Hôn Hít Yêu Thương Nhau khắc cách đây hàng ngàn năm trên trống Hoàng Hạ của một tác giả Đông Sơn.

Nguyễn Xuân Quang

*              *

*

Xuân lại về, chúng ta lại tìm hiểu tên con Dậu của năm Đinh Dậu năm nay. Trong các bài viết trước đây, chúng ta đã biết tên 12 con giáp không phải là do người Trung Hoa phát kiến ra. Chúng ta là Việt Mặt trời rạng ngời, có một nền văn minh Hừng Việt chói chang, dựa trên nòng nọc, âm dương, Chim-Rắn, Tiên Rồng, Việt Dịch Nòng Nọc, thờ Vũ Trụ, thờ Mặt Trời còn ghi khắc lại trong sử đồng Đông Sơn, có nền văn minh sông biển giỏi về thủy vận nên rất rành về niên lịch, năm tháng, thiên văn. Cổ sử đã ghi Việt Thường đã có Việt Dịch nòng nọc ghi trên lưng rùa về thời Đạo Đường, vua nhà Chu sai chép lại gọi là lịch rùa. Vì thế người Việt cổ có niên lịch, năm tháng mang tên bằng tiếng Việt là một chuyện có thật. Thật vậy, tác giả Bùi Huy Hồng trong bài “Mấy Nét Về Thiên Văn Học Thời Hùng Vương” đã viết “Ở Cam-pu-chia còn lưu lại đến ngày nay một cuốn lịch cổ nhất là lịch Bầu Ràn (634 AD) dùng 12 tên con giống tiếng Việt và tiếng Mường…” (Hùng Vương Dựng Nước, 1972, t. III, tr. 299).

Nếu tên 12 con giáp này của Việt Nam thì chúng bắt buộc phải có nghĩa thuần Việt, nghĩa là phải hiểu theo kiểu nôm na mách qué của những người Việt dân dã chứ không phải hiểu theo nghĩa bác học. Để chứng minh tên của 12 con giáp đều là tên thuần Việt, có nguồn gốc Việt Nam, ta không phải chỉ dựa vào Hán ngữ, mà ta phải dựa vào tất cả ngôn ngữ loài người trong đó có Ấn Âu ngữ (Anh, Pháp ngữ…) vốn ruột thịt với các từ thuần Việt.

Qua các bài viết vào những mùa xuân trước đây, chúng ta đã biết:

.Hợi là con heo, lợn

Hợi, heo là con hoi, con oi; lợn là con lờn. Việt ngữ lợn biến âm với lờn, nhờn liên hệ với nhớt, dầu, mỡ.

Hợi là con heo, con hoi, con huile, con oi, con oil, là con lợn, con lờn, con nhờn…

.là con chuột.

Tí là tí ti, nhỏ, bé, lắt, nhắt, Tí là con bé tí, con tí, con chút, con chuột, con lắt, con lẻ. Con tí là con tiny… (theo r=l, con lắt = con rat). Mường ngữ rề là con chuột = Anh ngữ rat, chuột, Rề = lẻ, lẽ (tiền lẻ là tiền nhỏ; vợ lẽ là vợ bé, vợ nhỏ).

.Sửu là con trâu.

Sửu liên hệ với Việt ngữ sẩu là sừng (xin khúc đầu những xương cùng sẩu…), sậu (cứng), cứng liên hệ với sừng (c=s). Con trâu là con châu, con sẩu, sậu con sừng (ch =s như chữa = sửa). Trâu là con có sừng ở đầm ao nước.

Con trâu là con châu con câu con cow (nghĩa lệch) giống như buffalo (trâu) có bu- = bò.

Sửu, trâu là con sẩu, con sậu, con sừng.

.Dần là con cọp.

Dần biến âm với dằn, vằn. Con Dần là con dằn, con vằn. Con cọp có lông vằn. Tôm vằn gọi là tôm cọp… Tiger có ti- biến âm với “tie” (dải, đai, cà vạt) liên hệ với Việt ngữ tau, tao (dải, dây, tua), đai (dải dây cột), Pháp ngữ tigre có ti- biến âm với ty, tơ (dải dây)… Tiger, tigre là con dây, con vằn, con dần.

.Mão, mẹo là mèo.

Mão, mẹo biến âm với Việt ngữ mấu, bấu, vấu, với Anh ngữ maul (cào xé bằng móng vuốt). Con mão, con mẹo, con mèo là con mấu, con maul, con cấu, con quào:

        Tuổi mẹo là con mèo ngao,

        Hay cấu hay quào, ăn vụng quá tinh

(vè)

Con mão là con mấu, con mâu, con maul…

.Thìn:

Thìn biến âm với thắn, Mường ngữ có nghĩa là con rắn, với thận (con rắn nước lớn, con trăn nước anaconda). Con Thìn là con thắn (rắn), con thận là con rắn nước lớn, con trăn nước (anaconda), con thằn (có gốc thằn lằn, cá sấu), thìu (rắn nước), con thuồng (luồng)…

.Tỵ

Tỵ là con ty, con tơ, con tie/tai/ (Anh ngữ), con dải, con rắn.

.Ngọ

Con ngọ là con nguậy, con chậy.

.Mùi

Con Mùi là con Mũi nhọn, sừng nhọn. Con Mùi là con có sừng nhọn, mũi nhọn. Mũi là một tính đặc thù của Mùi Dê. Tên của Mùi phải được đặt theo đặc tính của con vật và phải có nghĩa nôm na và phát từ một gốc nôm na. Con Mùì là con Sừng Nhọn, Cọc Nhọn là con Cược, Con Cặc, con Mùi là con Bùi, con Bòi, con Buồi… mang tính sinh tạo, mắn sinh.

.Thân

Thân là Dộc là Vọc.

DẬU

Bây giờ ta đi tìm nguồn cội nôm na của Dậu.

Dậu là chi thứ 10 trong 12 địa chi chỉ năm Gà. Từ hàng ngàn năm nay cho tới bây giờ, các học giả và quần chúng khắp nơi vẫn cho rằng Dậu liên hệ với Rượu vì dựa vào mặt Hán ngữ Dậu酉 có hình bình đựng rươu. Riêng tôi, tôi không tin là Dậu Gà có nghĩa Rượu hay liên hệ với Rượu chỉ vì dựa vào hình tượng bình chứa rượu.

Nguồn cội nôm na mách qué của Dậu trong Việt ngữ sẽ cho biết sự thật ra sao.

Trước hết hãy tìm hiểu về gà.

A. Gà nghĩa là gì?

Để so sánh Dậu với gà ta hãy tìm hiểu nghĩa của từ gà là gì và Dậu là gì?

1. Gà thuộc loài chim biểu tượng mặt trời.

Gà là một loài chim như thấy rõ qua từ cúm gà Anh ngữ gọi là bird flu. Hán tự 雞 kê, gà viết với bộ chuy, chim đuôi ngắn.

Theo duy dương gọi theo mỏ nhọn, cứng sắc như rìu, búa (búa chim), chim có một nghĩa là vật nhọn (kim, nọc, cọc, búa, rìu…). Việt ngữ có từ đôi chim chóc. Theo qui luật từ đôi đồng nghĩa của Nguyễn Xuân Quang (Tiếng Việt Huyền Diệu), ta có chim = chóc. Tày-Thái ngữ chốc là chim. Với h câm, ta có chim = chóc = cóc = cọc. Thái Lan ngữ nok là chim. Nok ruột thịt với Việt ngữ nọc.

Vật nhọn biểu tượng cho mặt trời (xem Chữ Nọc Que trong các bài viết về Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que). Như thế gà (nhìn qua gà trống) là loài chim mang dương tính nọc, cọc vì có mỏ và cựa nhọn sắc có một khuôn mặt biểu tượng mặt trời.

Thật vậy:

.Gà là loài chim cùng họ chim trĩ. Chim trĩ thần thoại hóa thành chim phượng, chim phụng (chim lửa. Phượng, phụng biến âm với phỏng, fire) có một khuôn mặt biểu tượng cho mặt trời. Rõ như ban ngày gà có một khuôn mặt biểu tượng mặt trời.

.Gà sống nhiều trên mặt đất nên là lửa thế gian, mặt trời thế gian (trong thái dương hệ). Khuôn mặt này thấy rõ qua con Gà trong trò chơi Bầu Cua Cá Cọc, một thứ Việt Dịch thế gian tôi gọi là Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc (xem Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc). Tôi đã thiết kế trò chơi này theo Việt dịch thế gian để giúp hiểu và học dịch cũng như truyền thuyết và cổ sử Việt.

clip_image006Bàn Bầu Cua do tác giả thiết kế theo Việt dịch thế gian, phác họa của họa sĩ Khánh Trường.

Trên bàn Bầu Cua, Gà biểu tượng cho cực dương, nọc, lửa, mặt trời cõi thế gian đội lốt chim cắt, chim rìu (hornbill), chim Việt, chim biểu của thần mặt trời Viêm Đế cõi tạo hóa ứng với Càn ở cõi tạo hóa.

clip_image008Ba khuôn mặt của gà trên bàn Bầu Cua do tôi thiết kế.

Hình gà có ba khuôn mặt: gà ở giữa quay mặt về phía tay phải, chiều dương diễn tả tính nọc, lửa, mặt trời cho biết thuộc ngành lửa thái dương, mặt trời.

clip_image009Gà Viêm Đế thế gian.

Trên người gà có đĩa thái cực nòng nọc (âm dương) cho biết mang tính tạo hóa, sinh tạo, nhìn theo diện nhất thể là thái cực. Đây là con gà tạo hóa thế gian đội lốt chim Rìu Viêm Đế nhất thể.

Nhìn theo diện lưỡng cực là lưỡng nghi. Nửa phía đầu mầu đỏ là phần thái dương, lửa trời ứng với phần lửa thái dương Viêm của Viêm Đế, diễn tả bằng con gà đang bay mầu đỏ ở trên, trên người có nửa đĩa thái cực hình dấu phẩy (comma) trắng, dương (dương I của dương I là thái dương II, có một khuôn mặt là nguyên thể của lửa thái dương Càn).

clip_image010Gà Viêm/Càn thế gian.

Đây là con gà Viêm/Càn bầu trời thế gian.

Nửa phần đuôi mầu vàng là đất dương, lửa thiếu dương Li (mầu vàng là mầu hoàng thổ) diễn tả bằng con gà mầu vàng đứng trên mặt đất, trên người có nửa đĩa thái cực hình dấu phẩy (comma) đen, âm (âm O của dương I là thiếu dương OI, có một khuôn mặt là nguyên thể của đất thiếu dương Li).

clip_image011Gà Đế/Li đất thế gian.

Đây là con gà Đế/Li thế gian.

Như thế Gà đội lốt thần mặt trời Viêm Đế Càn đối cực nòng nọc (âm dương) với Tôm (biểu tượng cho nòng, nước, mặt trăng) đội lốt thần không gian Thần Nông Khôn. Lưỡng nghi Gà Tôm sinh ra bốn vật còn lại ứng với tứ tượng: Viêm Đế sinh ra Viêm thái dương Càn Bầu đỏ (lửa bầu trời, bầu vũ trụ) ứng với Đế Minh và Đế thiếu dương Li con Cọc (Hươu Sừng) ứng với Kì Dương Vương. Thần Nông sinh ra Thần thái âm Chấn Cá Chép ứng với Lạc Long Quân và Nông thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió Cua ứng với Tổ Hùng thế gian.

Như vậy Gà trong 12 con giáp có một khuôn mặt mặt trời mang tính vũ trụ tạo sinh, dịch học như thấy rõ trong trò chơi Bầu Cua, một thứ Việt dịch thế gian và dĩ nhiên cả trong lịch học, thiên văn học về phía nọc, dương, lửa, mặt trời. Vì vậy gà có mặt trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn, trống biểu của ngành trống (nọc, đực, dương, mặt trời của Người Việt Mặt Trời) diễn tả vũ trụ thuyết, dịch lý. Ví dụ hình gà trên trống Hoàng Hạ:

clip_image002[1]Hình gà mặt trời trên mái một ngôi nhà nòng, không gian trên trống Hoàng Hạ.

Từ nòng nọc vòng tròn-que chấm-vòng tròn clip_image012 trên người gà có một nghĩa là mặt trời sinh tạo, ngành mặt trời thái dương sinh tạo. Từ mặt trời clip_image012[1] cũng xác thực gà là chim biểu tượng mặt trời, thuộc ngành mặt trời thái dương.

Garuda là một con chim thần thoại của Ấn giáo và Phật giáo. Chim diều (kite) loài Brahminy và phượng hoàng được cho là có khuôn mặt tương đương với Garuda. Nam Dương lấy Garuda làm quốc biểu và diễn tả như loài chim ưng Java (Javanese eagle). Vì vậy Phạn ngữ garuda cũng có nghĩa là chim ưng.

Chim ưng Garuda, chim diều (brahminy kite), chim phượng là chim biểu tượng mặt trời có ga- biến âm mẹ con với cho thấy gà có một khuôn mặt là chim biểu tượng mặt trời.

Nước France Pháp có quốc biểu là con gà trống.

Từ France thường cắt nghĩa là có gốc frank là free (tự do), ‘freemen’ có lẽ lấy theo tộc Franks thuộc đại tộc Germanic. Ngoài ra Franks, tự do, còn có thêm nghĩa chỉ tên phái nọc, đực, nam (Its origin is the Germanic word “frank” which means “free” and is also a male name). Nọc, đực, nam, dương thuộc ngành nọc mặt trời.

Nhưng theo tầm nguyên nghĩa ngữ tên Franks được cho là phát gốc từ gốc tái tạo Tiền-Germanic *frankon có nghĩa là ‘cây lao’ (The name of the Franks itself is said to come from the Proto-Germanic word *frankon which means “javelin, lance“) (nguồn: Wikipedia). Cây lao là vật nhọn, nọc biểu tượng cho đực, dương, mặt trời và cũng biểu tượng cho gà qué, gà que, gà cọc (xem dưới).

Dân Pháp tộc gốc Gaulois (Gaul) tiếng Latin Gallus cũng có một nghĩa là Gà.

Như thế ta thấy tên nước Pháp France hiểu theo tộc Franks có nghĩa là cây lao, vật nhọn và với nghĩa nọc, đực, dương (male) có một nghĩa biểu tượng cho Gà, loài chim biểu tượng mặt trời. Theo tộc Gaulois có một nghĩa Gà thì họ lấy Gà làm tộc biểu không có gì là nghịch lý cả. Cũng nên biết thời tiền sử dân Gaulois, Gaul, Gallus cũng theo thần giáo, bái giáo thờ thú vật. Theo Frey trong L’Annamite, Mère des Langues (Việt ngữ, Tiếng Mẹ của Ngôn Ngữ Loài Người) dân Pháp gốc Gaulois (Gaul) có gốc Ga- biến âm mẹ con với Gà nên mới có vật tổ là con gà là vậy!

Tóm lại quốc biểu Coq của nước France, của tộc Gaul, Gallus có một nghĩa là gà và của tộc Franks nghĩa là cây lao, đực, nọc có một nghĩa là mặt trời, gà và tự do thì phải mang một ý nghĩa cao đẹp của vật tổ là Con Gà Sống Mặt Trời, biểu trưng cho hùng tính, sức mạnh, dũng mãnh, cương cường, bất khuất của những con Người Tự Do.

Pháp ngữ cổ coc (chim đực), Pháp ngữ hiện kim coq, gà trống biến âm với Việt ngữ cọc, chóc (chim) có một khuôn mặt biểu tượng mặt trời.

Trong 12 con giáp, gà lửa, mặt trời đối ngược nòng nọc (âm dương) với Thìn, rắn, rồng nước, mặt trăng… Gà Dậu và rồng Thìn là hai con có thể bay. Đây là biểu tượng chim-rắn, nòng nọc (âm dương), càn khôn cõi trời thế gian. Như thế gà Dậu phải hiểu theo nghĩa vũ trụ tạo sinh, dịch, lịch sách, thiên văn học.

Tóm tắt lại gà cùng loài mãnh cầm với chim ưng, ó, diều, chim phượng là chim biểu tượng mặt trời mang nghĩa theo vũ trụ tạo sinh, dịch học.

2. Gà là con cọc, con nọc, con que (vật nhọn, sắc).

Gà là chim biểu tượng mặt trời mà mặt trời là nọc, đực, dương (xem Chữ và Từ Nọc Que trong tác phẩm Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que) nên gà có nghĩa là con cọc, con nọc, con que.

Thật vậy:

.Con cà.

Mường Việt cổ là gà.

Theo c=g như cài = gài, ta có cà = gà.

Cà là cây, cọc biến âm với ki là cây (Khả Lá Vàng, Bình Nguyên Lộc). Cà có nghĩa là que, cây như thấy qua từ cà kheo hay cà khêu. Kheo, khêu là biến âm của cao như cao lêu khêu. Với h câm, khêu = kêu = kều = cao. Qua từ đôi cao kều ta có cao = kều = khêu. Đi cà kheo là đi bằng hai cây gậy, cây nọc cao lêu khêu. Huỳnh Tịnh Paulus Của trong Đại Nam Quốc Âm Tự Vị: ‘đi cà khêu: dùng hai cây tre nhỏ tra cây ngang, kềm hai ngón chơn mà đi. Chính tiếng là cần khêu’. Ta thấy cần là khúc cây như cần câu. Cần khêu là khúc cây cao. Như vậy cà là giản lược của cần. Con cà là con cần, con cây, con ki, con kê. Cà là con cành, con can (Hán Việt: gậy), con canne (Pháp ngữ : gậy), con cane (Anh ngữ: gậy, cây: sugar cane, cây mía).

Suy ra gà cũng có nghĩa là cây. Gà ruột thịt với gậy.

.Gà qué.

Gà là con qué, con que.

Việt ngữ cũng có từ đôi gà qué và ta có gà = qué. Qué biến âm mẹ con với que, quẻ (que thăm). Theo qu = k = c như quẽo quẹt = kẽo kẹt, ta có qué, que, quẻ = kè (loài cây có thân thẳng như cây trụ không có cành nhánh, palm), kẻ (cây thẳng dùng làm thước kẻ), kì, ki…

Con qué là con que (con nọc, con cọc) con ke, con kè, con kê, con cà, con gà.

Như đã nói ở trên, Anh ngữ cock, Pháp ngữ coq, gà trống biến âm với Việt ngữ cọc, chóc.

.Kê

Hán Việt kê là gà.

Mường ngữ cà (gà) biến âm với Hán Việt kê (gà). Ta có cà = kê (chuyện cà kê, Ai về nhắn nhủ mi ra, Để mi lại kể con cà con kê).

Cà, kê biến âm với kẻ, kè, ke, que, qué có nghĩa như trên. Theo Nguyễn Cung Thông, Cà, kê biến âm với ‘tiếng proto-Min (tiền Mân) hay Mân Cổ là *kei, một tiếng địa phương thời Hán là *ke (theo Phương Ngôn), tiếng Thái Cổ (proto-Tai) là *kơiB1, tiếng Kadai Cổ là *ki, tiếng Miao-Yao Cổ (proto-Miau-Yao) là *kai, một dạng tiếng Việt Cổ là *r-ka …v.v… (http://newvietart.com/NGUYENCUNGTHONG).

.Cổ ngữ Kadai *ki, gà là con ke, que, con cây, con cọc. Thái ngữ hiện kim gai (tom yum gai, canh cay chua gà Thái Lan). Gai = Việt ngữ gai (thorn) là vật nhọn (Hồng nào mà chẳng có gai).

Vân vân…

3. Gà chỉ bộ phận sinh dục nam.

Như vừa nói ở trên, gà có nghĩa là một loài chim mang dương tính (gọi theo con nọc, con đực, gà trống), vật nhọn (nọc, cọc, que…). Như thế gà có nghĩa chỉ bộ phận sinh dục nam có nghĩa gốc là vật nhọn, nọc (nòng nọc), nõ, cọc nhọn như đóng nõ mít (nõ nường). Thật vậy:

-Gà là một loài chim. Chim có một khuôn mặt chỉ bộ phận sinh dục nam như chim và bướm, teo chim. Thái Lan nok (chim) là nọc, là cọc chỉ bộ phận sinh dục nam: ‘Quân tử có thương thì dóng cọc’ hay ‘Cọc nhổ đi rồi lỗ bỏ không’. Cọc biến âm với cược (đặt cọc = đặc cược), với cặc. Thổ dân Nhật Bản Ainu (Hà Di) ngữ: từ chikap (a bird of any kind) = chim và chikap cũng dùng như một tiếng lóng chỉ bộ phận sinh dục nam. Từ chi hay chiye dùng chỉ chung bộ phận sinh dục cả hai phái giống hệt như từ ke của cổ Việt ghi trong Từ Điển Việt Bồ La của Alexandre de Rhodes). Theo duy dương chi trong chikap, chim ruột thịt với ki, kẻ, kè, que…

-Con gà là con qué, con que, con ke… Như vừa nói, ke có nghĩa là bộ phận sinh dục nam. Qué là que, là cọc là cược, là cặc. Việt ngữ có từ mách qué như nôm na mách qué. Mách là nói như mách mẹ, mách lẻo, thóc mách…. Mách qué là nói que, nói ke, nói tục, nói đục, nói đọc, nói nọc (đọc ong = nọc ong), nói cọc, nói cược, nói cặc.

-Con cà là con ke.

Qua từ đôi cà kê ta có cà = kê = ke (bộ phận sinh dục nam).

-Con kê là con ke.

-Anh ngữ cock (chim trống), Anh ngữ cổ cocc, Pháp ngữ cổ coc (chim đực), Pháp ngữ hiện kim coq, được cho là có gốc là những tiếng tượng thanh liên hệ với cock-a-doodle-doo, Pháp ngữ cocorio, Đức kikeriki, Latin cucurire, Việt Nam cúc cu, Ả Rập ko-ko ( tiếng gà gáy).

Về sau cock cũng dùng chỉ bộ phận sinh dục nam. Với nghĩa này cocc, coc, coq, cock biến âm với Việt ngữ cọc, cược, cặc.

-Phạn ngữ kukuta, gà trống. Con kukuta có ku- = cu (thằng cu, cái hĩm). Maya ngữ ku-, chim như kukulcan chim-rắn (hiện nay gọi là rắn-lông chim) (Xem Tương Đồng với Maya).

-Ấn Âu ngữ.

Họ gà gallinaceous, Latin gallus ‘cock’ và cũng dùng để đặt tên con trai, thằng cu… Gallus biến âm mẹ con với gal, gã, thanh nam, ga- biến âm với gã, gạc (sừng, vật nhọn, đực như hươu gạc), Phạn ngữ garçon, con trai…

….

Như thế nghĩa chính của từ gà (lấy theo nghĩa con gà trống), là loài chim mang dương tính, là vật nhọn, mặt trờibộ phận sinh dục nam.

Vậy thì từ Dậu chỉ năm Gà bắt buộc phải có nghĩa gốc chính nguyên thủy là Chim, Vật Nhọn Sắc (như cọc, nọc, que nhọn, dao, giáo, gươm, đao, lao, rìu, búa…), mặt trời và Bộ Phận Sinh Dục Nam. Bắt buộc. Bắt buộc. Và bắt buộc. Còn tất cả các nghĩa khác của từ Dậu dùng chỉ năm con Gà chỉ là nghĩa phụ, nghĩa suy diễn hay nghĩa lệch lạc có muộn về sau mà thôi.

B. Dậu nghĩa là gì ?

1. Dậu nghĩa là vật nhọn.

Việt ngữ dậu còn gọi là rào (dào) có nghĩa là những cọc nhọn, cây làm thành hàng nên gọi là hàng dậu, hàng rào vây quanh nhà. Dậu = Rào.

Rào có nghĩa là cây, cọc nhọn thấy rõ qua từ rào rạo biến âm của rào trong Đại Nam Quốc Âm Tự Vị, Huỳnh Tịnh Paulus Của: ‘Rào: cây nọc trồng giăng mà ngăn chung quanh nhà đất’.

‘Rạo:cây trồng có hàng để mà đóng đáy dùng chận đường cá đi’.

Theo d=n như dăm = năm; dòm = nom; dày = này (từ dày về sau = từ nay về sau), ta có dậu = nau. Thổ dân Nhật Bản Ainu ngữ inau là cây nêu, cây nọc thờ. Theo ê = a như đề = đa, ta có (dậu =) nau = nêu. Nguyên thủy nêu cũng chỉ là một khúc cây, cây nọc, cây cọc:

Neo thuyền giặt lưới, giăng bè dựng nêu

(Nhị Độ Mai câu 1512)

Dựng nêu ở đây chỉ giản dị là dựng những cây nọc, cây cọc, cây cột để giăng bè, không dính dáng gì đến thần linh, ma quỉ.

Theo êu=ao (nghêu = ngao), nêu biến âm với nao, lao (lance) tức cọc nhọn: nêu = nao, lao.

Cổ ngữ Việt và một vài ngôn ngữ của các sắc tộc liên hệ với Việt ngữ từ rào cũng chỉ một loại dụng cụ như là rao (dao), rựa, rìu tức vật nhọn.

Dậu, dào, rào có nghĩa là vật nhọn cũng thấy rõ qua Anh ngữ fence có nghĩa là dậu, rào và cũng có nghĩa đánh nhau bằng kiếm (vật nhọn) (mid-15c. as “protect with a hedge or fence;” from fence (n.). From 1590s as “fight with swords,” from the noun in this sense (1530s); fencing có một nghĩa là nghệ thuật dùng kiếm để tấn công và phòng thủ (“art of using a sword in attack and defense”), dựng hàng rào (“putting up of fences” ); vật dụng dùng quây kín lại (làm vòng rào) (“materials for an enclosure“) (Online Etymology Dictionary).

Với nghĩa vật liệu làm hàng rào này cùng nghĩa với Việt ngữ rào, rạo như đã nói ở trên, cho thấy Dậu, Dào cũng hàm nghĩa chỉ vật nhọn sắc như cọc nhọn, dao, kiếm, lao, rìu… (dùng làm hàng dậu, hàng rào).

Hàng dậu, hàng rào cũng biến âm với Phạn ngữ

दत्तांशप्रवाहचित्र dhArA f. fence or hedge of a garden
(Sanskrit Dictionary for Spoken Sanskrit).

Ta thấy dào biến âm với dhara.

Ở chỗ khác, ta cũng thấy dhaaraa có nghĩa là dao, kiếm và dậu, rào: ‘sharp edge, rim, blade (esp. of a sword, knife) và the fence or hedge of a garden’ (http://dictionary.tamilcube.com/sanskrit-dictionary.aspx).

Xin nói thêm một chút ở đây, ta thấy Việt ngữ Dậu, dào có nghĩa là hàng dậu, hàng rào (fence), vật nhọn như dao (knife) ruột thịt với Phạn ngữ dhara có nghĩa là knife, fence và với Anh ngữ fence có nghĩa là hedge và sword. Vì thế ta không thể chỉ tìm tầm nguyên ngữ từ Dậu qua Hán ngữ và các nhóm ngôn ngữ cùng tộc với Việt ngữ. Một lần nữa cũng cho thấy có sự liên hệ mật thiết giữa Việt ngữ và Ấn-Âu ngữ (xem loạt bài Sự Liên Hệ Giữa Việt Ngữ và Ấn-Âu Ngữ).

Theo d= l như dần dần = lần lần, Dậu, Dào, Dao biến âm ruột thịt với lao (lance), một thứ cọc nhọn, cây nhọn dùng làm khí giới.

Như thế rõ như ban ngày, Dậu, dào, rào liên hệ với dao, lao, rào, rìu là chuyện hữu lý vì dậu, rào làm bằng cọc, cây nhọn và như đã nói ở trên. Dậu, dào cũng hàm nghĩa chỉ các vật nhọn dùng làm dậu, rào.

Tóm tắt: DẬU = RÀO (fence) = RÀO (knife, axe) = NÊU = NỌC, CỌC = VẬT NHỌN.

Con DẬU là con NAU, con NÊU, con NỌC, con CỌC.

2. Dậu với nghĩa bộ phận sinh dục nam, mặt trời.

Dậu, rào là nọc, cọc nhọn, là cây nhọn hiển nhiên có một nghĩa bộ phận sinh dục nam (Ý Nghĩa Các Từ Thô Tục Trong Việt Ngữ). Nọc, cọc, vật nhọn biểu tượng cho đực, dương, mặt trời (Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que, Chữ, Từ Nọc). Vật nhọn như rìu, tên, lao biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam và mặt trời thấy rõ qua các ví dụ sau đây:

.Người Việt mặt trời trên Bãi Đá Cổ Sapa, Bắc Việt Nam.

clip_image014Người hay thần mặt trời ở Bãi Đá Cổ Sapa, Bắc Việt Nam có dương vật hình rìu Việt. Đây là Người Việt Mặt Trời Thái Dương (Việt Là Gì?).

.Người mặt trời Lạc Việt Tráng Zhuang.

clip_image016Người Lạc Việt Tráng Zhuang mặt trời có dương vật cương cứng hình mũi lao, đeo rìu Việt đứng bên mặt trời, hình vẽ trên vách đá núi Hoa Sơn, Quảng Tây (ảnh của tác giả).

.Người mặt trời tiền sử khắc trên đá ở Vitlycke, Bohuslan, Thụy Điển.

clip_image017Người mặt trời cầm hay đeo rìu khắc trên đá ở Vitlycke, Bohuslan, Thụy Điển diễn có dương vật cương cứng (H.R. Ellis Davidson, p.62-63).

. Người Bắn Cung.

clip_image019Người Bắn Cung ở Núi Âm Sơn, Trung Quốc có dương vật mũi tên.

.Người mặt trời ở núi Alp thuộc Ý.

clip_image021Người mặt trời ở núi Alp thuộc Ý có dương vật hình mặt trời (vòng đĩa tròn có dấu cộng tức dấu dương diễn tả mặt trời) cầm biểu tượng cây lao.

Như thế Dậu, rào là vật nhọn có một khuôn mặt biểu tượng nọc, cọc, bộ phận sinh dục nam, mặt trời.

Mặt khác ta cũng thấy Dậu là Dào, là Dao, vật sắc nhọn. Dậu là Rào. Rào biến âm với Rào, Rìu, vật nhọn. Dao, rìu cũng biểu tượng mặt trời như Người Việt là Người “Rìu”, Người Mặt Trời, chim Rìu, chim Cắt (hornbill) là chim biểu Mặt Trời Viêm Đế.

Ta có:

DẬU = RÀO = NÊU, NỌC, CỌC = DAO, RÀO, RÌU = VẬT NHỌN, SẮC = MẶT TRỜI.

3. Dậu là Chim Mặt Trời.

Ta cũng thấy Dậu biến âm với diều (chim, kite).

Theo au = iêu [như cầu = kiều; câu = Hán Việt điếu (câu cá); từ đôi điêu đầu: điêu = đầu (cái điêu, cái đầu của quân lính đúc bằng đồng thau, ban ngày đề nấu cơm, ban đêm thì gõ mà canh…) (Huỳnh Tịnh Paulus Của, Đại Nam Quốc Âm Tự Vị)]…, ta có Dậu = diều.

Diều chỉ các loài chim dũng mãnh (mãnh cầm) có mỏ lớn, mạnh, móng vuốt sắc. Ta đã biết Dậu, rào là vật nhọn, dao rìu. Như thế chim Diều là loài chim có mỏ, móng vuốt nhọn sắc như dìu, như búa (búa chim) như mỏ cắt (chim rìu, hornbill), diều hâu, ưng, ó. Những loài chim này có một khuôn mặt biểu tượng cho mặt trời.

Như thế Dậu là loài chim Diều có mỏ và cựa nhọn sắc như dao như rìu biểu tượng mặt trời.

Ta có:

DẬU = RÀO = NÊU, NỌC = DAO, RÀO, RÌU = VẬT NHỌN, SẮC = MẶT TRỜI = DIỀU, CHIM MẶT TRỜI.

4. Dậu là Gà, loài chim Diều mặt trời.

Như đã biết qua Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc, Gà là chim biểu của mặt trời thế gian, hình ảnh hay đội lốt chim Rìu biểu tượng thần mặt trời Viêm Đế. Gà biến âm với Garuda. Garuda có những khuôn mặt chim ưng chim diều (brahminy kite) và phượng cũng là những loài chim biểu tượng mặt trời.

Như thế Gà trống có mỏ to, mạnh và cựa sắc mang dương tính, rõ như dưới ánh sáng mặt trời là chim biểu mặt trời. Gà đội lốt chim rìu mỏ cắt mặt trời Viêm hiển nhiên ruột thịt với Dậu Diều thuộc họ chim Rìu mặt trời. Gà là loài chim Diều biểu tượng mặt trời. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, Gà và diều có một nghĩa rìu, chim biểu mặt trời thuộc ngành chim Rìu, chim cắt, chim Việt, chim biểu của thần mặt trời Viêm Đế.

Ở đây ta thấy rõ Dậu Diều Gà là của Người Rìu-Việt, của chủng Bách Việt, Người Mặt Trời dòng mặt trời Viêm Đế. Tổ phụ cõi sinh tạo thế gian Đế Minh của Việt Nam là cháu ba đời thần mặt trời Viêm Đế.

Ta có:

DẬU = RÀO = NÊU, NỌC, CỌC = DAO, RÀO, RÌU = VẬT NHỌN, SẮC = MẶT TRỜI = DIỀU, CHIM MẶT TRỜI = GÀ.

Như vậy tóm gọn lại, rõ như dưới ánh sáng mặt trời, Dậu với nghĩa rào (fence), vật nhọn, mặt trời, chim mặt trời giống hệt như các ý nghĩa của Gà. Dậu hiển nhiên có một nghĩa là Gà thuộc loài chim Diều mặt trời. Dậu là Diều Gà.

5. Tại sao Dậu Gà Chim Diều Mặt Trời dòng Chim Rìu, Chim Việt lại biến thành Dậu Gà Rượu?

Như vừa thấy ở trên, Dậu là Diều Gà.

Dậu không thể là rượu vì những lý lẽ sau đây:

-Nghĩa chính của Dậu năm Gà là vật nhọn, bộ phận sinh dục nam, mặt trời liên hệ ruột thịt với gà qué, với cọc, cược… Còn nghĩa rượu không thích hợp với gà ngoại trừ gà dùng làm món nhắm rượu.

Dậu không thể là rượu.

-Như đã nói ở trên, trong 12 con giáp, gà lửa, mặt trời đối ngược nòng nọc (âm dương) với Thìn, rắn, nước, mặt trăng… Gà Dậu và rồng Thìn là hai con biết bay. Đây là biểu tượng chim-rắn, nòng nọc (âm dương), càn khôn cõi trời. Như thế gà Dậu phải hiểu theo nghĩa vũ trụ tạo sinh, dịch, lịch sách, thiên văn học. Gà phải hiểu theo nghĩa Việt dịch trên bàn Bầu Cua hơn là rượu.

Dậu không thể là rượu.

-Việt ngữ rượu có những biến âm riệu, diệu (con gái diệu). Như đã nói ở trên Dậu có biến âm với Diều như thế Dậu cũng biến âm với Diệu, Rượu gần như cùng âm với nhau. Một vài vùng miền Bắc Việt Nam vẫn nói rượu là diệu (con gái diệu) và chắc chắn một số các tộc trong Bách Việt cũ cũng phát âm Dậu chỉ năm gà là Diệu. Dậu biến âm với Diệu rượu cũng thấy qua Mường, Việt ngữ Rào (fence) biến âm mẹ con với Mường ngữ Rão là rượu. Rõ như ban ngày Dậu biến âm với Diệu rượu và Rào biến âm với rão riệu, rượu. Ta có Rào = rão = riệu = diệu = Dậu.

Ở đây có một sự lấy lầm nghĩa của những từ đồng âm dị nghĩa. Lấy nghĩa râu ông nọ cắm cầm bà bia.

Người Hoa Hạ khi tiếp xúc với Bách Việt đã nhầm lẫn Dậu Diều, gà với Diệu rượu. Khi lấy 12 con giáp của Bách Việt, họ dựa theo cách chỉ lấy âm để phiên âm tạo ra từ Dậu và đã lấy lầm nghĩa, đã biến chữ Dậu diều, gà của Bách Việt thành Dậu diệu, rượu nên viết chữ Dậu hình bình rượu. Hay họ không hiểu ý nghĩa gốc của từ Việt Dậu hoặc họ hiểu nhưng cố ý nói trại đi, sửa lại khác đi cho hợp với văn hóa du mục võ biền của họ. Ví dụ như họ biến con Sửu Trâu thành con Bò đực, sống ở vùng đất khô du mục và con mèo thành con thỏ, con thú họ thường đi săn bắn làm thực phẩm.

Đây chứng tỏ họ ‘thuổng’ con giáp Dậu Gà của Việt Nam nói riêng, của Bách Việt nói chung. Họ biết Dậu chim Diều là chim biểu mặt trời thuộc ngành chim Rìu mỏ cắt, chim biểu của thần mặt trời Viêm Đế của Viêm Việt nên để phi tang, họ biến Dậu Gà chim diều mặt trời, chim Việt thành Dậu Gà rượu.

Tuy nhiên tang chứng, bằng chứng họ lấy Dậu gà của Bách Việt vẫn còn rành rành qua các dạng cổ của chữ Dậu trên giáp văn.

clip_image023Chữ Dậu yõu dạng cổ.

Chữ Dậu được cho rằng là tượng hình bình chứa rượu. Quan thoại Bắc Kinh phát âm yõu, Quảng Đông jau. Nhìn chữ Dậu trên giáp văn có đáy là một mũi nhọn như từ nọc mũi mác:

clip_image024Dậu (nguồn: Wang Hongyuan, The Origins of Chinese Characters, Sinolingua, Beijing, 1993).

trông giống một chiếc rìu nhọn.

clip_image026Một chiếc rìu của đại tộc Đông Sơn.

Dậu mang hình ảnh một chiếc rìu, một vật nhọn hơn là cái bình. Điểm này ăn khớp trăm phần trăm với những điều đã nói ở trên. Việt ngữ Dậu, Dào (rào) (fence), vật nhọn cùng âm với rào (rìu), biến âm với Dao, vật nhọn. Phạn ngữ dhaara biến âm với Việt ngữ dào (dậu) fence, có nghĩa là dào (fence) và dao (knife), vật nhọn. Anh ngữ fence có nghĩa là dào (dậu, vật nhọn) và sword (kiếm), vật nhọn, sắc.

Dậu, dào (nọc nhọn) biến âm với rào (rìu), Dìu (rìu, vật nhọn).

Con Dậu là con Dào, con dao, con DÌU (rìu). Con Dậu là con rào, con RÌU như thấy ở các dạng chữ Dậu giáp văn cổ ở đây.

Dậu hình rìu thấy rõ hơn qua từ qíu (tù), tù trưởng.

clip_image027Hán ngữ Qíu (tù), tù trưởng.

Trong giáp văn, qíu có hình được cho là cái bình rượu với nắp có lỗ để lọc cặn từ men rượu.

Tôi thấy hình clip_image028 với đầu nhọn mũi mác là một thứ rìu. Phần trên nắp có trang trí có ba nọc que III, Càn, lửa thái dương, mặt trời. Rìu mặt trời là khí biểu (ceremonial weapon), rìu biểu tượng (symbolic axe), biểu trưng vương quyền (regalia) của tù trưởng, nhất là tù trưởng thuộc tộc Rìu-Việt, thích hợp hơn là bình rượu.

Chữ Dậu với đầu nhọn không thích hợp với bình đựng rượu vì không để bình đứng vững được, nhất là khi đã sứa rồi, bình lảo đảo không đứng vững được.

Những chữ Dậu đầu tròn thật ra trông giống như cây rìu hay chính là diễn tả nõ, dương vật.

clip_image029 clip_image031

Dậu trong kim văn trông giống rìu hay dương vật.

Như đã nói ở trên Dậu là Diều, loài mãnh cầm biểu tượng của mặt trời dòng chim Rìu, chim biểu của thần mặt trời Viêm Đế. Từ Dậu là của Bách Việt vì thế Dậu diễn tả bằng cây rìu, cây Việt là chuyện tất nhiên.

Ta có Dậu = diều = dìu (rìu). Ta có chim Diều biểu tượng mặt trời và dìu cũng biểu tượng mặt trời vì cùng gốc nọc, cọc.

Rìu,  vật nhọn cũng biểu tượng nọc, cọc, dương vật, mặt trời vì thế Dậu hình rìu dương vật cũng biểu tượng chim Diều mặt trời,

Ngoài ra bằng chứng trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn có những hình ngữ chữ nòng nọc vòng tròn-que có hình bầu rượu mà không có nghĩa là rượu. Ví dụ trên một trống Vân Nam thuộc địa bàn cũ Bách Việt, vùng tứ hành được diễn tả bằng các hình ‘bình rượu’:

clip_image032Vùng tứ hành được diễn tả bằng các hình thái bình rượu ở trên một trống Nam Trung Quốc (nguồn: A. J Kempers).

Phân tích hình thái ‘bình rượu’ này ta thấy bình có hình bầu nậm nòng nọc (âm dương) biến dạng. Bầu nậm diễn tả vũ trụ thuyết, dịch lý. Phần cổ là nọc và phần bầu là nòng. Ta có nòng nọc (âm dương), lửa nước nhìn dưới dạng nhất thể là thái cực. Nhìn dưới dạng phân cực là lưỡng nghi. Nhìn dưới diện tứ tượng ta có:

1. Nắp bình ứng với cổ bình hình chữ T do hai nọc que hợp lại có một nghĩa là lửa thái dương biểu tượng cực dương và tượng lửa thái dương Càn ở tầng tứ tượng.

2. Dưới chân chữ T là chữ Khảm clip_image033 có nghĩa là nước (ngày nay hiểu là vật đựng rộng miệng).

Vật đựng hình chữ Khảm này có một khuôn mặt biểu tượng cho cực âm và tượng nước thái âm ngành thái dương, Chấn (chữ U vuông góc là một dạng thái dương của nòng O).

3. Dưới hai chữ trên có một gạch ngang ở đáy bình hình nọc que có một khuôn mặt biểu tượng đất bằng thế gian ứng với tượng đất thế gian thiếu dương Li.

4. Bình hình khung hở do nòng O chuyển động mở ra mang dương tính có một khuôn mặt là Khôn dương, thiếu âm khí Gió. Bình hở biểu tượng cho gió, thiếu âm, Đoài vũ trụ khí gió.

Như thế vành hình thái ‘bình rượu’ diễn tả Càn Khôn, lưỡng nghi và tứ hành của thuyết vũ trụ tạo sinh, dịch học. Tuyệt nhiên không có nghĩa là rượu.

So sánh với chữ Dậu hình rìu ở đây clip_image034

ta cũng thấy: nhìn tổng quát bình có hình bầu nậm nòng nọc (âm dương) biến dạng như trên. Bầu diễn tả vũ trụ thuyết, dịch lý mặc dầu theo một cách khác đi.

Tương tự như trên phần cổ là nọc và phần bầu là nòng. Ta có nòng nọc (âm dương), lửa nước nhìn dưới dạng nhất thể là thái cực. Nhìn dưới dạng phân cực là lưỡng nghi. Nhìn dưới diện tứ tượng ta có:

a. Cổ hay nắp nọc, hình trụ hai nọc que như vừa nói ở tầng thái cực, lưỡng nghi diễn tả nọc, lửa. Ở đây tầng tứ tượng có một khuôn mặt lửa thái dương Càn.

b. Bình hình bầu kín, vật đựng chất lỏng như vừa nói ở tầng thái cực, lưỡng nghi diễn tả nòng, nước. Ở đây tầng tứ tượng có một khuôn mặt nước dương Chấn (lưu ý bầu hở biểu tượng cho gió thấy ở vành tứ hành trên trống đồng nòng nọc ở trên, ở đây bình kín biểu tượng cho nước).

c. Trụ hai nọc que trong bình (nối dài của cổ bình) cắm trên nét ngang mặt đất mang hình ảnh chữ thổ nguyên thủy biểu tượng cho tượng Đất dương Li.

clip_image036Chữ thổ trên giáp văn, kim văn, triện văn có hình trụ đá, hình trụ nọc cắm đứng trên mặt đất.

d. Vòng cung miệng bình biểu tượng gió dương Đoài vũ trụ khí gió.

Như thế bình Dậu diễn tả trọn vẹn vũ trụ tạo sinh, dịch học ăn khớp với chức vụ của Dậu gà trong vũ trụ tạo sinh, lịch sách, thiên văn học như đã nói ở trên.

Về ngôn ngữ học, Hán ngữ cổ khi còn ảnh hưởng của chữ nòng nọc vòng tròn-que có nhiều nét cong, tròn như thấy trong giáp văn. Đến thời nhà Chu theo duy dương phụ quyền cực đoan, chữ viết được chuyển qua dạng chữ mang dương tính có góc cạnh tức loại chữ vuông mà tác giả Nhạn Nam Phi Đỗ Ngọc Thành, một nhà nghiên cứu chữ nôm Bách Việt gọi là Chữ Vuông, Hán Việt Văn là biến âm của chữ nôm Vuông của Bách Việt. Ví dụ chữ nhật, mặt trời trên giáp văn là chữ nòng nọc vòng tròn-que hình chấm-vòng tròn clip_image037 (giống như từ mặt trời thấy trên người hai con gà Đông Sơn ở trên), sau này trở thành chữ nhật hiện kim có hình chữ nhật clip_image039.

clip_image040Tiến hóa của chữ nhật hình từ chấm vòng tròn clip_image037[1] thành hình chữ nhật clip_image041 ngày nay.

Chữ Dậu rìu, dương vật dạng bầu nậm nòng nọc (âm dương) khi chuyển sang dạng chữ triện biến thành dạng chữ vuông hình bình rượu đáy bằng.

.Hán ngữ Dậu hiện kim hình bình rượu nhưng không có bộ thủy nên chưa chắc là rượu. Vả lại những chi tiết chữ nòng nọc vòng tròn-que của bình diễn tả vũ trụ thuyết, dịch lý ăn khớp với Dậu gà trong 12 con giáp mang tính lịch sách, thiên văn như đã nói ở trên.

6. Từ Dậu Tái Tạo Bách Việt.

Theo tác giả Nguyễn Cung Thông: ‘Cũng nên nhắc lại ở đây là tác giả Paul Benedict trong cuốn “Austro-Thai-Language and Culture” (1975) đã lặp lại giả thuyết của GS Li Fang-Kuei về dạng âm cổ phục nguyên của Dậu là *raka hay *rôka … Sau khi so sánh các từ chỉ loài gà ở trong vùng Đông Nam Á và Thái, Benedict khẳng định rằng 12 con giáp có nguồn gốc từ một tiếng cổ nào đó ở miền Nam TQ hay Bắc Việt Nam.

Như vậy từ Dậu tái tạo Bách Việt là *raka hay *rôka.

Ta thấy rõ rào, dậu biến âm với *raka hay *rôka.

7. Anh ngữ Rooster ruột thịt với Rào, gà trống.

Từ Anh ngữ rooster, gà trống ruột thịt với từ Dậu tái tạo Bách Việt là *raka hay *rôka.

DNA cho thấy gà có gốc từ Đông Nam Á, Á châu rồi phát tán đi khắp nơi theo bước chân di cư của loài người bởi vì gà được mang theo làm thực phẩm. Ví dụ gà của thổ dân Mapuche ở Chile, Nam Mỹ. Tộc này cùng theo vũ trụ giáo như Việt Nam. Loại gà này từ Đông Nam Á đi xuống Đa Đảo tới Đảo Phục Sinh (Easter) rồi tới Chile (Storey AA, Ramírez JM, Quiroz D, et al. (June 2007). “Radiocarbon and DNA evidence for a pre-Columbian introduction of Polynesian chickens to Chile”. Proc. Natl. Acad. Sci. U.S.A. 104 (25): 10335–9. doi:10.1073/pnas.0703993104. PMC 1965514clip_image045. PMID 17556540

Loại gà Mapuche Araucana đẻ ra trứng có mầu xanh (Rìu Việt ở Nam Mỹ, Đa Đảo). Gà không có nguồn gốc ở Âu châu nên từ rooster, gà sống phải vay mượn hay lấy gốc từ Đông Nam Á, Á châu và có ‘DNA’ cùng với từ  tái tạo Mường Việt *Raka, *Roka, *Ruka.

Rooster, * Roka là một chứng tích xác thực cho thấy ngôn ngữ  Mường Việt có một khuôn mặt liên hệ mật thiết  với  Phạn ngữ,  Ấn-Âu ngữ.  Con Gà Dậu Rìu Việt tương đồng với con gà Coq, Cock với nghĩa lance, lao , cọc nhọn, mặt trời của Franks, France và Anh Mỹ.

Kết Luận

Dậu chỉ năm Gà có nghĩa là:

DẬU LÀ DIỀU (CHIM MẶT TRỜI).

DẬU là DÀO (vật nhọn sắc, dao), là DIỀU (chim mặt trời).

DẬU là RÀO (vật nhọn sắc, rìu), là RÌU, là TIỀU (rìu; tiều phu là thợ rìu), là DIỀU (chim mặt trời), là Điểu (chim).

DẬU KHÔNG PHẢI LÀ DIỆU (DƯỢU).

DẬU tuyệt nhiên không phải là DIỆU (rượu).

RÀO không phải là RÃO (rượu), không phải là RIỆU (rượu), không phải là DIỆU (rượu), KHÔNG PHẢI LÀ DẬU (rượu).

Tóm lại:

Con Dậu là con Nau, con Nêu, con Nọc, con Cọc.

DẬU = RÀO (NỌC, CỌC, CÂY) = DAO, RÀO, RÌU (VẬT NHỌN, SẮC) = MẶT TRỜI) = DIỀU (CHIM MẶT TRỜI) = GÀ MẶT TRỜI.

Dậu-diều-gà mang nghĩa liên hệ với vũ trụ tạo sinh, dịch lý, lịch sách, thiên văn học, không thể nào mang nghĩa rượu.

Gà diều có một nghĩa rìu, chim biểu mặt trời thuộc ngành chim Rìu, chim cắt, chim Việt, chim biểu của thần mặt trời Viêm Đế Viêm Việt. Dậu là của chủng Bách Việt, Người Việt Mặt Trời dòng mặt trời Viêm Đế. Tổ phụ cõi sinh tạo thế gian Đế Minh của Việt Nam là cháu ba đời thần mặt trời Viêm Đế.

Trong 12 con giáp có hai con vật biết bay là Dậu Diều-Gà mặt trời và Thìn-Rắn (Rồng) không gian là cặp Chim Rắn, Tiên Rồng. Dậu Thìn lưỡng hợp vũ trụ, càn khôn Chim Rắn mang một nghĩa ẩn dụ để cho biết 12 con giáp là của Việt Nam, Bách Việt. Nếu là của Trung Quốc thì tạo sao họ không lấy chim Phượng thay vì gà trống Dậu để bắt cặp với Thìn rồng Long để có cặp long phượng, biểu tượng của văn hóa Trung Quốc Long ly qui Phượng.

Dậu là Gà là của Việt Nam hay Bách Việt, không thể là Dậu là Rượu của Trung Quốc. Dậu Rượu Hoa Hạ đã lấy âm và đổi nghĩa của Dậu Diều (gà) thành Diệu Rượu để phi tang.

Một lần nữa cho thấy từ Dậu có gốc Bách Việt, cho biết rõ là nguồn gốc của 12 con giáp Việt Nam khác Trung Hoa, tuyệt nhiên Việt Nam không lấy 12 con giáp từ  Trung Hoa. Nguồn gốc này có thể của Việt Nam, Bách Việt.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: