CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE: TỪ HAI NỌC QUE (9), TỪ NỌC MŨI MÁC (Ʌ) TRÊN TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG SƠN.

CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE.

(Circle-Rod Writings).

TỪ HAI NỌC QUE II.

(Two Rod Word).

(Phần 9)

Nguyễn Xuân Quang

TỪ HAI NỌC QUE KẾT HỢP.

TỪ NỌC MŨI MÁC (Ʌ) TRÊN TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG SƠN.

Tất cả các khuôn mặt và ý nghĩa của từ nọc mũi mác (Ʌ) đã nói ở trên đều có mặt trên trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn và được viết với một ngữ pháp rất hoàn hảo của chữ nòng nọc vòng tròn-que.

Trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn là trống biểu của ngành trống (đực), ngành nọc, ngành mặt trời, là trống biểu của Hùng Vương, Vua Mặt Trời, của người Việt Mặt Trời Thái Dương nên từ và dấu nọc mũi mác ) thấy rất nhiều trên trống đồng.

Hiển nhiên từ nọc mũi mác trên trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn cũng mang trọn vẹn nghĩa vũ trụ tạo sinh ở khâu thái dương. Từ nọc mũi mác có cùng nghĩa gốc của từ hai nọc que như nọc, đực, dương, mặt trời, lửa… nhưng với khuôn mặt phổ thông là thái dương năng hoạt, sinh động ngành thái dương.

Điểm này thấy rõ ở các chim, cá, thú trên trống đồng nòng nọc.

Vì trống đồng là trống biểu của ngành mặt trời thái dương, của Hùng Vương, Vua Mặt Trời, của đại tộc Việt, Người Mặt Trời Thái dương nên hấu hết các chim, cá, thú đều thuộc ngành nọc thái dương, mặt trời thái dương. Do dó những thú cá chim này trên trống đồng thường có mõm, mỏ hình từ nọc mũi mác >, cho biết mang tính thái dương, thuộc ngành nọc thái dương, ngành mặt trời thái dương.

clip_image001

Những thú, cá, chim trên trống đồng có mõm, mỏ từ nọc mũi mác > cho biết mang tính thái dương, thuộc ngành thái dương.

Bây giờ ta lướt qua qui trình vũ trụ tạo sinh xét nghĩa từ nọc mũi mác trên trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn.

-Thái cực khâu thái dương.

Như đã nói ở trên, từ nọc mũi mác có một khuôn mặt thái cực như thấy rõ trong văn hóa Latvia biểu tượng cho God (thượng đế). God cũng có một khuôn mặt lưỡng tính phái nhất thể. God đội lốt tạo hóa, vũ trụ, thượng thế, là đấng tạo hóa, đấng thượng thế, đấng vũ trụ có một khuôn mặt nhất thể, thái cực.

Trên trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn, thượng thế gồm có mặt trời nằm trong vòng vỏ không gian ở tâm trống, có một khuôn mặt là vũ trụ, tạo hóa nghĩa là cũng biểu tượng cho thượng đế trong tín ngưỡng. Trong nhiều trường hợp từ nọc mũi mác ở vùng thượng thế cũng diễn tả vũ trụ (mặt trời-không gian), tạo hóa, thượng đế.

Ví dụ khoảng không gian giữa các nọc tia sáng mang tính thái cực thấy trên trống Quảng Chính.

Trống Quảng Chính có mặt trời thuộc nhóm trống thái âm ngành thái dương có 16 nọc tia sáng. Số 16 là số Khôn tầng 3 (0, 8, 16) mang nhiều âm tính (độ 3).

clip_image010Vùng thượng thế trống Quảng Chính.

Khôn có một khuôn mặt chính hôn phối với Càn. Như thế mặt trời 16 nọc tia sáng có một khuôn mặt Càn-Khôn.

Khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có hình thái đơn đồng nhất gồm một từ nọc mũi mác (/\) có nghĩa là nọc thái dương, lửa thái dương, Càn. Như thế theo duy dương từ nọc mũi mác này diễn đạt mặt trời Càn/Khôn ngành nọc thái dương.

Trong nọc mũi mác có các sọc nghiêng song song diễn tả không gian Khôn. Nhìn theo không gian tức nhìn theo duy âm, từ nọc mũi mác giờ nhìn theo chiều ngược lại tức theo diện từ nọc chữ V đối ngược với từ nọc mũi mác (/\). Không gian (V) có một khuôn mặt nước thái âm ngành thái dương, Chấn. Như thế vùng thượng thế, vũ trụ, mặt trời-không gian, tạo hóa, thượng đế ở trống này có một khuôn mặt lưỡng hợp mặt trời thái dương Càn (Ʌ) với không gian thái âm Khôn âm, Chấn (V) ngành thái dương ở dạng nhất thể, thái cực.

Ta thấy rõ chữ nòng nọc vòng tròn-que (/\) có hai khuôn mặt: theo duy dương là từ nọc mũi mác Ʌ nọc dương thái dương, lửa thái dương Càn và theo duy âm là từ nọc chữ V nọc âm thái dương, nước thái âm Chấn ngành nọc thái dương. Hiển nhiên từ nọc mũi mác nhìn dưới dạng nhất thể có một khuôn mặt thái cực.

Trống có một khuôn mặt Càn Khôn, tạo hóa. Nhìn dưới dạng nhất thể là thái cực.

-Lưỡng nghi

Ví dụ nhìn dưới dạng phân cực thì từ nọc mũi mác ở khoảng không gian giữa các nọc tia sáng ở trống Quảng Chính nói ở trên có hai khuôn mặt cực dương (/\) và cực âm V riêng rẽ.

Cực dương

Vì (/\) do hai nọc que kết hợp lại với ý nghĩa thái dương sinh động chính yếu nên khuôn mặt diễn tả cực dương mang tính chủ và thấy rất nhiều trên trống đồng.

Ví dụ mặt trời nọc tia sáng dương thái dương.

Trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn, các mặt trời hầu hết đều có nọc tia sáng hình từ nọc mũi mác (Ʌ) thái dương năng động này (ngoại trừ trống Đào Xá có ánh sáng là vòng sáng).

clip_image012Mặt trời có tia sáng hình từ nọc mũi mác thái dương rạng ngời, năng động trên trống Ngọc Lũ I.

Đây là mặt trời có nọc tia sáng thái dương năng động, rạng ngời hình từ nọc mũi mác (Ʌ) có một khuôn mặt biểu tượng cho cực dương.

Cực âm

Cực âm của khâu thái dương sinh động dưới dạng từ nọc chữ V ít thấy trên trống đồng biểu tượng cho ngành nọc dương thái dương. Nếu có thường thấy ở vùng chân trống. Tuy nhiên theo chính thống, chân trống diễn tả hạ thế, cõi âm thường không có trang trí. Vì thế cực âm diễn tả qua chữ V mang tính và nghĩa đối ngược với cực dương diễn tả qua (Ʌ) nếu có, chỉ thấy ở những trống muộn, nhất là những trống đồng âm dương của dòng Mặt Trời Nước dòng nòng âm như các trống ở Nam Trung Quốc. Xin nhắc lại phần lớn các trống nam Trung Quốc thuộc loại trống trệt, hình nồi úp là trống mặt trời Nước Nguyễn Xuân Quang IV.

Ví dụ ở chân một trống Vân Nam có hình thái chuỗi hình gợn sóng, nhìn theo duy âm, là chuỗi từ nọc chữ V.

clip_image014Vành từ nọc chữ V tại chân một trống Nam Trung Quốc.

Như đã nói ở trên, vùng chân trống biểu tượng hạ thế, cõi âm, đôi khi có một khuôn mặt tạo hóa ở cõi âm. Trong trường hợp đó, từ nọc chữ V biểu tượng cho các vị thần sinh tạo, đấng hạ đế cõi âm, đối ngược với đấng tạo hóa, thượng đế cõi thượng thế như đã nói ở trên diễn tả bắng từ nọc mũi mác.

-Tứ Tượng

.Tượng Lửa thái dương.

.Nhà trên trống Ngọc Lũ I.

Trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn có hai loại nhà: nhà nọc, mặt trời và nhà nòng, không gian.

Nhà nọc, mặt trời có di duệ ngày nay là nhà lang (Mường), nhà làng, nhà đình, nhà trai tráng (bachelors’ house), nhà phái nam (Men’s house)…. Nhà này hai đầu mái hình mũi đao, mũi mác cho biết mang tính dương, thái dương, mặt trời (trong khi nhà nòng, không gian có mái vòm, còn gọi là nhà rùa).

clip_image016Nhà nọc, mặt trời trên trống Ngọc Lũ I.

clip_image018Một ngôi nhà nòng, không gian trên trống Ngọc Lũ I.

.Người trên trống Ngọc Lũ I.

Người trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn thuộc ngành nọc mặt trời thái dương ứng với ngành Người Việt Mặt Trời Thái Dương. Ngành này chia ra là hai nhánh chính là nhánh nọc dương thái dương và nhánh nọc âm thái dương. Người thuộc nhánh nọc dương thái dương thường hóa trang thành người chim-mặt trời với trang phục có hình nọc mũi mác, có góc cạnh mang tính nọc thái dương. Ví dụ điển hình là người trên trống Ngọc Lũ I  hóa trang thành hình chim cắt mặt trời mang tính nọc thái dương:

clip_image020

clip_image022Người nhẩy múa trên trống Ngọc Lũ I trang phục có những từ nọc mũi mác và góc cạnh mang tính nọc dương thái dương. Trang phục đầu hình chim cắt.

Trong khi người chim-mặt trời thuộc nhánh nọc âm thái dương trang phục có đường nét cong, tròn mang âm tính. Ví dụ như người trên trống Hoàng Hạ:

clip_image024Một người nhẩy múa trên trống Hoàng Hạ trang phục có những đường nét cong, tròn mang tính nọc âm thái dương.

. Hình thái tứ tượng.

Từ nọc mũi mác thấy nhiều trong hình thái tứ tượng ở các khoảng không gian giữa các nọc tia sáng mặt trời (interradial spaces) trên những trống diễn tả trọn vẹn vũ trụ thuyết. Hiện nay hình thái tứ tượng này bị hiểu lầm là ‘họa tiết lông công’). Ví dụ như ở trống Ngọc Lũ I.

clip_image026clip_image002[8]

Hình thái tứ tượng ở các khoảng không gian giữa tia sáng mặt trời trên trống đồng Ngọc Lũ I.

Không có một tác giả nghiên cứu về trống đồng nào từ xưa cho tới nay hiểu “họa tiết lông công” mang ý nghĩa gì cả. Hầu hết chỉ cho đây là một thứ trang trí. Không. Đây không phải là trang trí “họa tiết lông công”. Đây chính là một nhóm chữ nòng nọc gồm có bốn từ diễn tả tứ tượng.

1. Tượng thái dương: Lửa ngành thái dương.

Từ thứ nhất là từ nọc mũi mác (clip_image030) do hai que nọc ghép lại.

Ta thấy rõ như ban ngày từ nọc mũi mác mang nghĩa thái dương năng động, có một khuôn mặt là nguyên thể của lửa thái dương (Càn).

2. Tượng thái âm: Nước ngành thái dương.

Từ thứ nhì ở chính tâm có hình hai giọt nước có đuôi thuôn nhọn mang hình ảnh hai giọt nước mưa rơi từ cõi trên xuống (clip_image032).

Hai giọt nước là hình biến dạng của hai chữ nòng OO. Hai nòng là hai hào âm, nói theo thuật ngữ dịch là thuần âm, thái âm, có một khuôn mặt là nguyên thể của Nước. Trong hai giọt nước có hai nọc chấm đặc như hai con mắt nhỏ (vì thế mà Parmentier gọi hình này là hình “hai con cá”). Hai chấm là hai “dấu” (“accent”) nọc chấm đặc mang nghĩa dương, lửa. Vậy đây là nước dương, lửa nước. Hai nòng O có chấm clip_image034 là thái âm ngành nọc, dương ứng với Chấn. Hai đuôi của hai giọt nước là hai nọc que II mang tính thái dương xác thực hai giọt nước mang tính thái dương Chấn.

3. Tượng thiếu âm: Gió ngành thái dương.

Từ thứ ba trông giống bờm chim, thú (clip_image036)

có một khuôn mặt biểu tượng cho gió chuyển động, gió dương.

4. Tượng thiếu dương: Đất dương ngành thái dương.

Từ thứ tư có hình tháp nhọn giống như hình núi tháp nhọn gồm hai từ mũi mác lồng vào nhau (clip_image038) diễn tả đất dương. Trong có đánh dấu nọc chấm đặc xác thực là núi dương, núi lửa, núi đá tức đất dương.

Ta thấy rất rõ “họa tiết lông công” gồm có bốn từ nòng nọc diễn tả tứ tượng, có những khuôn mặt là nguyên thể của Lửa thái dương Càn, Nước dương Chấn, Đất dương Li và Khí Gió dương Đoài vũ trụ. Tôi gọi họa tiết này là họa tiết TỨ TƯỢNG (xem chương Cơ Thể Học Trống Đồng Đông Nam Á).

Tóm lại trong hình thái tứ tượng này có từ nọc mũi mác clip_image030[1] mang nghĩa thái dương năng động, có một khuôn mặt là nguyên thể của lửa thái dương, Càn.

Rõ như ban ngày từ nọc mũi mác có nghĩa là nọc thái dương, lửa thái dương, nguyên thể của Càn biểu tượng cho tượng lửa thái dương.

.Tượng Đất dương.

Từ nọc mũi mác với nghĩa núi tháp nhọn biểu tượng cho núi dương, Đất lửa, dương thế gian.

Ví dụ:

.Hình núi tháp kép ở hình thái tứ tượng trên trống Ngọc Lũ I vừa nói ở trên.

. Khoảng không gian giữa các nọc tia sáng ở trống Hoàng Sơn.

clip_image040Khoảng không gian giữa các nọc tia sáng ở trống Hoàng Sơn.

Trống Hoàng Sơn có khoảng không gian giữa các nọc tia sáng hình núi tháp vách kép (giống như ở hình thái tứ tượng trên trống Nagọc Lũ I, chỉ khác trong không có nọc chấm đặc) diễn tả núi dương, đất dương thế gian Li. Trong núi tháp này có các sọc nghiêng song song diễn tả không gian. Như thế khoảng không gian giữa các nọc tia sáng này diễn tả không gian thiếu dương, đất dương Li.

Kiểm chứng lại ta cũng thấy trống Hoàng Sơn có mặt trời 10 nọc tia sáng. Số 10 là số Khảm tầng 2 (2, 10) thế gian. Khảm có một khuôn mặt chính hôn phối với Li.

Hiển nhiên từ hai nọc mũi mác lồng vào nhau diễn tả núi tháp nhọn, đất dương Li.

-Theo vị trí của từ nọc mũi mác: người tộc Lửa và ngành thái dương.

Nọc mũi mác để ở vị trí khác nhau diễn tả ý nghĩa khác nhau và các tượng khác nhau. Ở trống Ngọc Lũ I có 2 nhóm người nhẩy múa:

clip_image042Những người nhẩy múa trên trống đồng Ngọc Lũ I.

Một số người của nhóm 7 và 6 người nhẩy múa cầm ở tay phải, dương những cặp phách để ở dạng hình nọc mũi mác có đỉnh chỉ thiên.

Ở nhóm dương 7 người nhẩy múa, người dẫn đầu tay phải cầm phách hình từ nọc mũi mác chỉ thiên và tay trái cầm gậy nọc que thẳng. Với gậy nọc que thẳng mang dương tính cho biết phách ở nhóm dương này có khuôn mặt chủ là nọc mũi mác diễn tả lửa thái dương Càn. Trong trường hợp này nọc que thẳng ở tay trái diễn tả núi trụ thế gian, lửa thiếu dương Li.

Như thế ở bán viên dương có nhóm dương 7 người nhẩy múa, phách hình từ nọc mũi mác chỉ thiên có khuôn mặt Càn.

Ở nhóm âm 6 người nhẩy múa người dẫn đầu tay phải cầm phách nọc mũi mác và tay trái cầm đòng. Đòng mang âm tính biểu tượng tượng cho nhánh nọc âm thái dương Đoài Chấn. Đòng ở đây có khung có sọc ngang diễn tả không gian. Đầu đòng hình đầu mác, răng cưa, răng sói hình tam giác mang tính thái dương, siêu dương. Không gian mang tính thái dương, siêu dương Càn là Khôn dương khí gió. Trong đòng có từ chấm-vòng tròn clip_image043 có một nghĩa là dương cũng cho biết là không gian dương khí gió và theo duy âm, từ chấm vòng tròn cũng có một nghĩa là thiếu âm, nguyên thể của khí gió. Thêm nữa, nhóm 6 người với số 6 là số âm thái dương nên đòng mang tính thái dương II của nòng âm O tức IIO, Đoài vũ trụ khí gió. Trống Ngọc Lũ I là trống thái dương nên nhóm âm nhóm 6 người nhẩy múa ở bán viên âm cũng mang tính thái dương của ngành âm tức Đoài vũ trụ khí gió.

Như thế đòng ở đây là đòng khí gió Đoài vũ trụ. Ta suy ra phách cầm ở tay phải có một khuôn mặt là lửa thiếu dương, đất dương Li mang tính chủ để có lưỡng hợp thiếu âm Đoài với thiếu dương Li. Do đó phách ở nhóm âm 6 người nhẩy múa có hình từ nọc mũi mác chỉ thiên mang hình ảnh núi tháp nhọn diễn tả đất dương thế gian Li.

Ba người sau người dẫn đầu tay trái cầm gậy nọc que cong mang âm tính cũng nói rõ cho biết phách mang tính âm O của phía dương I tức OI, thiếu dương, nguyên thể của lửa thiếu dương, đất dương Li.

Như vậy hai nhóm người mặt trời-chim cắt trên trống Ngọc Lũ I, ở nhóm 7 người nhẩy múa tay phải cầm phách hình từ nọc mũi mác chỉ thiên diễn tả lửa thái dương Càn và ở nhóm 6 người nhẩy múa tay phải cầm phách hình núi tháp nhọn lửa thiếu dương, đất dương Li thuộc nhánh Càn Li ngành nọc mặt trời thái dương.

Điểm này ăn khớp với trống Ngọc Lũ I là trống thuộc nhóm thái dương có mặt trời 14 nọc tia sáng. Số 14 là số Tốn tầng 2 thế gian (6, 14). Tốn OII là âm O thái dương II. Trống Ngọc Lũ I là trống biểu của nhánh nọc thái dương Càn Li.

Nếu nhìn theo khuôn mặt Càn mang tính chủ thì phách nọc mũi mác chỉ thiên diễn tả nọc thái dương, lửa thái dương, Càn.

Nếu nhìn theo khuôn mặt Li mang tính chủ thì phách nọc mũi mác chỉ thiên mang hình ảnh của núi tháp nhọn đỉnh biểu tượng cho lửa đất dương thế gian Li.

Ta thấy có nhiều yếu tố khiến ta nghiêng về phía Li nhiều hơn Càn:

.Những người hóa trang chim-mặt trời có trang phục đầu hình chim cắt có mũ sừng hình trụ nọc cao. Trụ sừng này có đầu bằng ngang diễn tả trụ chống trời, Núi Trụ Thế Gian biểu tượng cho cõi đất bằng, đất dương Li.

.Trống Ngọc Lũ I là trống thế gian. Trống có cảnh sinh hoạt nhân sinh, có hình hươu, nai thú bốn chân sống trên mặt đất. Trống cũng có cảnh thuyền và các loài chim, cá sống dưới nước ở vùng tang trống.

.Phách có một khuôn mặt biểu tượng cho đất. Theo biến âm ph = v (như phành ra = vành ra), ta có phách = vách (vách đất). Ta có từ đôi hồn phách. Hồn là hồn trời và phách là hồn đất.

….

Vì thế trống Ngọc Lũ I có một khuôn mặt Li đội lốt Càn mang tính chủ.

Đối chiếu với truyền thuyết Việt là tộc Hùng Kì Kì Dương Vương đội lốt Đế Minh cai quan thế gian mang tính chủ (xem chương Ý Nghĩa Hình Người Trên Trống Đồng).

.Tượng Nước thái dương.

-Theo vị trí của từ nọc mũi mác: người tộc Nước ngành thái dương.

Nọc mũi mác để ở vị trí khác nhau diễn tả các tượng khác nhau. Ở trống Vienna (Khai Hóa) có 4 nhóm người nhẩy múa:

clip_image045Bốn nhóm người nhẩy múa trên trống Vienna (Khai Hóa).

Ở mỗi nhóm, tay người nhẩy múa cầm phách để ở vị trí khác nhau. Người cầm phách để ở vị trí chữ V là người thuộc tộc Nước ngành thái dương (xem Trống Vienna).

clip_image047Người cầm phách để ở vị trí chữ V là người thuộc tộc Nước ngành thái dương.

Lưu ý phần cao sau đầu của trang phục đầu người này có hình hộp chữ nhật trong có các sọc song song ngang diễn tả không gian. Ở dưới có một hộp nhỏ sau gáy có sọc nước ngang. Tay trái cầm gậy hết sức cong mang nhiều âm tính xác thực họ là người chi tộc nước thái âm ngành thái dương [khác với những người có phần này hình tua gió ngang ở những người chi tộc gió, (xem dưới)].

-Sừng Nước thái dương.

Sừng là một nọc nhọn có một nghĩa là nọc thái dương. Sừng thuộc loại nọc thái dương thường được diễn tả bằng một từ nọc mũi mác chỉ thiên. Ví dụ Hán ngữ giáp (sừng) trong giáp cốt văn, sừng (jiào) được diễn tả bằng từ nọc mũi mác:

clip_image049Chữ Jiào (giáp).

Trong khi đó sừng thuộc loài nọc âm thái dương được diễn tả bằng từ nọc mũi mác lộn ngược tức có hình từ chữ V. Ví dụ An Dương Vương thuộc dòng mặt trời Nước Lạc Long Quân có khí biểu là một chiếc rìu mũi mác nọc âm thái dương đỉnh nhọn chỉ xuống dưới, một dạng chữ V.

clip_image051Cổ Trưu An Dương Vương, tìm thấy ở Quảng Tây (Nam Phan Tran).

Theo truyền thuyết vào lúc lìa đời An Dương Vương cầm rìu hình tê giác có 7 khấc đi xuống biển, rẽ nước về thủy cung (của Lạc Long Quân). Sừng tê giác cong mang âm tính. Bẩy khấc với số 7 là số Càn, lửa thái dương, nọc thái dương. Sừng tê giác mang tính nọc âm thái dương. An Dương Vương thuộc nhánh nọc âm thái dương Lạc Long Quân. Cổ trưu An Dương Vương ở đây trông cũng giống sừng tê giác.

Ta cũng thấy rõ cổ trưu một dạng rìu chữ V cong. Hơn nữa đầu nhọn quay về phía tay trái (hình cùi chỏ trái < với nghĩa âm, nhỏ hơn trong toán học) xác thực tính nọc âm thái dương.

Trên trống Ngọc Lũ I có những con thuyền thuộc đại tộc nước thái dương, mũi thuyền đầu rắn nước có sừng thuộc loại nọc âm thái dương này, có hình từ nọc mũi mác ngược hay chữ V.

clip_image053Một mũi thuyền đầu rắn nước có sừng nọc âm thái dương trên trống Ngọc Lũ I.

Lưu ý trong sừng có chữ nọc que có nghĩa nọc, dương, vật nhọn sừng. Nọc que ở đây hiệp với sừng âm nên cũng cong.

-Nước thái dương ngành nọc thái dương.

Nhìn theo diện ngành nọc dương thái dương riêng rẽ thì nọc mũi mác Ʌ để lộn ngược thành hình chữ V diễn tả nước thái dương của ngành nọc thái dương.

Nhiều hình chữ V này nối kết lại thành hình sóng diễn tả nước chuyển động mang tính thái dương, ngành thái dương.

Ví dụ hình cánh cò trên trống Hữu Chung.

Cò có cánh hình sóng nước chuyển động.

clip_image054Cò có cánh hình sóng nước trên trống Hữu Chung.

Cuối hai đầu cánh có chữ/dấu nọc mũi mác (>) có nghĩa là đực, dương, lửa, mặt trời. Hai nọc mũi mác đầu cánh là hai dương, thái dương hay lửa trời, chớp. Nước thái âm trên cánh ngành thái dương liên tác với lửa, chớp đầu cánh tức mưa-chớp tạo ra sấm. Như thế cánh cò cho biết con cò này là cò sấm mưa.

Lưu ý

Ta thấy rõ hình sóng nước trên cánh cò có hình chữ V ở giữa. Hai đầu sóng là hai từ nọc mũi mác Ʌ có chủ đích xác thực tính nước mang tính thái dương, của ngành thái dương.

.Tượng Gió dương.

Từ nọc mũi mác với nghĩa Gió thái dương.

-Theo vị trí của từ nọc mũi mác: tộc Gió dương ngành thái dương.

Như đã nói ở trên, nọc mũi mác để ở vị trí khác nhau diễn tả ý nghĩa và các tượng khác nhau. Ở trống Vienna (Khai Hóa) có 4 nhóm người nhẩy múa.

Người tộc Gió dương ngành thái dương tay phải cầm phách có mũi nhọn hướng về phía trước, tay phải chiều dương >, hình mũi tên biểu tượng cho gió dương.

clip_image056Người tộc Gió dương ngành thái dương tay phải cầm phách có mũi nhọn hướng về phía trước, tay phải chiều dương > biểu tượng gió dương.

Trang phục đầu phía sau đầu cũng là khung hình hộp không gian nhưng các sọc ngang ở đây thưa hơn và không che kín cả khung trông như phướn gió. Ở dưới, sau gáy có hình bờm gió. Tay trái cầm gậy hơi cong mang dương tính thích hợp với gió là thái dương II của âm O, tức IIO, quẻ Đoài vũ trụ khí gió (trong khi ở người tộc Nước gậy cong nhiều mang tính thái âm như đã nói ở trên). Tất cả xác thực họ là người chi tộc gió ngành thái dương (khác với những người chi tộc nước như đã nói ở trên).

-Cò Gió có bờm nọc mũi mác mang nghĩa gió.

Trống Cổ Loa I có vành 16 con cò bay.

clip_image057Cò bay trên trống Cổ Loa I.

Số 16 là số Khôn tầng 3 (0, 8, 16), theo duy dương (vì các vành giới hạn của trống là vành nọc chấm đặc sinh tạo) là dương của Khôn tức thiếu âm khí gió thì đây là những con cò gió thiếu âm. Điểm này ta cũng thấy rõ tên của con cò là chiếc bờm hình từ nọc mũi mác theo hình gió tạt để ở vị trí dấu cùi chỏ lớn > có nghĩa là gió dương. Bờm biểu tượng cho gió dương. Ở cổ cò có chữ nọc que cong diễn tả đuôi diều gió.

Mười sáu con cò cho thấy chúng là chim biểu của khuôn mặt khí gió mang tính chủ của trống.

-Cò gió có thân và đuôi hình nọc mũi mác > mang nghĩa gió.

Trên trống Ngọc Lũ I ngoài biên có vành 18 con cò bay. Như đã biết đây là Cò Gió, Cò Lang cò biểu của đại tộc Gió dương ngành mặt trời thái dương, là cò biểu của Liên Bang Văn Lang Hùng Vương.

clip_image059Cò Gió, Cò Lang trên trống Ngọc Lũ I.

Ta thấy mỏ chim rất dài, dài bằng thân người có chủ đích nhấn mạnh đây là loài chim mang dương tính trội. Sau gáy có bờm hình phướn gió. Cánh hình thảm thần (magic carpet) bay được như trong truyện Ngàn Lẻ Một Đêm cũng biểu tượng gió. Người và đuôi hình con diều bay.

Đặc biệt thân và đuôi hình nọc mũi tên (mũi mác) nằm ngang có đỉnh hướng về phía tay phải dương hình dấu cùi chỏ chỉ về bên phải > có nghĩa là lớn trong toán học. Như đã biết dấu này có một khuôn mặt biểu tượng cho gió dương.

-Tam Thế, Cây Vũ Trụ, Cây Tam Thế, Cây Đời Sống, Trục Thế Giới.

Từ nọc mũi mác biểu tượng cho trục thế giới, tam thế, cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) cũng thấy trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn.

Bên một ngôi nhà nọc, mặt trời ở trống Vienna (Khai Hóa) có một dàn trống. Các trống này để trên một trụ hình từ nọc mũi mác chỉ thiên.

clip_image061Một dàn trống trên trống Vienna.

Trụ này mang hình ảnh núi trụ thế gian, trục thế giới, một phần của cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) giống như các trục hình chữ T ở dàn trống trên trống Ngọc Lũ I, Cổ Loa I, trục hình hai nọc que ở trống Sông Đà như đã nói ở trên.

-Tử Sinh, Tái Sinh, Hằng Cửu.

Từ nọc mũi mác mang nghĩa thái cực, lưỡng nghi, tứ tượng, tam thế, cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống), trục thế giới hiển nhiên mang nghĩa tử sinh, tái sinh, hằng cửu.

Hình Thái Các Từ Nọc Mũi Mác Chồng Lên Nhau.

Trong nhiều trường hợp các từ nọc mũi mác chồng lên nhau. Hình thái chồng lên nhau này thấy rất nhiều trên trống đồng nòng nọc hơn bất cứ ở một nền văn hóa nào khác. Các từ nọc mũi mác chồng lên nhau diễn tả nhiều dương tính. Con số các từ nọc mũi mác chồng lên nhau giúp phân biệt lửa thái dương Càn hay lửa thiếu dương Li.

Ví dụ:

-Lửa thái dương Càn: trống Đông Sơn I.

clip_image063Trống Đông Sơn I.

Trống Đông Sơn I có khoảng không gian giữa các nọc tia sáng đơn đồng nhất gồm 7 từ nọc mũi mác chồng lên nhau. Số 7 là số Càn.

Như thế trống có một khuôn nọc thái dương, lửa thái dương Càn.

Kiểm chứng lại ta cũng thấy trống này có mặt trời 8 nọc tia sáng. Số 8 là số Khôn tầng 2 (0, 8) có một khuôn mặt chính hôn phối với Càn.

Như vậy 7 từ nọc mũi mác chồng lên nhau có nghĩa lửa thái dương, Càn.

-Lửa thiếu dương Li đất dương thế gian: trống Làng Vạc II.

clip_image065Trống Làng Vạc II.

Trống Làng Vạc II, khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có 5 từ nọc mũi mác chồng lên nhau. Số 5 là số Li. Như thế khoảng không gian giữa các nọc tia sáng mang tính Li. Trống có một khuôn mặt Li/Khảm.

Kiểm chứng lại ta thấy rõ trống có mặt trời 10 nọc tia sáng. Số 10 là số Khảm tầng 2 (2, 10) có một khuôn mặt chính hôn phối với Li, đất dương thế gian.

Như vậy 5 từ nọc mũi mác chồng lên nhau có nghĩa lửa thiếu dương, Li.

Chuỗi Nhiều Từ Nọc Mũi Mác.

Như đã nói ở trên, trong nhiều trường hợp các từ nọc mũi mác nối kết lại thành từ chuỗi hay vành tròn mang tính chuyển động, sinh động, vô cùng tận. Trên trống đồng, thường thấy nhiều dưới dạng vành tròn.

1-Vành hay chuỗi với một nghĩa nọc thái dương, lửa thái dương, Càn của nhánh nọc dương thái dương.

.Vành diễn tả Càn:

Ví dụ:

. Trống Thanh Hóa.

clip_image067Trống Thanh Hóa.

Trống Thanh Hóa là một trống rất muộn nên sự diễn tả chữ nòng nọc vòng tròn-que hết sức bình dân học vụ, dễ hiểu.

Ở vùng tứ hành trên trống Thanh Hóa có bốn vành. Vành trong cùng hình sóng nhọn đỉnh hình nọc mũi mác có nét nhỏ, mảnh khảnh mang nhiều dương tính diễn tả chuỗi sóng nọc thái dương, lửa thái dương, Càn. (Vành thứ hai hình sóng giống vành 1 nhưng to nét, đậm nét hơn, rộng hơn mang âm tính hơn diễn tả chuỗi sóng chữ V, nọc âm thái dương, nước thái dương, Chấn. Hai vành còn lại là hai vành chuỗi sóng chấm và vòng tròn clip_image068. Theo duy âm là chấm-vòng tròn tức thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió và theo duy dương là vòng tròn-chấm thiếu dương Li Đất dương). Bốn vành diễn tả tứ hành.

Ở đây ta thấy rõ vành nọc mũi mác Lửa thái dương có nét mảnh khảnh diễn tả lửa thái dương Càn so với vành nọc chữ V Nước thái dương có nét to đậm. Mỗi vành mang một ý nghĩa riêng.

.Với nghĩa từ nọc mũi mác lộn ngược tức từ nọc chữ V Chấn.

Ví dụ hình cò trên trống Hữu Chung:

clip_image069Cò trên trống Hữu Chung.

Như đã nói ở trên, trên cánh cò có những chuỗi sóng nhọn đầu có thể là chuỗi chữ V hay chuỗi nọc mũi mác. Ở đây ta thấy rõ là chuỗi sóng nước thái dương chữ V. Vì ở hai đầu cánh cò có hai từ nọc mũi mác >

clip_image070 là hai nọc thái dương có nghĩa là lửa. Như thế cánh cò gồm lửa và nước riêng rẽ. Lửa nước này liên tác tạo ra sấm. Cánh cò cho biết cò là cò sấm. Ở đây lửa nước diễn tả riêng rẽ. Những chuỗi sóng nhọn đầu chỉ diễn tả nước tức là những chuỗi sóng chữ V, lộn ngược của từ nọc mũi mác trong khâu thái dương sinh động.

2-Chuỗi hay vành từ nọc mũi mác mang hai khuôn mặt nòng nọc (âm dương) đối cực.

Như đã nói ở trên phần ở chùa Gameunsa, Đại Hàn.

Trên vách đá tháp có khắc các ‘Biểu Tượng Tối Thượng’ và biểu tượng hình học.

clip_image072

Nhìn theo duy dương, hình khắc chuỗi nọc mũi mác nổi diễn tả sóng lửa thái dương chuyển động, sinh động. Nhìn theo duy âm là chuỗi chữ V chìm diễn tả nước thái dương sing động. Ta có lưỡng hợp lửa  thái dương nước thái âm sinh tạo, tạo hóa. Đĩa tròn ‘hình học’ cũng diễn tả theo duy dương là hai nọc dương nổi tức thái dương chuyển động dưới dạng hai cánh chong chóng cong nổi và theo duy âm là hai nọc âm chìm tức nọc âm thái dương chuyển động dưới dạng hai cánh chong chóng cong chìm. Ta cũng có cùng nghĩa lưỡng hợp thái dương và thái âm ngành nọc thái dương như hình sóng nọc mũi mác nổi và chữ V chìm. Đĩa này xác thực chuỗi sóng mũi mác phải đọc theo chiều nòng nọc (âm dương) nổi và chìm.

Trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn cũng có những trường hợp một chuỗi hay vành mũi mác  có hai diện nòng nọc (âm dương), nổi là từ nọc mũi mác Ʌ và chìm là từ nọc chữ V đối cực.

Ví dụ trống Pac Tà.

clip_image074Trống Pac Tà.

Thông thường theo chính thống, vùng vận hành diễn tả tứ hành bằng ba vành như ở trống Ngọc Lũ I hay bốn vành như ở trống Thanh Hóa đã nói ở trên. Ở đây vùng này chỉ có hai vành. Như thế mỗi vành diễn tả hai hành. Một vành diễn tả hai hành dưới dạng lưỡng hợp thái dương Càn và thái âm Chấn. Một vành diễn tả hai hành dưới dạng lưỡng hợp thiếu dương Li với thiếu âm Đoài. Ở đây vành số 1 sát mặt trời là vành từ nọc mũi mác diễn tả hai hành là hành lửa thái dương Càn nhìn dưới diện nổi từ nọc mũi mác /\ và hành nước dương Chấn ngành nọc thái dương nhìn dưới diện chìm từ mọc chữ V. Vành số 2 là nọc chấm đặc và vòng tròn diễn tả hai hành dưới dạng lưỡng hợp thiếu dương Li và thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió.

Như thế rõ ràng vành từ nọc mũi mác diễn tả hai khuôn mặt nòng nọc (âm dương) đối cực Càn và Chấn.

.Trống Đông Sơn II.

Rõ hơn ở thân trống Đông Sơn II có vành từ nọc mũi mác nhìn dưới hai diện mũi mác nổi và chữ V chìm đã được làm cho thấy rõ bằng các sọc song song nghiêng:

clip_image076Vành từ nọc mũi mác Ʌ có khuôn mặt nổi mang nghĩa lửa thái dương và khuôn mặt chìm chữ V chìm mang nghĩa nước thái dương ở thân trống Đông Sơn II.

-Vành từ nọc mũi mác đi từng cặp.

Trên nhiều trống đồng nòng nọc ở mặt trống nhất là ở ngoài biên trống thường có hai vành từ nọc mũi mác đi đôi với nhau.

.Ở dạng hai vành duy nhất.

Dạng này diễn tả giản dị chỉ có một nghĩa là thái dương tổng quát của ngành thái dương.

Ví dụ trống Giảo Tất.

clip_image078Trống Giảo Tất.

Ở mặt trống này chỉ có hai vành từ nọc mũi mác duy nhất diễn tả nghĩa thái dương tổng quát của ngành thái dương. Lưu ý vành nhỏ trống không, trắng ở giữa chỉ là một vành giới hạn.

Kiểm chứng ta thấy trống có mặt trời 10 nọc tia sáng. Số 10 là số Khảm tấng 2 (2, 10) có một khuôn mặt hôn phối chính với Li. Khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có hình thái đơn đồng nhất do 5 từ nọc mũi mác chồng lên nhau diễn tả Li. Như thế trống này có một khuôn mặt là trống Li mang tính thái dương (đội lốt Càn) của ngành nọc thái dương.

.Ở dạng ba vành ngoài biên trống.

Ở dạng này diễn tả nghĩa thái dương của một đại tộc đơn thuần của ngành thái dương.

Ví dụ trống Hòa Bình.

clip_image080Trống Hòa Bình.

Ngoài biên trống Hòa Bình có ba vành chữ nòng nọc vòng tròn-que. Hai vành từ nọc mũi mác có một nghĩa là thái dương. Hai vành này kẹp giữa vành từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm clip_image082có một nghĩa là nước dương, Chấn. Ba vành cho biết trống có một khuôn mặt là trống mặt trời nước thái dương Chấn ứng với Giao Việt Lạc Long Quân (xem trống Giao Việt Hòa Bình).

.Ở dạng bốn vành ngoài biên trống.

Ở dạng này diễn tả nghĩa thái dương của một lưỡng hợp hai đại tộc của ngành thái dương.

Ngoài biên trống Ngọc Lũ I có 4 vành gồm hai vành từ nọc mũi mác kẹp giữa hài vành chấm-vòng tròn và vòng tròn-chấm.

clip_image084Bốn vành ngoài biên ở trống Ngọc Lũ I.

Theo duy dương tức đọc theo diện nổi, hai vành này có nghĩa thường hiểu là hai nọc dương, tức thái dương sinh động, vận hành ngành nọc thái dương.

Ở trống này, trong mỗi hình nọc mũi mác có đánh dấu hai nọc chấm đặc nhấn mạnh thêm khuôn mặt thái dương.

Hai vành này kẹp giữa hai vành sóng vòng tròn có chấm tức thiếu dương sinh tạo Li và vành chấm vòng tròn thiếu âm sinh tạo Đoài vũ trụ khí gió. Hai vành Li Đoài này có tiếp tuyến đối ngược nhau vì có tính nòng nọc (âm dương) đối ngược nhau, mang tính, vận hành, sinh động. Hai vành này diễn tả lưỡng hợp tiểu vũ trụ thiếu dương Li với thiếu âm Đoài. Như đã biết, ở trống Ngọc Lũ I, khuôn mặt Li đội lốt Càn mang tính chủ.

 

Như thế hai vành từ nọc mũi mác ở biên trống có nghĩa phổ quát thông thường là nọc dương thái dương, ngành nọc dương thái dương.

Nhìn các vành chữ viết nòng nọc vòng tròn-que ở biên trống ta biết ngay được đó là trống biểu của ngành, nhánh nào. Hai vành từ nọc mũi mác ở biên trống cho biết trống đó thuộc nhánh thái dương của ngành nọc dương thái dương.

Lưu ý.

Xin nhắc lại là hai vành từ nọc mũi mác ở biên trống mang tính nọc thái dương, ngành nọc thái dương trong khi hai vành nấc thang (hiện gọi là răng lược) mang tính nọc âm thái dương, ngành nọc âm thái dương.

 DẤU NỌC MŨI MÁC TRÊN TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG SƠN.

Từ nọc mũi mác cũng được dùng làm dấu.

Như đã nói ở trên, trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn là trống biểu của ngành trống (đực), ngành nọc, ngành mặt trời, là trống biểu của Hùng Vương, Vua Mặt Trời, của người Việt Mặt Trời Thái Dương nên dấu nọc mũi mác thấy rất nhiều trên trống đồng, không một nơi nào nhiều và viết đúng ngữ pháp bằng.

Như đã biết, chữ, từ và dấu nhiều khi khó phân biệt hay dùng theo cả các chức vụ của chữ, từ và dấu. Tuy nhiên dấu nọc mũi mác trên trống đồng rất dễ phân biệt với từ vì viết rất nhỏ, ít khi lầm với từ. Đây là một nét ngữ pháp rất chuẩn chứng tỏ chủ nhân của trống đồng là các bậc thầy, bậc sư về chữ nòng nọc vòng tròn-que.

Trên trống đồng dấu nọc mũi mác này thấy viết trên người nhiều thú vật, chim có nghĩa là thái dương, thuộc ngành thái dương, lửa, mặt trời…

Ví dụ dấu (>) trên mõm hươu và ở mỏ các chim nông, cò…
clip_image086

Một con hươu đực có dấu nọc mũi mác > trên mõm ở trên trống Ngọc Lũ I  cho bíết đây là hươu ngành nọc, dương, mặt trời thái dương.

clip_image088

Dấu nọc mũi mác trên mỏ hai con chim cho biết đây là chim thuộc ngành nọc, dương, mặt trời thái dương.

Dấu này thấy cả ở các loài chim thú cái như nai cái và thuộc phía nòng âm, nước chỉ cho biết chúng thuộc ngành nọc thái dương tức thuộc nhánh nọc âm thái dương.

Ví dụ:

.Ở mỏm con nai cái trên trống Ngọc Lũ I.

clip_image090Dấu nọc mũi mác trên mõm con nai cái trên trống Ngọc Lũ I cho biết đây là nai thuộc ngành nọc, dương, mặt trời thái dương nhánh nọc âm thái dương.

.Ở mỏ chim nông, một loài chim nước.

clip_image092Dấu nọc mũi mác trên mỏ chim nông trên trống Ngọc Lũ I cho biết đây là chim thuộc ngành nọc, dương, mặt trời thái dương nhánh nọc âm thái dương.

Điểm này cũng xác thực là dấu nọc mũi mác có nghĩa chính là nọc thái dương, ngành nọc thái dương không kể nhánh nọc dương thái dương hay nọc âm thái dương.

Một lần nữa chữ và dấu nòng nọc vòng tròn-que hình nọc mũi mác, mũi tên có sự hiện điện rất nhiều, gần như nhiều nhất trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Nhìn vào một trống đồng nếu ta thấy có nhiều từ và dấu nọc mũi mác thì trống đó càng mang nhiều dương tính, càng có nhiều triển vọng thuộc ngành nọc thái dương.

Kết Luận

Từ nọc mũi mác mang trọn vẹn nghĩa vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo, dịch học.

Từ nọc mũi mác cũng mang nghĩa gốc là nọc, đực, dương, lửa, mặt trời, thái dương… như từ hai nọc que riêng rẽ nhưng có khuôn mặt chính là thái dương mang tính sinh tạo, năng động, sinh động, nguyên thể của lửa, đất, nước, gió ngành thái dương ở tầng tứ tượng.

Chữ nọc mũi mác cũng có thể dùng làm dấu.

Từ và dấu nọc mũi mác thấy gần như nhiều nhất và viết đúng ngữ pháp nhất trong các từ và chữ nòng nọc vòng tròn-que trên trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn vì trống đồng là trống biểu của ngành trống (đực), ngành nọc, ngành mặt trời, là trống biểu của Hùng Vương, Vua Mặt Trời, của người Việt Mặt Trời Thái Dương.

(còn nữa).

.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: