CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE: TỪ HAI NỌC QUE (8) TỪ NỌC MŨI MÁC (Ʌ).

CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE.

(Circle-Rod Writings).

TỪ HAI NỌC QUE II.

(Two Rod Word).

(Phần 8)

Nguyễn Xuân Quang

TỪ HAI NỌC QUE KẾT HỢP.

TỪ NỌC MŨI MÁC (Ʌ).

Như đã nói ở trên, ngoài dạng dính chập lại thành một, hai nọc que kết hợp lại còn có thể ở dạng tạo thành các từ khác như từ nọc mũi mác clip_image002, chữ V, chữ T, chữ L, chữ thập +, chữ X… Ở đây chỉ xin chuyên chú nói nhiểu tới vài dạng từ thấy nhiều trên trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn.

Điểm cần lưu tâm là theo nguyên tắc, tổng quát các từ dạng kết hợp này cũng mang trọn vẹn ý nghĩa của vũ trụ tạo sinh và có chức vụ như từ hai nọc que. Tuy nhiên mỗi dạng từ kết hợp này có những khuôn mặt đặc biệt được dùng nhiều hơn các khuôn mặt khác (được coi như là phụ). Ví dụ như đã biết, từ chữ T thường được dùng nhiều với nghĩa gò đất nguyên khởi, cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống), trụ chống trời, trục thế giới, cõi đất thế gian, trung thế…

TỪ HAI NỌC QUE KẾT HỢP THÀNH MŨI MÁC clip_image003.

Trước hết xin nói rõ để phân biệt về các tên gọi.

Lưu ý.

Từ nọc mũi mác nhiều khi cũng gọi lẫn lộn với răng cưa, răng sói.

Cần phân biệt mũiđầu:

-Từ nọc mũi mác, mũi tên Ʌ do hai nọc que ghép lại có hình góc nhọn khác với từ nọc đầu tên, đầu mác có hình tam giác . Nếu muốn dùng từ răng cưa, răng sói thì phải nói là mũi răng cưa, mũi răng sói. Còn khi nói tổng quát răng cưa, răng sói thì khi đó răng có hình tam giác .

Vì thế tôi dành hình tam giác thuận ∆ này cho từ đầu mác, đầu tên, răng cưa, răng sói. Còn dùng hình ) cho từ mũi mác, mũi tên, mũi răng cưa, mũi răng sói.

-Tổng quát từ nọc mũi mác Ʌ là do hai nọc que kết hợp lại nên có nghĩa gốc của từ hai nọc que riêng rẽ. Vì thế từ nọc mũi tên, mũi mác… có nghĩa chính là nọc thái dương (và các nghĩa gốc khác như lửa, mặt trời, núi tháp nhọn đất dương, đực, dương, bộ phận sinh dục nam sinh động…).

Tuy nhiên như đã nói ở trên mỗi dạng từ kết hợp này có những khuôn mặt chính được dùng nhiều hơn các khuôn mặt phụ khác. Ở đây hai nọc que kết hợp lại tạo thành mũi nhọn. Đây là tính đặc thù của từ nọc mũi mác. Mũi nhọn như mũi dùi, mũi tên, mũi mác mang nhiều dương tính hơn, mang tính xuyên phá hơn, sinh động hơn, năng động hơn, sinh tác hơn, sinh tạo hơn, có hoạt lực (active force) cao, trong quá trình tạo sinh. Ngày nay tính năng động của mũi nhọn này còn thấy qua từ đôi “mũi dùi”. Ta thường nói mũi dùi xuyên phá; trong chiến thuật, nói mở một mũi dùi tấn công mạnh vào một tử điểm, chọc thủng vào phòng tuyến địch.

Nói theo ngôn ngữ dịch thì hai nọc que là hai dương tức thái dương. Nọc mũi mác Ʌ do hai nọc que ghép lại nên cũng có nghĩa thái dương, mang tính thái dương ở tầng tứ tượng năng hoạt. Nhưng vì có mũi nhọn nên có dương tính cao, nhiều khi cực đại.

Vì thế từ nọc mũi mác nhiều khi mang tính siêu dương của ba nọc que hay tam giác. Ví dụ:

-Chữ A dạng thái dương nọc mũi mác Ʌ tương đương với chữ dạng siêu dương A do ba bọc que ghép lại (A tương đương với tam giác ∆) (xem dưới).

-Tia sáng nọc thái dương thường diễn tả bằng từ nọc mũi mác Ʌ nhưng nhiều khi được diễn tả tương đương với từ đầu mác hình tam giác ∆.

clip_image004Mặt trời với nọc tia sáng thái dương từ nọc mũi mác Ʌ được diễn tả tương đương với từ đầu mũi mác tam giác ∆.

. Ý nghĩa

Tóm gọn lại nọc mũi mác có những khuôn mặt chính là:

-Tổng quát nọc mũi mác mang tất cả nghĩa của từ hai nọc que II riêng rẽ, cũng có nghĩa là thái dương (dương, đực, lửa, mặt trời, bộ phận sinh dục nam…). Nghĩa chính là thái dương nhưng vì có mũi nhọn nên mang tính thái dương năng động, năng hoạt, sinh động.

-Như đã nói ở trên nhiều khi mũi nhọn được coi như một nọc dương nữa nên mang tính dương cực đại, siêu dương tương đương với ba nọc que hay tam giác ∆, tương đương với đầu mũi tên, đầu mũi mác, răng cưa, răng sói ∆ mang tính lửa thái dương, Càn.

-Vì thế cần phải phân biệt hai khuôn mặt: hai nọc mũi mác, mũi tên Ʌ và ba nọc đầu mác, đầu tên tam giác ∆. Thường thường từ nọc mũi mác là dạng nguyên thể của từ đầu mác hình tam giác.

Như đã biết nhìn, tổng quát ta thấy từ nọc mũi mác cũng có gốc từ hai nọc que được dùng nhiều với tính cách sinh tạo năng hoạt ở từ tầng tứ tượng trở xuống còn các khuôn mặt thái cực hay lưỡng nghi nếu có chỉ là phụ hay ở dạng kết hợp, biến đổi.

Bây giờ ta lướt qua qui trình vũ trụ tạo sinh tìm ý nghĩa chính yếu của từ nọc mũi mác, mũi tên.

-Thái Cực

-Từ nọc mũi mác có thể mang khuôn mặt thái cực trong khâu thái dương sinh động.

Ví dụ:

Thượng đế và vũ trụ ngành nọc thái dương của Latvia.

Trong các biểu tượng về truyền thuyết và thần thoại Latvia, từ nọc mũi mác diễn tả thượng đế (god), bầu trời và vũ trụ.

clip_image006(nguồn: latvianhistory.com).

Ở đây ta phải hiểu là thượng đế ngành nọc thái dương và vũ trụ là vũ trụ mang tính thái dương ngành nọc thái dương, lửa thái dương Càn. Bầu vũ trụ, bầu trời được diễn tả bằng hình mái nhà hình từ nọc mũi mác thay vì hình vòng cung, hình vòm.

Ta biết thượng đế có một khuôn mặt lưỡng tính phái, nhất thể ứng với thái cực như Viêm Đế-Thần Nông nhất thể, Brahma nhất thể, thần Ra Ai Cập nhất thể và vũ trụ có một khuôn mặt lưỡng tính phái. Vũ là Vỏ, bao bọc, Nòng O, không gian và Trụ là cây, que, Nọc I, mặt trời. Vũ trụ dưới dạng nhất thể tạo hóa có một khuôn mặt thái cực.

Hiển nhiên từ nọc mũi mác trong văn hóa Lavita có một khuôn mặt thái cực trong khâu thái dương sinh động.

-Từ nọc mũi mác Ʌ có thể lưỡng hợp với từ nọc chữ V mang khuôn mặt thái cực trong khâu thái dương sinh động.

 Trong các motifs của các tộc thổ dân Bắc Mỹ châu như Apache, Navajo và Hopi, hình thoi biểu tượng cho gió và cũng là biểu tượng cho sự sống.clip_image002[1]Hình thoi biểu tượng cho gió và sự sống

(nguồn: http://www.whats-your-sign.com/native-american-symbol-wind.html).

Hiển nhiên gió, không khí, thở là sự sống.

Hình thoi biểu tượng cho gió cũng thấy trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn. Ví dụ trên trống Sông Đà, ngoài biên trống có ba vành chữ viết nòng nọc vòng tròn-que (‘hoa văn’) gồm hai vành ở ngoài hình nọc mũi mác có một nghĩa là nọc thái dương. Hai vành này kẹp ở giữa vành gồm bốn đoạn hình sóng hình thoi biểu tượng cho gió chuyển động Đoài vũ trụ khí gió và hình sóng nước vuông góc thái dương Chấn. Trống Sông Đà là trống của nhánh nòng Khôn (Đoài-Chấn) mang tính thái dương (xem trống Âu Lạc Sông Đà 3).

Ta thấy rõ hình thoi là biến dạng thái dương (có hai từ nọc mũi mác tức thái dương), chuyển động của nòng O. Thái dương II của O là IIO, quẻ Đoài vũ trụ khí gió .

Ta thấy rất rõ phần trên hình thoi là một từ nọc mũi mác Ʌ mang nghĩa thái dương, lửa, bộ phận sinh dục nam, nõ, ‘blade’… và phần dưới là một từ nọc chữ V, đối cực nòng nọc (âm dương) với nọc mũi mác ở trên, có nghĩa là âm thái dương, nước, bộ phận sinh dục nữ , nường, ‘chalice’… Hiển nhiên nòng nọc (âm dương), nõ nường hôn phối sinh ra sự sống, sinh tạo.

Như thế hình thoi nhìn dưới dạng lưỡng tính phái nhất thể có một khuôn mặt thái cực của khâu thái dương sinh động.

-Từ nọc mũi mác có thể mang khuôn mặt thái cực dưới dạng kết hợp với nòng thái âm.

Ví dụ:

.Vòm tháp củ hành Tây.

Như đã biết, trong vũ trụ giáo, các cấu trúc tín ngưỡng nhất là ở Đông phương, thường trên chỏm cao có hình quả bầu nậm mang tính nòng nọc (âm dương) diễn tả trọn vẹn thuyết vũ trụ tạo sinh, dịch lý.

Tuy nhiên trong nhiều kiến trúc tôn giáo, nhiều khi chỏm tháp có hình vòm củ hành Tây thay vì bầu nậm, ví dụ như Thiên Chúa giáo thấy nhiều ở Nga, (thường là Chính Thống giáo), Bavaria (Đức), cũng thường thấy ở Áo, đông bắc Ý, Đông Âu

clip_image008Một ngôi nhà thờ Chính Thống giáo ở St Peterburg có những chỏm tháp hình vòm củ hành Tây.

clip_image010Nhà thờ Saint Basil, Moscow cũng vậy.

và Hồi Giáo như Mughal Ấn Độ, Trung Đông và Trung Á.

clip_image012Nhà nguyện Hồi giáo tại đảo Robben, Nam Phi nơi Nelson Mendela bị giam (ảnh của tác giả).

Như đã nói ở trên, vòm củ hành Tây là một biến dạng của kiến trúc bầu nậm nòng nọc (âm dương), nghĩa là vòm củ hành Tây cũng diễn tả trọn vẹn vũ trụ thuyết. Tuy nhiên vì phần bầu mang âm tính nòng O cường điệu nên vũ trụ phía nòng O không gian mang tính chủ. Trong khi chỏm vòm trong mặt phẳng có hình từ nọc mũi mác, mũi tên rất nhỏ so với phần bầu nên mang tính liệt.

Như thế những kiến trúc tôn giáo có mái vòm củ hành Tây có thể diễn tả trọn vẹn thuyết vũ trụ tạo sinh nhưng nghiêng về phía nòng O mang tính chủ hay thuộc về ngành vũ trụ nghiêng về không gian O mang tính chủ.

Như vậy nếu nhình theo nòng nọc (âm dương) đối cực giao hòa tức nhìn theo cả hai ngành nòng và nọc đối cực thì vòm củ hành Tây là một thứ bầu tạo hóa, sinh tạo có chỏm từ nọc mũi mác, mũi tên mang tính thái dương giao hòa với bầu mang tính thái âm.

Nhìn dưới diện nhất thể ta có một khuôn mặt thái cực thuộc khâu thái dương diễn tả bằng từ nọc mũi mác, mũi tên.

-Thạch bản Mexico 779 của Niven.

clip_image013Thạch bản Mexico 779 của Niven (nguồn: James Churchward, The Sacred Symbols of Mu).

Con rắn hình chữ S kép biểu tượng cho nước thái âm chuyển động. Nhìn dưới diện nòng nọc (âm dương) đối cực, từ nọc mũi mác Ʌ ở thân có một khuôn mặt là lửa thái dương. Nhìn dưới dạng nhất thể sinh tạo ta có một khuôn mặt thái cực sinh động trong khâu từ nọc mũi mác.

-Rắn thổ dân Tây Nam Hoa Kỳ.

clip_image015Rắn thổ dân Tây Nam Hoa Kỳ.

Rắn có một khuôn mặt biểu tượng cho nước thái âm OO. Ở đây thấy rõ biểu tượng cho nước vì rắn cuộn tròn theo dạng hình nòng O.

Nếu nhìn theo nòng nọc (âm dương), lưỡng tính, đối cực thì trên người con rắn này có chuỗi từ nọc mũi mác diễn tả nọc thái dương, lửa thái dương chuyển động sinh tạo. Ta có lưỡng hợp thái âm nước với lửa thái dương. Nhìn dưới dạng nhất thể ta có thái cực của khâu nọc mũi mác.

Nếu nhìn dưới dạng phân cực, ta có lưỡng nghi.

Nếu nhìn theo duy âm, chỉ ở ngành âm thôi thì chuỗi từ nọc mũi mác có thể là dấu chỉ định tính thái dương, của ngành thái dương. Ta có con rắn mang tính nọc âm thái dương, của ngành nọc âm thái dương (xem dưới).

-Lưỡng Nghi

.Vòm củ hành Tây ở trên nhìn dưới diện phân cực, ta có một khuôn mặt lưỡng nghi. Hình con rắn ở trên cũng vậy.

.Cực dương

-Nọc mũi tên, mũi mác diễn tả bộ phận sinh dục nam.

Trong The Da Vinci Code, Dan Brown cho rằng biểu tượng nọc mũi mác Ʌ là hình tượng nguyên thủy của đực, dương (‘original icon for male’) gọi là blade (lưỡi sắc) và là dạng sơ khai của dương vật (‘a rudimentary phallus’) (The Da Vinci Code và Chữ Nòng Nọc Trên Trống Đồng Đông Nam Á).

Tôi không đồng ý với Dan Brown cho là bộ phận sinh dục nam ở dạng sơ khai mà lại gọi là ‘lưỡi sắc blade’. Bộ phận sinh dục nam sơ khai khi còn là mầm, hạt sinh dục (gonads) diễn tả bằng nọc chấm đặc (xem chữ này) thì không thể nào được gọi là ‘blade’. Theo tôi phải hiểu là dương vật ở dạng năng động như mũi dùi, mũi tên, vật nhọn, nõ nhọn giống như bộ phận sinh dục nam ở dạng mũi tên thấy ở hình khắc trên đá ở vùng núi Âm Sơn, Trung Quốc chẳng hạn thì mới được gọi là ‘blade’.

clip_image016Người bắn cung khắc trên đá ở Âm Sơn, Trung Quốc (Wang Hongyuan).

Như thế nọc mũi mác, mũi tên Ʌ có một khuôn mặt diễn tả bộ phận sinh dục nam ở dạng nọc dương thái dương năng động đối ngược với bộ phận sinh dục nữ diễn tả bằng từ chữ V, nọc âm thái dương mà Dan Brown gọi là chalice (xem Chữ Nòng Nọc Và Da Vinci Code).

Hiển nhiên từ nọc mũi mác có một khuôn mặt là cực dương.

-Néo thần Amin Ai Cập cổ.

Thần Min-Amen là vị thần biểu tượng cho hùng tính, nam tính (virility), là vị nam thần sinh dục, mắn sinh. Thường thường ta chỉ thấy nữ thần mắn sinh, nhưng đặc biệt Ai Cập cổ có vị thần mắn sinh nam giới, ông gieo giống tối đa.

min

Tác giả đứng trước trụ cột có khắc Nam Thần Tình Dục, Mắn Sinh Min-Amen, ở Karnak, Luxor, Ai Cập.

Thần Min-Amen biểu tượng cho hùng tính, nam tính, sinh dục nam nên có nhiều chi tiết trên người thần biểu tượng cho nọc, dương, nam. Trước hết là bộ phận sinh dục của thần ở dạng cương cứng, ở dạng nọc que sinh động. Thần chỉ có nửa người bên phải vì bên phải là chiều nọc, dương. Tay phải là tay dương và chỉ lên trời cũng là hướng dương [trong khi tay chỉ xuống đất là âm như ta thấy Phật đản sinh có tay phải dương chỉ lên trời và tay trái âm chỉ xuống đất, ngài nói “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn” (Trên trời, dưới thế gian duy chỉ có mình ta”)]. Trên bàn tay phải của thần này có úp một cây néo (flail) hình từ nọc mũi mác Ʌ mang nghĩa nọc dương sinh động. Nọc néo mũi mác có đỉnh nhọn chỉ lên trời mang dương tính.

2. Cực âm

Từ nọc mũi mác Ʌ lật ngược lại thành hình chữ V mang tính nòng nọc (âm dương) ngược. V có một khuôn mặt là cực âm đối ngược với cực dương Ʌ. Tuy nhiên cần phải phân biệt hai trường hợp:

-Ở trong cùng một ngành thái dương duy nhất mà thôi.

Trong trường hợp này ta có cực dương diễn tả bằng từ nọc mũi mác Ʌ và cực âm là dạng lộn ngược của cực dương, diễn tả bằng từ chữ V. Từ chữ V này là do hai nọc que kết hợp lại (không phải là do hai nòng OO dương hóa cực đại mà thành), (xem dưới).

Ví dụ nọc mũi mác Ʌ diễn tả nọc thái dương, lửa thái dương Càn và núi tháp nhọn diễn tả đất dương khi lật ngược lại thành từ chữ V diễn tả nước thái âm mang tính thái dương, Chấn và vực thẳm, đất âm ngành nọc thái dương. Điểm này thấy rõ qua biểu tượng từ chữ V của Latvia diễn tà nước và đất:

clip_image022

Hiển nhiên nước thái âm mang tính thái dương, Chấn có một khuôn mặt biểu tượng cho cực âm ngành nọc thái dương.

-Ở dạng nòng nọc (âm dương), lưỡng tính, đối cực tức ở diện bao gồm cả hai ngành nọc và ngành nòng, ta có cực dương ở ngành nọc diễn tả bằng Ʌ và cực âm ở ngành nòng diễn tả bằng V. Trong trường hợp này V là do hai nòng OO dương hóa cực đại mà thành như đã biết ở bài viết Từ Hai Nòng OO. Ví dụ điển hình là bộ phận sinh dục nữ diễn tả bằng hai nòng OO (hình cối đá ở làng Dogong) dương hóa thành bộ phận sinh dục nữ hình chữ V mà Dan Brown gọi là chalice như đã nói ở trên đối ngược với bộ phận sinh dục nam hình nọc mũi mác blade.

-Tứ Tượng

Như đã biết, từ nọc mũi mác có nghĩa gốc là thái dương, lửa năng động như thế tượng lửa thái dương (Càn) và đất dương (lửa thiếu dương Li) của ngành nọc thái dương là hai khuôn mặt trội của tứ tượng thuộc khâu thái dương năng động này.

.Tượng Lửa

Ví dụ:

-Như đã biết, chúng ta có từ nòng nọc vòng tròn-que KHAN.

clip_image001

Nếu nhìn dưới dạng đại vũ trụ (không gian, mặt trời, nước vũ trụ) ở cõi tạo hóa ta có chữ KH hình chữ U kép úp hình vòm biểu tượng cho bầu vũ trụ, không gian, chữ A ở dạng Ʌ biểu tượng cho lửa vũ trụ, mặt trời và chữ N hình sóng nước tròn đầu mang âm tính biểu tượng cho nước thái âm chuyển động, ở cõi trời là nước vũ trụ không gian.

Như thế rõ ràng chữ a dạng mũi mác Ʌ có một khuôn mặt của A lửa thái dương, Càn biểu tượng cho tượng lửa.

-Người mặt trời thái dương rạng ngời.

Những người đầu nhọn hình mũi mác trong tác phẩm L’art des Steppes của Kart Jettmar được tác giả quyển sách này cho đây là các vị thần.
clip_image024
Hình người nhọn đầu trong trong tác phẩm L’art des Steppes của Kart Jettmar.

Theo tôi đây là những Người Mặt Trời thái dương rạng ngời đúng như ý nghĩa của từ nọc mũi mác. Sự hiện diện của hình hươu, biểu tượng cho Cõi Giữa thế gian, con người đầu tiên của loài người ở phí tay phải phía dương cùng một vành của người nhọn đầu mũi mác xác định đây là những Người Mặt Trời. Bên trái của nhóm người có một con thú bốn chân có mõm nhọn hình mũi mác cho biết đây là con thú thái dương nhưng không có sừng biểu tượng cho vùng đất âm. Vành ở tâm có chủ điểm là con dê đực rất lớn biểu tượng cho Cõi Trên ngành đất dương, biểu tượng cho mặt trời thế gian (Hán Việt dương là dê và cũng có nghĩa là đực, mặt trời, người Ai Cập cổ có thần Dê biểu tượng cho mặt trời). Phía sau có hình con bò mộng có sừng biểu tượng cho đất dương Cõi Giữa (giống như con bò Nandi của thần Shiva) và ở dưới có hình con rắn uốn khúc hình sóng biểu tượng cho nước Cõi Dưới. Như thế ta thấy rất rõ vòng tròn tâm biểu tượng ba cõi, ba tiểu thế của dòng nọc dương (dê). Tam Thế sinh ra sự sống trong đó có con người được diễn tả ở vành ngoài. Hiển nhiên những người đầu nhọn hình từ mũi mác thái dương năng động này là những người mặt trời thái dương. Điều này thấy rõ sự kiện là người Inca thờ mặt trời có tục bó đầu trẻ em sơ sinh cho đầu dài nhọn ra mang ý nghĩa người mặt trời (ở Nazca Peru, người ta đào tìm được những xác ướp có đầu bó nhọn giống như đầu những người ngoài trái đất thấy trong các phim khoa học giả tưởng, nên có tác giả cho rằng các hình vẽ bí mật trên mặt đất gọi là ‘Nazca lines’ là do người từ hành tinh khác xuống vẽ). Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, ta thấy đây là Người Mặt Trời Xích Quỉ của Kì Dương Vương (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

-Chữ a dạng Ʌ.

Các mẫu tự ABC hiện nay là di duệ của chữ nòng nọc vòng tròn-que (xem Mẫu Tự ABC và Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn Que).

Chữ A có thể ở dưới dạng một nọc que (I), hai nọc que (II) ghép lại dưới dạng nọc mũi mác Ʌ hay ba nọc que (III) ghép lại dưới dạng chữ A hoa hiện nay.

Như đã biết theo nguyên tác tổng quát mộ tnọc que, hai nọc que, ba nọc que đều có nghĩa gốc như nhau như nọc, dương, lửa, mặt trời, bộ phận sinh dục nam… chỉ khác tính nòng nọc (âm dương), sinh tạo ở các tầng khác nhau trong qui trình của vũ trụ tạo sinh, dịch học. Ta cũng thấy rõ qua chữ A đứng đầu trong mẫu tự ABC tức số 1. Số 1 là số lẻ, số dương có một nghĩa là mặt trời.

Ví dụ:

Dưới dạng một nọc que (I).

Trong mẫu tự Ả Rập chữ A dưới dạng nọc que I gọi là alif.

clip_image026Alif (chữ A Ả Rập).

Chữ alif này thấy nhiều trong tên đấng Allah dưới nhiều dạng thư pháp hoa mỹ ở các đền Hồi giáo.

clip_image028Đấng duy nhất Allah chiến thắng (Only Allah Victorious) (Hình tác giả chụp tại Alhambra ở Granada, Andalusia, Spain).

.Dưới dạng hai nọc que II ghép lại thành nọc mũi mác Ʌ thấy trong tên Khan như đã nói ở trên chẳng hạn.

.Chữ a hoa ngày nay thường viết dưới dạng A gồm ba nọc que ghép lại .

Về tầm nguyên ngữ học, chữ A ở dạng nguyên thủy được tin rằng phát xuất từ hình ngữ đầu bò clip_image030 có hai sừng trong ngôn ngữ Semetic (1850 TDL) như thấy ở chữ thứ nhất trong hình Biography of a letter A ở dưới. Con bò đực có một khuôn mặt biểu tượng cho mặt trời trong cổ sử Ai Cập và hai sừng là hai nọc (II) biểu tượng cho lửa, thái dương…

clip_image032Các dạng chữ A (chữ Ʌ ở vị trí thứ 6 từ trái qua).

Rồi sau đó tiến hóa biến thành các dạng chữ A về sau. Rõ ràng A mang tính dương, thái dương ngay từ nguồn cội.

Chữ A trong linh tự Ai Cập là Ahau diễn tả bằng con kên kên, một loài mãnh cầm biểu tượng cho nọc, dương, lửa, mặt trời…

clip_image034(discoveringegypt.com).

Âm cầu nguyện được cho là linh thiêng nhất của Ấn giáo là AUM, theo James Churchward trong The Sacred Symbols of Mu có một cách giải thích theo mẫu tự ABC như sau:

clip_image036

Chữ A là Ahau mang dương tính: Masculine nam, Father cha.

Như đã nói ở trên, ta thấy A đứng đầu các mẫu tự ABC nên cũng có nghĩa là số 1, hạng nhất (hạng A). Số 1 có một nghĩa là mặt trời.

Ngoài ra các thần mặt trời dòng lửa, các tổ phụ thuộc dòng mặt trời có tên thường khởi đầu bằng mẫu tự A như thần mặt trời Atum, Atom, Adam, các vị thần nam, dòng mặt trời của Maya đều khởi đầu bằng chữ Ah như Ah Kinchil (Thần Mặt trời), Ah Puch (Thần Chết), Ah Makiq (Thần Nông ngiệp), v.v… Gốc Phạn ngữ Ar, cầy (plough) hàm nghĩa vật có mũi nhọn (lưỡi cầy làm bằng vật nhọn), arrow, mũi tên; gốc Phạn ngữ Ar, Ark, Arg, chiếu sáng (liên hệ với mặt trời, lửa), Phạn ngữ aggi, agni, lửa, hồn lửa. Việt ngữ cổ áng là cha (áng ná là cha mẹ)… Tất cả đều có gốc A.

Và còn nhiều nữa.

Ta cũng thấy rất rõ theo chữ nòng nọc vòng tròn-que, chữ A hiện nay gồm ba nọc là ba hào dương tức Càn hay Kiền biểu tượng cho nọc thái dương, lửa vũ trụ, ánh sáng, mặt trời, dương…

Từ thế kỷ thứ nhất đến thế kỷ thứ 12, chữ A hoa thường viết dưới dạng “Rustic capitals” hình từ nọc mũi mác Ʌ (chữ thứ 6 trong hình Biography of a letter A, từ trái qua phải ở trên). Chữ Ʌ (A) này ngày nay cũng còn dùng rất nhiều ví dụ hãng xe KIɅ của Đại Hàn.

Dạng chữ Ʌ này gồm có hai nọc ghép lại cũng mang những ý nghĩa giống như chữ A ba nọc chỉ khác tính nòng nọc (âm dương) sinh tạo.

Tóm lại chữ A dưới dạng nọc mũi mác Ʌ

theo duy dương biểu tượng cho nọc, đực, lửa vũ trụ, ánh sáng, mặt trời, thái dương…

-Hán ngữ hỏa (lửa).

clip_image038Hán ngữ hỏa.

Trong giáp cốt văn, Hán ngữ hỏa diễn tả bằng ngọn lửa có ba lưỡi nọc mũi mác tức ba dương, lửa vũ trụ, Càn. Chữ hỏa hiện nay gồm từ nọc mũi mác ở giữa cũng có một nghĩa là lửa thái dương. Hai lưỡi lửa hai bên biến thành hai nọc chấm coi như là một dấu chỉ thị lửa, thái dương.

Hiển nhiên từ nọc mũi mác trong chữ hỏa có một khuôn mặt lửa, thái dương, biểu tượng cho tượng lửa.

Như thế từ nọc mũi mác có một khuôn mặt biểu tượng cho cực dương, tượng lửa.

.Tượng Đất dương.

Từ nọc mũi mác chỉ thiên cũng mang hình ảnh núi tháp nhọn biểu tượng cho núi dương (nhọn đỉnh, núi lửa, Việt ngữ nổng, Hán Việt lĩnh), đất dương thế gian.

-Hình ngữ KHAN

Trở lại hình ngữ KHAN clip_image039ở trên, nếu nhìn dưới diện tiểu vũ trụ của trung thế, cõi người (người là tiểu vũ trụ con của đại vũ trụ) gồm ba tiểu thế: cõi trời, cõi đất và cõi nước thế gian thì từ nọc mũi mác Ʌ ở giữa biểu tượng núi tháp nhọn thái dương cõi giữa, cõi đất thế gian. Chữ KH hình vòm biểu tượng cõi trên, cõi trời, khí gió thái dương và chữ N hình sóng nước biểu tượng cõi, nước.

Qua từ KHAN ta thấy rất rõ từ nọc mũi mác mang hai nghĩa lửa thái dương Càn và đất dương thế gian lửa thiếu dương Li. Nghĩa khác nhau với tính sinh tạo khác nhau tùy ở diện nhìn theo

đại vũ trụ cõi tạo hóa và tiểu vũ trụ cõi sinh tạo thế gian.

-Từ mũi mác của người Uighur.

Trong Uighur ngữ từ nọc mũi mác diễn tả núi và

trong Hán ngữ là yo (gò?, đồi?) (James Churchward, The Sacred Symbols of Mu).

clip_image041

James Churchward cũng nhận thấy từ nọc mũi mác tương đương với tam giác (diễn tả đầu mác) hình núi tháp nhọn biểu tượng cho đất dương thế gian, tượng đất dương. Nghĩa rộng ra là “lên trời”. Cũng vì thế nọc mũi mác được bôi đen cho giống hình núi để phân biệt với nghĩa lửa thái dương.

-Hình ngữ Núi của tộc Ojibwa, thổ dân Mỹ châu.

Vũ Trụ quan của thổ dân Mỹ châu tộc Ojibwa có Cây Vũ Trụ, Cây Tam Thế.

clip_image043

HìnhVũ Trụ của Thổ dân Mỹ châu Ojibwa.

Vòng tròn trên đỉnh có bốn mũi mác Tứ Phương biểu tượng Thần Tạo Hóa Kitche Manitu. Thần Tạo Hóa ứng với Hư Vô và Tứ Tượng. Vòng cung biểu tượng vũ trụ, bầu trời, ở dưới là hình mặt trời có bốn nọc mũi mác là mặt trời vũ trụ tầng tứ tượng với hai đường cong tỏa ra diễn tả sự sống và thời gian. Dưới mặt trời này là những hình chim thú và người cũng ở dưới hai đường cong như trên, biểu tượng đời sống thế gian. Đường ngang là nền tảng của sự sống biểu tượng Cõi Đất Đá thế gian. Vòng tròn trắng là mặt trời và vòng tròn đặc đen là mặt trăng. Hiển nhiên mặt trời, mặt trăng ở đây là mặt trời của cõi nhân sinh, Cõi Giữa trần gian. Những lều tepees có hình dạng khác nhau biểu tượng các tộc, các cách sống khác nhau.

Ở góc dưới phải, ngoài cùng có hình nọc mũi mác bôi đen diễn tả núi thế gian biểu tượng đất dương thế gian (Heike Owusu tr. 194).

-Thiết diện của kim tự tháp.

Từ nọc mũi mác Ʌ có thể coi là một dạng thiết diện đứng của hình tháp nhọn đỉnh, hình kim tự tháp. Tháp, kim tự tháp biểu tượng cho Núi Trụ Thế Gian, Núi Vũ Trụ như Núi Meru chẳng hạn vì thế thiết diện đứng hình từ nọc mũi mác có một khuôn mặt biểu tượng cho đất dương thế gian.

…..

-Từ nọc mũi mác kép hay hình núi tháp hai vách.

Nhiều khi để tránh nhầm lẫn với nghĩa lửa thái dương nên núi tháp nhọn đỉnh, núi dương, núi lửa, núi đá, Núi Trụ Chống Trời, Núi Trụ Thế gian, đất dương thường diễn tả bằng hai hình nọc mũi mác chồng lên nhau thành hình tháp có hai cạnh, hai vách. Ví dụ:

.Hình ngữ rặng núi của thổ dân Mỹ châu:

clip_image045Hình ngữ rặng núi của thổ dân Mỹ châu.

.Khánh đá của Trung Hoa:

clip_image047Khánh đá Trung Hoa (C.A.S Williams, tr.156).

Khánh đá Trung Quốc hình núi vách kép có một khuôn mặt biểu tượng cho đất dương.

Xin nhắc lại trong vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo các nhạc cụ bộ gõ chính dùng trong tế lễ vũ trụ, trời đất, thần tổ diễn tả theo ý nghĩa của vũ trụ luận… Ví dụ:

-Mõ biểu tượng cho vũ trụ.

Mõ biến âm với Mo, bao bọc như mo cau, mo nang (nang có một nghĩa là trứng). Mõ có hình cầu tròn, hình bầu, hình nang biểu tượng cho Trứng Vũ Trụ, Vũ Trụ.

-Cồng biểu tượng không gian.

Vũ trụ có không gian và mặt trời. Mõ vũ trụ chia ra cồng không gian và trống mặt trời. Gồng, cồng biến âm còng (vòng đeo tay như còng mọi, còng số 8), với nòng, biểu tượng không gian.

-Trống biểu tượng mặt trời.

Trống có một nghĩa là đực (gà trống).

.Hán Việt cổ (trống). Cổ là cột, cọc, nọc như cổ người là cọc, cột cắm đầu vào thân người. Cổ là cột là phần nối dài của cột sống.

Vậy ở ngành dương Trụ của vũ trụ giáo, trống biểu tượng cọc, nọc, Trụ, cột, đực, dương, bộ phận sinh dục nam, mặt trời.

Ở đây khánh làm bằng đá (đất dương) hình núi tháp biểu tượng cho núi đá hình tháp nhọn, đất dương.

.Dạng núi tháp vách kép này cũng thấy ở hình thái Tứ Tượng trên trống đồng Ngọc Lũ I và các trống họ hàng (xem dưới).

-Từ nọc mũi mác núi tháp đầu bằng.

Trong nhiều nền văn hóa từ nọc mũi mác biến dạng thành hình núi tháp vách đơn hay kép bằng đầu diễn tả đất, đất dương ngành nọc âm.

Ta thấy rõ điểm này trong mẫu tự ABC. Chữ D diễn tả đất. Chữ D diễn tả đất thấy rõ qua chữ D Hy Lạp là delta ∆ hình núi tháp nhọn. Delta diễn tả núi dương nhọn đỉnh ngược lại mẫu tự D trong mẫu tự Nga diễn tả bằng hình tháp bằng đầu clip_image049.

clip_image051Một bích chương (ảnh của tác giả).

Hiển nhiên dạng tháp bằng đầu mang âm tính hơn so với dạng núi tháp nhọn đầu thường thấy trong các ngành nòng hay nọc âm thái dương.

Ví dụ như thấy trong:

. Văn hóa Maya.

Hình ngữ chỉ Đất cũng có hình tháp bằng đầu:

clip_image053Tác giả mặc áo Guatema có bốn hình ngữ diễn tả tứ tượng: Lửa, Nước, Đất Gió (hình chụp tại Tikal, Guetemala).

clip_image055

Hình ngữ tierra Đất trong có hình núi tháp bằng đầu:

clip_image057Từ Đất diễn tả bằng hình núi tháp bằng đầu.

Các tháp Maya có một khuôn mặt diễn tả Núi Thế Gian, trục thế giới biểu tượng cho Đất, thường ở dạng bằng đầu tức có thiết diện đứng là từ nọc mũi mác bằng đầu.

clip_image059Tháp Maya đầu bằng (ảnh của tác giả chụp tại Tikal).

và các cổng cũng vậy:

clip_image061Cổng hình núi tháp đầu bằng (ảnh của tác giả chụp tại Chichen Itza, Cancun, Mexico).

Như đã biết cổng của các kiến trúc thờ phượng như đền, đài, chùa, miếu thường diễn tả theo cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống), trục thế giới. Bước vào cổng là đi vào thế giới linh thiêng, đi vào tam thế, là đi vào cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) hay trục thế giới bỏ lại thế gian thế tục bên ngoài.

Ở đây các cổng vào Maya có hình núi tháp bằng đầu cũng mang ý nghĩa như vậy. Các cổng này có một khuôn mặt diễn tả núi trụ đất thế gian trong có trục thế giới.

.Tháp Chùa ở Bagan, Myanmar.

Ở một tháp chùa ở Bagan, Myanmar có những hàng chữ nòng nọc vòng tròn-que diễn tả tứ tượng, trong đó có những từ nọc mũi mác hình núi tháp bằng đầu vách kép diễn tả Đất.

clip_image062Một tháp chùa ở Bagan, Myanmar trên vách có những hình ngữ núi tháp bằng đầu vách kép diễn tả Đất (ảnh của tác giả).

Xin nhắc lại Phật giáo là tôn giáo tĩnh mang âm tính nòng âm vũ trụ. Trong khi Thiên Chúa giáo là tôn giáo động mang dương tín nọc dương mặt trời. Vì thế ở đây Đất trên tháp Phật được diễn tả bằng hình núi tháp bằng đầu vách kép mang âm tính.

.Bàn thờ

Từ nọc mũi mác bằng đầu được dùng làm biểu tượng cho bàn thờ.

clip_image064

Đây chính là hình ảnh một thiết diện của tháp bằng đầu Maya, có một khuôn mặt núi vũ trụ, núi trụ thế gian biểu tượng cho Đất thế gian và trong có trục thế giới. Hình ảnh bàn thờ này làm nhớ ngay tới cổng đơn hay cổng chính tam quan có mái ở trên của đền chùa Việt Nam và cổng torii của thần đạo Nhật Bản.

Hiển nhiên bàn thờ tháp bằng đầu là thiết diện đứng của tháp Maya bằng đầu là một thứ bàn thờ để hiến tế, dâng cúng lễ vật.

.Tượng Nước dương

Từ nọc mũi mác này cũng biểu tượng nước thái dương, sinh động, năng động, của ngành thái dương. Trong trường hợp này từ nọc mũi mác thay đổi vị trí để tránh lầm lẫn với nọc mũi mác chỉ thiên diễn tả lửa, đất đã nói ở trên. Có hai trường hợp thường thấy:

1. Nọc mũi mác quay về phía trái thành hình cùi chỏ trái <.

Nước mang âm tính nên nọc mũi mác theo chính thống quay về phía trái, chiều âm.

Ví dụ nhiều nọc cùi chỏ trái này đi liền nhau tạo thành hình gợn sóng <<<< để diễn tả nước chuyển động, nước chẩy, dòng nước.

clip_image066Thuyền trời Ai Cập có nước diễn tả bằng chuỗi từ <<<< (nguồn: tzingzro.com).

2. Từ nọc mũi mác lật ngược thành chữ V.

Nọc mũi mác để đỉnh chỉ địa trở thành hình chữ V biểu tượng cho nước dương, vực thẳm (nước thái dương của Cõi Âm, đất âm ngành nọc thái dương). Ví dụ thấy rõ trong văn hóa Latvia:

clip_image067Từ nọc mũi mác và từ chữ V trong trong văn hóa Latvia.

Lưu ý

Xin nhắc lại, từ nọc chữ V coi như đối ngược tính nòng nọc (âm dương) với từ nọc mũi mác. Tuy nhiên cần phải phân biệt hai trường hợp: từ V là hình lộn ngược của từ mũi mác trong ngành thái dương năng động nghĩa là V do hai nọc que kết hợp lại. Trường hợp thứ hai từ V là do hai nòng OO dương hóa cực đại mà thành tức ở ngành nòng khâu thái âm.

Trong hai trường hợp từ V có thể có nghĩa chồng lên nhau, giống nhau như nước thái dương, vực thẳm…

3. Chữ V có móc Nước.

Có trường hợp để dễ nhận và tránh lầm nghĩa, từ chữ V biểu tượng cho nước dương, chuyển động, sinh động có hai đầu được bẻ cong xuống thành hình móc nước.

Ví dụ thấy trong Đá Lịch Mặt Trời Aztec.

clip_image068Đá Lịch Mặt Trời Aztec.

Bây giờ chữ V diễn tả nước mang tính nọc âm thái dương trở thành do hai nọc que móc nước tạo thành.

.Tượng Gió dương.

-Từ nọc mũi mác có một khuôn mặt biểu tượng cho gió, không khí, bầu trời.

Ví dụ trở lại từ nọc mũi mác trong văn hóa Latvia có một nghĩa là bầu trời.

clip_image069

Bầu trời bao hàm nghĩa gió dương, không khí.

-Từ nọc mũi mác thay đổi vị trí diễn tả gió.

Gió là thiếu âm IO tức dương I của âm O. Đoài vũ trụ khí gió IIO là thái dương II của O, không gian và Tốn gió âm OII là nòng âm O thái dương II. Trong trường hợp này từ nọc mũi mác đầu quay về tay phải chiều dương mang dương tính (>). Đây chính là dấu “cùi chỏ phải” mang nghĩa lớn hơn (greater) trong toán học. Ta có thể thấy ở dạng một >, hai >> hay nhiều từ nọc mũi mác >>> mang nghĩa gió thái dương. Ví dụ như mũi tên có một khuôn mặt biểu tượng cho gió, hướng gió. Ở đuôi mũi tên thường có những từ nọc mũi mác diễn tả gió, bay trong gió:

clip_image070(nguồn: yatesfamilyartisans.com).

-Vũ Trụ, Tam Thế, Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống).

Như đã thấy, từ nọc mũi mác mang nghĩa thái cực, lưỡng nghi, tứ tượng, dĩ nhiên nọc mũi mác mang nghĩa tam thế, cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống), sinh tử, tái sinh, hằng cửu.

Ví dụ:

Nọc mũi mác là thiết diện đứng của Núi Trụ Thế gian, Núi Vũ Trụ, Núi Tam Thế như núi Meru thì hiển nhiên có những khuôn mặt vũ trụ, tam thế, cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống).

-Trục Thế Giới.

Trong trường hợp là thiết diện đứng của hình kim tự tháp diễn tả Núi Vũ Trụ thì từ nọc mũi mác cũng có một khuôn mặt trục vũ trụ ở phần đất thế gian. Kim tự tháp là trục thế giới, đường về thượng thế của những vua chúa chôn trong đó.

Như đã nói ở trên, nọc mũi mác bằng đầu dùng làm biểu tượng cho bàn thờ.

clip_image072 Đây chính là hình ảnh của tháp bằng đầu như tháp Maya. Mặt bằng tháp thường là nơi hiến dâng tế vật, hiến tế tới tam thế vì như đã biết tháp có một khuôn mặt là núi vũ trụ, núi trụ thế gian, trục thế giới.

Hiển nhiên từ nọc mũi mác bằng đầu làm bàn thờ có một khuôn mặt là trục thế giới.

-Sự Sống, Tái Sinh Vĩnh Cửu.

Từ nọc mũi mác cũng mang tất cả những ý nghĩa của qui trình vũ trụ tạo sinh hiển nhiên bao gồm cả sự sống, tái sinh, hằng cửu.

Ta thấy rõ qua khuôn mặt là thiết diện của cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống).

Ngoài ra nọc mũi mác cũng là biểu tượng cho mặt trời nọc tia sáng thái dương. Những người theo đạo mặt trời (như thờ Shiva), thờ lửa cho rằng mặt trời là nguồn gốc của vạn vật, tạo ra sự sống, tàn phá, thiêu hủy gây ra chết chóc và dĩ nhiên cũng tạo ra tái sinh, vĩnh cửu.

Tóm lược, nọc mũi mác mang tất cả ý nghĩa của thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh ở dạng thái dương năng động ở tầng lưỡng nghi và tứ tượng nhưng khuôn mặt tứ tượng mới đích thực là khuôn mặt mang tính chủ.

 Chuỗi Nhiều Từ Nọc Mũi Mác.

Trong nhiều trường hợp các từ nọc mũi mác nối kết lại thành từ chuỗi hay vành tròn mang trọn vẹn nghĩa vũ trụ thuyết của từ gốc mũi mác nhưng ở dạng vận hành, chuyển hành, sinh động, tạo sinh, luân hồi, vô cùng vô tận…

1. Chuỗi hay vành đi một mình với một nghĩa.

.Với một nghĩa nọc thái dương, lửa thái dương, Càn của nhánh nọc dương thái dương.

Ví dụ:

-Hình sóng lửa chuỗi nọc mũi mác.

clip_image074Biểu tượng trang trí của bốn yếu tố.

Chuỗi nọc mũi mác ở hàng thứ ba diễn tả lửa chuyển động, sinh động mang tính thái dương.

.Thần Mặt Trời Incas

Thần mặt trời Incas còn gọi là Apu-Punchau có tia sáng hình gợn sóng, theo duy dương là hình ánh sáng chuỗi nọc mũi mác (xin nhắc trong Quang Học, ánh sáng truyền theo sóng):

clip_image076Thần Mặt Trời của người Incas có tia sáng hình chuỗi nọc mũi mác (Museo Arqueologico y Galerias de Arte del Banco Central, Quito) (Madanjeeth, f. 511).

.Mặt Trời Sudan.

Trong nghệ thuật chạm chổ đồ gỗ của người Sudan, Châu Phi, vành mũi mác biểu tượng cho ánh sáng mặt trời:

clip_image078Những đĩa mặt trời của người Sudan (University of Iowa Museum of Art, Iowa City, Stanley Collection of African Art) (một phần trong hình 475, của Madanjett Singh).

Những vành này in hệt những vành răng cưa trên trống đồng chỉ có khác là tất cả các vành sáng đều từ tâm chỉ ra ngoài biên mang nghĩa tia sáng mặt trời (trên trống đồng có những vành răng cưa hướng tâm có thể mang nghĩa khác, phải dựa vào các chi tiết khác để chọn nghĩa) (xem dưới).

.Vương miện Tây Phương.

Vương miện của vua chúa Tây phương có hình vành mũi mác biểu tượng mặt trời thái dương (Con Trời hay Trời).

Chiếc mũ của các thầy pháp người Thổ (Mán Son-toi) ở Yên Báy cũng có vành mũi mác mặt trời thái dương giống như vương miện của vua chúa Tây phương:

clip_image079Mũ từ nọc mũi mác mặt trời thái dương của thầy pháp người Thổ (O Jansé plate 125, hình 2).

Các ông mo, thầy pháp này đội lốt mặt trời.

-Nhà nọc thái dương, mặt trời của người Katu.

Trên nóc nhà lang, nhà nọc mặt trời thái dương (một thứ đình như của chúng ta) của người Katu có trang trí một con chim bổ cắt đầu có mũ sừng hình nọc (vì thế Anh ngữ gọi là hornbill), có đuôi cũng có hình là nọc que nhọn. Đầu và đuôi là hai nọc tức thái dương và hai nọc cũng = bổ (|) Cắt (|). Thân chim tức là đường đỉnh nóc nhà hình chuỗi từ nọc mũi mác, nọc thái dương. Để ý chim quay về phía tay phải tức theo chiều dương, chiều mặt trời.

clip_image081Nhà Katu có hình chim cắt trên nóc nhà (theo Maurice).

Đây là nhà nọc, nhà lang, nhà mặt trời chim bổ cắt mặt trời thái dương của người Katu. Họ có chim tổ tối thượng tối cao là con chim cắt, chim Rìu, chim Việt như người Việt chúng ta (xem chương Ý Nghĩa Hình Nhà Trên Trống Đồng).

2. Chuỗi hay vành từ nọc mũi mác đi một mình với hai khuôn mặt nòng nọc (âm dương) đối cực.

Ví dụ:

Chùa Gameunsa, Đại Hàn.

Trên vách đá tháp có khắc các ‘Biểu Tượng Tối Thượng’ và biểu tượng hình học.

clip_image083

Nhìn theo duy dương, hình khắc chuỗi nọc mũi mác nổi diễn tả sóng lửa thái dương chuyển động, sinh động. Nhìn theo duy âm là chuỗi chữ V chìm diễn tả nước thái dương sinh động. Ta có lưỡng hợp lửa thái dương-nước thái âm sinh tạo, tạo hóa. Đĩa tròn ‘hình học’ cũng diễn tả theo duy dương là hai nọc dương nổi tức thái dương chuyển động dưới dạng hai cánh chong chóng cong nổi và theo duy âm là hai nọc âm chìm tức nọc âm thái dương chuyển động dưới dạng hai cánh chong chóng cong chìm. Ta cũng có cùng nghĩa lưỡng hợp thái dương và thái âm ngành nọc thái dương như hình sóng nọc mũi mác nổi và chữ V chìm. Đĩa này xác thực chuỗi sóng mũi mác phải đọc theo chiều nòng nọc (âm dương) đối cực nổi và chìm.

-Rắn thổ dân Tây Nam Hoa Kỳ.

clip_image084Rắn thổ dân Tây Nam Hoa Kỳ.

Như đã nói ở trên, nếu nhìn theo duy dương thì trên người con rắn này có chuỗi từ nọc mũi mác diễn tả nọc thái dương, lửa thái dương chuyển động sinh tạo. Rắn có một khuôn mặt biểu tượng cho nước thái âm. Ta có lưỡng hợp lửa thái dương với thái âm nước.

Lưu ý:

Theo đúng nguyên tắc tổng quát của chữ nòng nọc vòng tròn-que: nét nhỏ, mảnh khảnh mang dương tính và nét to, đậm mang âm tính nên lửa thường được diễn tả bằng chuỗi sóng nhọn đỉnh nhỏ nét, mảnh khảnh, cạnh sắc, dài, đỉnh rất nhọn và sít lại gần nhau.

Ví dụ thấy ở:

-Hình diễn tả rắn-sấm của thổ dân Mỹ châu:

clip_image086

Hình rắn-sấm (lôi xà) gồm có chuỗi sóng nọc mũi mác nét nhỏ ở trên diễn tả lửa thái dương, chớp. Trong khi chuỗi sóng to nét, đen đậm chữ V ở dưới diễn tả nước thái âm, mưa mang tính thái dương. Lửa thái dương, chớp liên tác với nước thái dương, mưa dưới dạng chuyển động, sinh động tạo ra sấm mưa.

-James Churchward, The Sacred Symbols of Mu cũng xác thực điểm này. Chuỗi sóng nọc mũi mác nét nhỏ, sít gần nhau diễn tả lửa thái dương được gọi là ‘xương cá mòi (herring bone)

clip_image087

như thấy ở hình ngữ “hỏa lò” hay “hỏa ngục“ “tank of fire or a fiery pit” của Ai Cập cổ trong Sách Của Thần Chết (“Book of the Death”).

clip_image089Hình “hỏa lò” trong “Book of the Death”.

 Hình Thái Các Từ Nọc Mũi Mác Chồng Lên Nhau.

Hình thái này thấy ít trong các nển văn hóa khác nhưng thấy rất nhiều trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn (xem dưới).

 DẤU NỌC MŨI MÁC.

Từ nọc mũi mác cũng được dùng dưới dạng là một dấu (accent) như một chỉ định từ tố (determinative, indicator) với cùng nghĩa với chữ hai nọc que. Từ và dấu nọc mũi mác nhiều khi dùng lẫn lộn khó phân biệt. Dấu thường thường dấu nhỏ hơn từ. Nhiều khi có thể đọc được theo cả hai dạng từ và dấu.

Ví dụ: Vòm củ hành Tây đã nói ở trên. Nếu nhìn theo duy âm phía bầu cường điệu mang tính chủ (chỏm củ hành mang tính liệt) thì vòm củ hành Tây mang ý nghĩa vòm nòng O không còn là một dạng bầu nòng nọc (âm dương) đối cực như bầu nậm nữa. Chỏm vòm hình Ʌ bây giờ trở thành một dấu mang nghĩa thái dương. Như thế vòm bây giờ có nghĩa là nòng O thái dương, là bầu vũ trụ, bầu không gian thái dương tức Khôn dương, là bầu trời, khí gió dương. Vòm củ hành Tây giờ là bầu vũ trụ dương, bầu trời, bầu khí gió.

Con rắn của thổ dân Mỹ châu đã nói ở trên, nếu nhìn theo duy âm, ngành nòng nước thì chuỗi từ nọc mũi mác có thể là dấu chỉ định thái dương.

(còn nữa).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: