CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE, TỪ HAI NỌC QUE (7): TỪ CHỮ T.

CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE.

(Circle-Rod Writings).

TỪ HAI NỌC QUE II.

(Two Rod Word).

(Phần 7)

Nguyễn Xuân Quang

TỪ HAI NỌC QUE KẾT HỢP: TỪ CHỮ T.

Như đã nói ở trên, ngoài dạng dính chập lại thành một, hai nọc que kết hợp lại còn có thể ở dạng tạo thành các từ khác như từ nọc mũi mác clip_image002, chữ V, chữ T, chữ L, chữ thập +, chữ X… Ở đây chỉ xin chuyên chú nói nhiều tới vài dạng từ thấy nhiều trên trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn.

Điểm cần lưu tâm là theo nguyên tắc, tổng quát các từ dạng kết hợp này cũng mang trọn vẹn ý nghĩa của vũ trụ tạo sinh và có chức vụ như từ hai nọc que. Tuy nhiên mỗi dạng từ kết hợp này có một vài khuôn mặt đặc biệt được dùng nhiều hơn các khuôn mặt khác (được coi như là phụ). Ví dụ từ chữ T thường được dùng nhiều với nghĩa gò đất nguyên khởi, trụ chống trời, trục thế giới, cõi đất thế gian, trung thế, cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống)… (xem dưới).

TỪ HAI NỌC QUE KẾT HỢP THÀNH CHỮ T.

Hai nọc que kết hợp lại thành từ chữ T (Hy Lạp ngữ gọi là tau).

Như đã nói ở trên, từ chữ T có tất cả các ý nghĩa của từ hai nọc que II riêng rẽ, chỉ khác tính chủ sinh tạo và có vài khuôn mặt chính riêng biệt.

Chữ T có một nọc que nằm ngang liên hệ với mặt đất bằng, đất cõi giữa thế gian, chữ T với đầu ngang mang hình một trụ chống nên coi như là biểu tượng cho trụ chống trời, tách trời đất ra làm hai lúc khai thiên lập, địa. Chữ T vì thế cũng mang hình ảnh của trục thế giới, cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống)…

Vì thế từ chữ T thường được dùng nhiều với nghĩa gò đất nguyên khởi, trụ chống trời, trục thế giới, cõi đất bằng thế gian, trung thế, cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống)…

Bây giờ ta lướt qua ý nghĩa của từ chữ T trong qui trình vũ trụ tạo sinh.

-Thái cực

Từ T có một khuôn mặt nọc dương quện với nòng O ở dạng thái cực thấy qua:

1. Người bán nam bán nữ ardanari.

clip_image003Hình người bán nam bán nữ Ardanari.

Bộ phận sinh dục của người ái nam ái nữ này có hình ngữ ankh để ngang. Ankh được hiểu là Chìa Khóa của Sự Sống (Key of Life).

Bộ phận sinh dục nam là phần chữ T mang tính nọc thái dương ở phần thân bên phải (phải là dương) hôn phối với phần quai cong chữ U kép ở nửa thân người nữ bên trái (trái là âm) do hai nòng OO mở ra diễn tả bộ phận sinh dục nữ (âm đạo) mang tính âm thái dương (U là dạng thái dương âm của O ở phía nòng O).

Ở đây bộ phận sinh dục nõ nường dưới dạng ankh nhất thể ứng với thái cực nên người này ở dạng bán nam bán nữ và từ chữ T diễn tả bộ phận sinh dục nam nhìn dưới dạng nòng nọc (âm dương) còn quyện vào nhau có một khuôn mặt thái dương của thái cực.

Ở một chỗ khác ta thấy rõ hơn, ankh diễn tả theo dạng người nhất thể, một dạng bán nam bán nữ.

clip_image004Ankh dưới dạng Người ở Đền Edfu, Ai Cập (ảnh của tác giả).

Rõ như ban ngày người Ankh diễn tả bộ phận sinh dục nam bằng từ chữ T mang tính dương thái dương hôn phối với bộ phận sinh dục nữ hai nòng OO biến dạng mang tính thái âm, là người ở dạng lưỡng hợp thái dương-thái âm ở tầng tứ tượng.

Lưu ý cây gậy was cầm ở hai tay người ankh thường đi đôi với ankh như hình với bóng.

clip_image005Ankh và was đi đôi với nhau (nguồn: horus86.tripode.com).

Was cũng là gậy nòng nọc (âm dương) có đầu trên sừng thú hình búa chim (búa là bổ là buồi) là nọc và đầu dưới hình vòm nòng chữ U ngược hình vòm âm đạo là dạng âm thái dương của nòng O là nường (nòng, lồng, lồn). Gậy was nòng nọc, nường nõ, là gậy thần sinh tạo, tạo sinh, tạo hóa.

Tên was cũng cho thấy was có W là V V tức nòng O thái dương (như đã thấy W: Woman), A do ba nọc que hợp lại, là III, là nọc I dương II. Còn lại S có một khuôn mặt chuyển động, sinh tạo. Was là nòng nọc, nường nõ sinh tạo. Gậy was có một nghĩa của ankh.

Hiển nhiên Ankh là hôn phối nõ nường, nòng nọc (âm dương) sinh ra sự sống, là Key of Life.

2. Linh tự Ai Cập sema (union).

Linh tự “sema”, “union” (kết hợp, hôn phối) được diễn tả bằng hình một que-nọc hình cây đinh, một dạng biến thể của từ nọc chữ T. Cây đinh đục, đâm qua túi hình tam giác tròn đỉnh.

clip_image007Linh tự sema (Richard H. Wilkinson, tr. 81).

Các nhà Ai Cập học ngày nay giải thích linh tự này như sau: “linh tự sema biểu tượng hai lá phổi dính vào khí quản, một đơn vị cơ thể học cung cấp một biểu tượng thiên nhiên cho quan niệm kết hợp hai phần bằng nhau…” (“The sema hieroglyph represents two lungs attached to the trachea, an anatomical unit which provided a natural symbol for the concept of the unification of equal parts…”) (Richard H. Wilkinson, tr. 81). Đối với tôi, đây là một linh tự có gốc từ chữ nòng nọc vòng tròn-que. Thật giản dị cây nọc nhọn, cây đinh, cây đục (khí quản!) là từ nọc que chữ T, dương, thái dương biểu tượng cho cơ quan sinh dục nam đâm vào túi hình tam giác ngược tròn đầu (“hai lá phổi”) là âm hộ, là hai nòng OO ở dạng biến thể.“Hai lá phổi” chính là hai đại âm thần (labia majora). Linh tự này hiểu theo nghĩa “dâm phong” ngoài vòng “lễ giáo” của “Man Di” cổ Việt là “làm tình”, giao hợp, đúng như Hồ Xuân Hương đã tả:

Quân tử có thương thì đóng cọc,

Xin đừng mân mó nhựa ra tay.

dĩ nhiên có nghĩa bóng là giao hòa âm dương, hôn phối, kết hợp, “union”.

Nghĩa âm dương kết hợp của “sema” thấy rất rõ trên một bình bằng ngọc trắng (alabaster) tìm thấy trong mộ vua Tutankhanum.

clip_image009

Bình nậm ngọc trắng trong mộ Tutankhanum, Thebes.

(Eighteenth Dynasty), (Richard H. Wilkinson, tr. 80).

Chiếc bình có hình linh tự kết hợp âm dương “sema” nọc  T đâm vào nòng. Ở góc phải phía trên, tức chiều dương có hình hoa đực có nhụy đực giống hình qui đầu ở giữa. Hoa đực này biểu tượng “một dương” tức thiếu dương, góc phải dưới có hai hình hoa đực. Hai dương là thái dương. Phía bên trái tức theo chiều âm, có hình hoa cái giống như hoa kèn có hình túi âm đạo biểu tượng một âm, tức thiếu âm. Góc trái dưới có hai hoa cái tương tự là hai âm hay thái âm. Hiển nhiên chiếc bình hoa này mang trọn nghĩa âm dương, tứ tượng, dĩ nhiên mang nghĩa vĩnh cửu, tái sinh. Chiếc bình này để trong mộ Tutankhanum mang trọn ý nghĩa đó, cầu chúc cho vị vua này được về miền vĩnh cửu hay tái sinh.

Ta thấy rất rõ cây đinh từ hai nọc que chữ T mang tính thái dương hôn phối với hình hai lá phổi là hai nòng OO biến dạng mang tính thái âm. Ta co lưỡng hợp thái dương với thái âm.

Nhìn theo diện nòng nọc (âm dương) nhất thể, ta có một khuôn mặt thái cực ở khâu thái dương từ hai nọc que chữ T.

-Lưỡng Nghi

Cực dương

Nhìn theo diện phân cực, từ T có một nghĩa là nọc, đực, thái dương, bộ phận sinh dục nam biểu tượng cho cực dương ở tầng tứ tượng như vừa thấy rõ ở trên.

-Tứ Tượng

.Tượng đất dương.

Như đã nói ở trên, tượng mang tính chủ của từ chữ T là tượng đất đương, núi chống trời.

Trong chữ nòng nọc vòng tròn-que từ chữ T là do hai nọc (II) ghép lại. Hai nọc ghép lại thành hình chữ T là hình trụ chống đỡ, có khuôn mặt là Núi Tháp Bằng Đầu, Núi Trụ Thế Gian, Núi Trụ Chống Trời, Cõi Đất thế gian, Trục Thế Giới, Gò Đống Nguyên Khởi (primeval mound) thấy trong truyền thuyết sáng thế của nhiều nền văn hóa thế giới như :

./Gò Đất Mẹ Mu.

Theo James Churchward trong The Sacred Symbols of Mu, Núi Trụ Thế Gian, cõi đất thế gian, vùng đất tMẹ Mu ở vùng biển Đông Nam Á xưa khởi sự là do từ gò đất nguyên khởi hình chữ T nhô lên từ biển vũ trụ tạo ra. ‘The Tau is Mu emerged’.

clip_image010Sự khai sinh ra Núi Trụ Thế Gian, cõi đất thế gian, vùng đất Mẹ Mu và hươu Keh, con Người Đầu Tiên trên quả đất (James Churchward).

Vì thế từ chữ T có một nghĩa là ‘emersion’ (‘nổi lên từ lòng biển cả âm thế, trồi lên từ đáy vực sâu’).

Rồi sau đó trên gò đất nguyên khởi nẩy sinh ra cây cỏ, muông thú và con người đầu tiên có cốt là con hươu sừng. Ngôn ngữ Đông Á cổ mà ông gọi là Maya-Naga ngữ gọi là keh có nghĩa là con hươu và cũng là con người đầu tiên của nhân loại (Children of Mu).

Keh chính là Việt ngữ kẻ có nghĩa là nọc que thẳng (như thước kẻ), kì (cổ ngữ của cây), người như Kẻ Chợ (kẻ là người thuộc ngành nọc dương Kì, núi, ngành nọc dương nhánh Kì Dương Vương).

Hươu Keh là Việt ngữ Hươu Kì, với Kẻ chính là Kì (Dương Vương), vua tổ Xích Quỉ và cũng là người đầu tiên của nhân loại có cốt là con Cọc (nọc, que, ke, kẻ), tức hươu sừng nên Kì Dương Vương mới có nhũ danh là Lộc Tục (Hươu Đục, Hươu Đực, hươu nọc, hươu sừng) (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Lưu ý gò đất nguyên khởi hình chữ T cũng mang hình ảnh của một cây trụ chống đỡ nên rõ như ban ngày mang hình ảnh Núi Trụ Chống Trời.

Có cùng vũ trụ quan này, truyền thuyết Ai Cập cổ cho rằng gò đất nguyên khởi nhô lên từ Biển Vũ Trụ và trong Ấn giáo cũng có truyền thuyết nói rằng núi Vũ Trụ Meru nhô lên từ biển vũ trụ. Truyền thuyết Việt cho rằng người Việt có nguồn gốc từ Động Đình Hồ. Giữa hồ này có một núi cao là Quân Sơn, mang hình ảnh của gò đất nguyên khởi (Hồ Động Đình và Bách Việt).

./Gương Đồng LTV Trung Quốc.

Các nhà nghiên cứu về gương đồng Trung Quốc hiện nay xếp loại những gương đồng có những đặc điểm chung vào một nhóm gương đồng gọi là gương LTV.

Sau đây là cách giải đọc một gương TLV theo các học giả Trung Quốc và Tây phương hiện nay đã được Wikipedia đăng tải cho cả thế giới làm tài liệu.

Ở giữa mỗi cạnh hình vuông của mặt một chiếc gương đồng đời Hán LTV này có hình thái hình chữ T nhô ra như những chiếc cổng nhô ra của một khuôn viên hình vuông.

clip_image012

Giữa mỗi cạnh hình vuông có hình thái hình chữ T nhô ra.

Bốn hình chữ T diễn tả ‘Bốn Cửa của Vương Quốc ở Giữa’ ứng với Trung Thế, Cõi Giữa Nhân Gian (Trung Hoa xưa coi mình là trung tâm điểm của cõi đất thế gian) thấy nói nhiều trong sách vở. Chúng cũng có thể diễn đạt ý tưởng của bốn cổng bên trong của chỗ hiến tế thời Hán hoặc là cửa của lăng tẩm vua chúa xây trong thời nhà Hán.

-Hình thái chữ L

Nằm cùng thẳng hàng với chữ T là chữ L dính vào vành ngoài cận mé gương.

clip_image013Hình thái hình chữ L.

Hình chữ L có thể biểu tượng các đầm lầy bên ngoài ‘Tứ Hải’, nơi tận cùng của quả đất. Chỗ cong gấp khúc của chữ L có thể được dùng như tác dụng của một trục quay biểu tượng cho bốn mùa, liên hệ mật thiết với tứ phương.

-Hình chữ V

Ở bốn góc hình vòng tròn giới hạn lòng gương có bốn hình góc vuông nằm theo các chiều khác nhau mà các tác giả Trung Hoa và Tây phương hiện nay gọi là chữ V. Bốn chữ V góc vuông này tạo ra hình chữ thập ở lòng gương.

clip_image014Hình thái chữ V.

Hình dạng này diễn tả năm hướng của Trung Hoa về: Bắc, Nam, Tây, Đông và Trung Tâm. Hình vuông ở giữa biểu hiện Trung Hoa là Vương Quốc ở Giữa (thế giới). Vùng giữa hình vuông và vòng tròn diễn tả ‘Tứ Hải’. Hình vuông nằm trong gương tròn dựa theo Trung Hoa cổ là trời tròn và đất vuông.

Tôi dựa vào chữ nòng nọc vòng tròn-que nên nghĩ khác. Sau đây là cách giải đọc của tôi.

Giải Đọc Gương TLV Theo Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que Của Tôi.

Như đã biết gương vũ trụ TLV là một khuôn mặt đối cực nòng nọc, âm dương với trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Trống diễn tả vũ trụ luận, dịch lý. Như thế gương đồng Trung Quốc một số cũng có một khuôn mặt diễn tả vũ trụ luận, dịch lý với tính nòng nọc (âm dương) đối ngược lại với trống đồng. Trống đồng nòng nọc (âm dương) nhiểu khi diễn tả một thứ mandala tròn trong khi gương đồng diễn tả mandala tròn vuông (trời tròn đất vuông). Madala là một hình đồ thường diễn tả cấu tạo của vũ trụ  theo vũ trụ luận, vũ trụ tạo sinh  tức dịch.

Điều này thấy rõ qua sự kiện là có cả các gương như gương Đời Đường và nhất là các gương muộn ở các thời sau đó thường có khắc dịch đồ. Ví dụ như thấy ở một gương đồng đời nhà Minh:

clip_image016Một gương đời Minh có khắc dịch đồ.

Vì thế phải giải đọc TLV theo chữ nòng nọc vòng tròn-que, dịch học, sự giải nghĩa theo suy đoán hiện nay không tới nơi tới chốn và lệch lạc.

Tôi chọn gương đồng Đại Khánh, Bắc Thanh Hóa để giải đọc cho chính xác vì đã có hình vẽ chi tiết.

clip_image017Plate 29.

Gương đồng Đại Khánh, Bắc Thanh Hóa, trên hữu ngạn sông Mã

(nguồn: Olov R. T. Janse, Archaeological Research in Indo-China, Cambridge Massachusetts, Harvard University Press, 1951).

Ở đây ta thấy từ nọc chữ T coi như cổng của hình vuông diễn tả đất thế gian nên có một nghĩa biểu tượng cho Đất Thế Gian, cõi giữa nhân gian ứng với Li.

Nọc chữ T biểu tượng cho Đất dương thế gian nên để dính vào bốn mặt hình vuông-đất thế gian. Như đã nói ở trên , gương đồng này có thể diễn tả một thứ mandala vuông tròn (trời tròn đất vương).

Như thế hình chữ T trên gương đồng TLV có một ý nghĩa biểu tượng cho Đất, tượng Đất Li.

Còn chữ L được cho là  biểu tượng các đầm lầy bên ngoài ‘Tứ Hải’, không đúng, phải là chữ V có một khuôn mặt là nước thái dương. Còn lại chữ cho là  chữ V  ở bốn góc tạo ra chữ thấp thì đây phải là chữ L có một khuôn mặt biểu tượng hoc lửa… (Gương Đồng Trung Quốc và Trống Đồng Đông Sơn ).

…..

Tóm lại từ nọc chữ T có nghĩa là cõi đất thế gian, Trung Thế, Núi Trụ Thế gian, Núi Trụ Chống Trời, Trục Thế Giới ứng với Li.

.Tượng Gió dương.

Trong văn hóa Maya, Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) được biểu tượng bằng từ nọc chữ T (xem dưới). Từ nọc chữ T biểu tượng cho Cây Đời Sống, Sự Sống nên  cũng biểu tượng cho không khí, gió và hơi thở thánh thần của thượng đế.

Hunbatz Man, an contemporary Mayan writer, also refers to the “T” symbol as the Sacred Tree, represented for the Maya as “Yaxche”, the stately and sacred Ceiba tree. “Additionally, this symbol represented the air, the wind and the divine breath of God. The relationship which the Maya made between the tree and the wind is notable because it was based upon their own experiences and scientific observations….the wind (itself) was used in spiritual rituals.”

t-air

The Wind God Ehecatl/Quetzalcoatl Next to His “T” Shaped Throne (nguồn: angelfire.com).

The wind, as a force that moves, can be felt, but is not seen, symbolized the creative power of the gods and of life itself.

Như thế từ nọc chữ T có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng gió.

-Tam Thế, Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống).

Từ chữ T trong nhiều nền văn hóa thế giới có một khuôn mặt là Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) biểu tượng Tam Thế mang trọn vẹn ý nghĩa thuyết vũ trụ tạo sinh như thấy trong văn hóa của người:

./Ai Cập cổ.

Cây Vũ Trụ của Ai Cập cổ có hình chữ T.

clip_image019Cây vũ trụ hình chữ T của Ai Cập cổ.

(xem các bài Sự Tương Đồng Giữa Ai Cập Cổ và Cổ Việt).

./Maya

Cây Tam Thế, Cây Vũ Trụ, Cây Đời Sống Maya cũng được biểu tượng bằng một cây hình chữ T.

clip_image021Cây Tam Thế, Cây Vũ Trụ, Cây Đời Sống Maya hình chữ T (tau) (James Churchward, The Sacred Symbols of Mu).

(Cây có quả ở thân cây mang hình ảnh cây cacao).

Thượng thế diễn tả bằng hình con chim.

Cành Cây ngang là Trung Thế, Cõi Đất thế gian.

Rễ Cây là Hạ Thế.

Thân Cây là Trục Thế Giới nối kết, thông thương Tam Thế.

Điểm lý thú là Maya ngữ gọi cây là “te” và Cây Tam Thế có hình chữ T (phát âm theo tiếng Việt là Tê giống âm Maya te).

./Cây Vũ Trụ hình thánh giá:

Ta thấy nếu kéo thân đứng chữ T lên khỏi nhánh ngang một chút ta có hình thánh giá. Vì thế chữ T và thánh giá có một khuôn mặt như nhau. Những thánh giá cổ thời có hình chữ T (xem dưới).

Vì vậy người Maya cũng có cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) hình thánh giá.

clip_image022Cây Tam Thế hình thánh giá ở Đền Thập Tự (Temple of the Cross)  Palenque (Wikipedia).

Đỉnh thánh giá là vòm cây thượng thế ở đây diễn tả bằng hình con Chim Cõi Trời Thiên Điểu Itzam Yeh. Thanh ngang của thánh giá là trung thế được diễn tả bằng con Rắn hai đầu (vì Maya thuộc dòng nòng, âm, nước, đất thế gian là đất âm có nước nên mới biểu tượng bằng rắn hai đầu). Chân thánh giá là phần rễ cây vũ trụ là Hạ Thế, cõi âm được diễn tả bằng mặt một loài thủy quái có miệng là ngõ vào cõi âm. Thân cây vũ trụ tức trụ cây thánh giá là Trục Thế Giới nối kết, thông thương Tam Thế.

Cây thánh giá Tam Thế, Cây Vũ Trụ, Cây Đời hình chữ T của Maya trông giống cây thánh giá của Thiên Chúa giáo đã khiến cả hai nhập vào nhau thành một. Vì thế đã giúp người Tây Ban Nha cải đạo, đổi đức tin của người Maya rất dễ dàng. Quả thật ra thì cũng đúng vì trong Thiên Chúa giáo, khi cây thập tự cắm trên một đế cao cũng mang hình bóng Cây Tam Thế, Cây Vũ Trụ, Cây Đời Sống ví dụ như: cây thánh giá cắm trên đế hình tháp có ba bậc Tam Thế biểu tượng cho Cây Tam Thế của Thiên Chúa giáo Coptic Ai Cập cổ.

clip_image023Cây thánh giá cắm trên đế hình tháp có ba bậc Tam Thế biểu tượng cho Cây Tam Thế của Thiên Chúa giáo Coptic Ai Cập cổ (hình của tác giả chụp tại một nhà thờ Coptic ở Ai Cập).

Hay cây thánh giá cắm trên hình tháp nhọn đỉnh thấy trong các biểu tượng của Thiên Chúa giáo cũng biểu tượng cho vũ trụ, cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống).

clip_image024Cây thánh giá trên đế hình tháp nhọn mang nghĩa vũ trụ (cây).

(Tài liệu tác giả lấy tại Alberobello, vùng Puglia, Ý nơi có những ngôi nhà Trulli hình nón tròn xoay trên nóc có rất nhiều biểu tượng liên hệ với Vũ Trụ Tạo Sinh).

Điểm này dễ hiểu vì như đã biết ảnh hưởng của Vũ Trụ giáo còn thấy rất rõ trong các tôn giáo lớn ngày nay như Ấn giáo, Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo.

-Trục Thế Giới

Từ chữ T mang nghĩa Núi Trụ Chống Trời, Núi Trụ Thế Gian, Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) hiển nhiên trong có Trục Thế Giới.

Ta thấy rất rõ nhất qua lời giải thích của James Churchward trong The Lost Continent of Mu dưới đây:

clip_image025Tau trong một thủ ký Maya.

Hình Tau (T) là một biểu tượng phổ quát. Nó thấy trong chữ viết của Ấn Độ, Trung Hoa, Chaldeans, Incas, Quichés, Ai Cập cổ và các chủng tộc người khác. Nó giữ một phần quan trọng trong tôn giáo. Các bàn thờ trong các đền đài, trên đó dâng lễ vật hoa quả, được xây dựng theo hình chữ Tau (James Churchward, The Lost Continent of Mu).

.Bàn Thờ Tam Thế

Các vật dùng dâng vật hiến tế, lễ vật thường có hình chữ T hay thiết diện hình chữ T ví dụ:

./ Bàn thờ chữ T trong các nền văn hóa cổ.

Theo James Churchward các bàn thờ trong các nền văn hóa cổ từ ngàn xưa đã có hình chữ T, mang hình bóng của trục thế giới, cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống).

clip_image027Bàn thờ chữ T (nguồn: (James Churchward, The Sacred Symbols of Mu).

Hai hình tam giác chồng lên nhau tạo thành một hình tam giác có hai cạnh đứng vách kép. Đây cũng là một biến dạng của núi tháp nhọn, kim tự tháp có một khuôn mặt trục thế giới, núi trụ thế gian. Tuy nhiên hình này được dùng làm linh tự chỉ các vật dâng tế lễ tới tam thế. Dây chính là linh tự Ai Cập dee (di) có nghĩa là ổ bánh mì, tế vật dâng cúng:

di064

Linh tự dee (di) ổ bánh mì, tế vật dâng cúng (nguồn: susanllewellyn.wordpress.com).

(xem Từ Tam Giác).

Như vậy ở đây hai hình tam giác vách bên kép để dưới đầu chữ T mang nghĩa vật dâng tế lễ tới tam thế qua bàn thờ chữ T trục thế giới.

/Bàn Thiên Việt Nam.

Chiếc bàn thiên của Việt Nam để dâng cúng tới tam thế (nhất là cõi trên vì gọi là bàn thiên) là một dạng bàn thờ chữ T diễn tả Trục Vũ Trụ.

./Hán ngữ Shì (thị).

Chiếc bàn thờ dâng vật hiến tế có hình chữ T cũng thấy trong Hán ngữ Shì (thị) ở dạng giáp cốt văn có nghĩa là bầy tỏ, tỏ rõ (tỏ lòng biết ơn tới Tam Thế).

clip_image029Hán ngữ shì (thị) (Wang Hongyuan.)

Chữ Shì nguyên thủy có hình bàn thờ hình chữ T diễn tả Trục Thế Giới. Về sau trên có nét ngang chỉ tế vật. Cuối cùng vẽ thêm hai chân hai bên, theo Wang Hongyuan ba nét quanh chữ T là để cho cân bằng và cho đẹp (!).

Lưu ý chữ thị ở dạng chữ triện trông giống thiết diện bổ dọc của một chiếc trống đồng có Trục Thế Giới trên có để lễ vật. Trong các đồ đồng Điền Việt thường thấy nhiều trống đồng chồng lên nhau làm trụ dâng lễ vật, hiến tế mang hình ảnh Trục Thế Giới. Trụ các trống đồng chồng lên nhau này làm Trục Thế Giới dùng để dâng cúng vật hiến tế, lễ vật tức một thứ bàn thờ Tam Thế, một thứ bàn thiên… (Trống Đống: Đồ Đồng Điền và Đông Sơn).

.Phướn Đám Ma chữ T.

Trong mộ của bà Tân Truy (Xin Zhui) thường gọi là ‘Lady Dai’ ở Mã Vương Đồi, Chàng Sa, Hồ Nam, thời Tây Hán (168 TDL), có một tấm phướn lụa đám ma hình chữ T diễn tả Tam Thế và Trục Thế Giới dùng để hướng dẫn hồn bà về Thượng Thế kèm theo để dâng cúng lời cầu nguyện và lễ vật tới Tam Thế.

clip_image031Phướn lụa trong mộ của bà Tân Truy ở Mã Vương Đồi, Chàng Sa, Hồ Nam (ảnh của tác giả chụp ở Bảo Tàng Viện Chàng Sa).

clip_image033Hình của David Buck vẽ chi tiết tấm phướn đám ma hình chữ T diễn tả Tam Thế có Trục Thế Giới để hướng dẫn hồn bà Tân Truy về Thượng Thế ở trong ngôi mộ cổ ở Mã Vương Đồi, Changsha (Chàng Sa) ( Fagan, copied from Changsha Mawangdui Yihao Hanmu 1973).

Phần trên cao nhất của nhánh ngang chữ T diễn tả cõi trên Thượng Thế.

Ở đây, ở góc trên bên trái (tức phía âm) có hình mặt trăng lưỡi liềm trên có con cóc thiềm thừ. Bên phải (tức phía dương) có mặt trời mang âm tính có hình đĩa tròn đỏ trong có con quạ đen (biểu tượng mặt trời mang âm tính vì liện hệ với cõi âm). Trăng trời diễn tả nòng nọc, âm dương. Có Nữ Oa (ngồi trong con rắn) và Hậu Nghệ. Ngoài ra còn có chim hạc của Đạo giáo (Daoism) biểu tượng cho bất tử, hằng cửu…

Phần giữa (phần trên của nhánh thẳng đứng) diễn tả cõi giữa Trung Thế.

Ở đây, giữa Thượng Thế và Trung Thế có các thiên sứ gởi xuống cõi trần để đưa hồn Bà Tân Truy về cõi trên.

Ở dưới là gia đình của bà Tân Truy dâng lễ vật để giúp bà về cõi trên.

Phần đáy của nhánh thẳng đứng là cõi âm Hạ Thế.

Cõi âm được diễn tả bằng hai con rắn biển khổng lồ quấn vào nhau.

Phướn hình chữ T có khuôn mặt trục thế giới, tam thế, một thứ cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) cũng là một thứ ‘bản đồ’ thần kỳ giúp hồn người chết đi về thượng giới.

-Sinh Tạo Tái Sinh, Hằng Cửu.

Từ chữ T có những khuôn mặt thái cực, tam thế, cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống), trục thế giới tức mang trọn vẹn nghĩa vũ trụ tạo sinh thì hiển nhiên mang nghĩa sinh tạo, tái sinh, hằng cửu.

Theo James Churchward từ nọc chữ T ngoài nghĩa emersion đã nói ở trên còn có nghĩa phục sinh, sống lại resurrection dùng trong các chữ viết biểu tượng của Lục Địa Mẹ Mu:

clip_image035

Hiển nhiên phục sinh hàm nghĩa tái sinh.

Nghĩa phục sinh, tái sinh hằng cửu của từ nọc chữ T thấy rõ nhất qua cây thánh giá chữ T (Cross of Tau) của Thiên Chúa giáo. Đây là dạng thánh giá thấy từ cổ (a crucifix from antiquity).

clip_image036Thánh giá chữ T, Trường phái Brugge, cuối thế kỷ 15 hay đầu thế kỷ 16 (nguồn: Wikipedia).

Hiển nhiên cây thánh giá chữ T có một khuôn mặt cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống), mang trọn vẹn ý nghĩa của thuyết vũ trụ tạo sinh của từ nọc chữ T.

…..

Từ Chữ T Ngược clip_image038.

Chữ T ngược clip_image038[1] cũng là một dạng trụ chống trời nhưng đầu chữ T là mặt đất bằng, dùng làm chân đế cho vững chãi, thân chữ T là trụ chống như thấy qua:

-Ông Trụ Chống Trời Bàn Cổ.

Như đã biết ông Bàn Cổ Trụ Chống Trời sinh ra từ một quả trứng vũ trụ rồi ông lớn dần lên chống trời tách ra khỏi đất có một khuôn mặt là Ông Trụ Chống Trời. Bàn có nghĩa là bằng, vật có mặt bằng như bàn thạch (vững như bàn thạch) có một khuôn mặt biểu tượng mặt đất. Cổ là cột, trụ. Cổ người là cây cột cắm đầu vào thân người. Cổ là cột phần nối dài của cột sống. Ông Bàn Cổ là ông Trụ Chống Trời theo hình chữ T ngược.

-Thần Đất Keb Ai Cập cổ.

Thần Đất Keb của Ai Cập cổ có một khuôn mặt tương đương với Thần Đất Kì Dương Vương, Vua Tổ Thế Gian của Việt Nam (Keb có Ke- = Việt ngữ Ke, Kẻ, Kì có nghĩa là que, cây). Thần Keb có dương vật là trụ chống trời (chống nữ thần bầu trời Nut).

clip_image040Thần Đất Keb Ai Cập.

Như đã biết dương vật được diễn tả bằng hình chữ T qua người bán nam bán nữ ardanari.

Như thế Thần Đất Keb có dương vật chống trời có một khuôn mặt là chữ T.

-Thạch bi.

Trong các tín ngưỡng thờ cự thạch (megalith), thạch bi dựng đứng trên mặt trời đất có một khuôn mặt diễn tả đất thế gian. Điểm này thấy rõ qua chữ Thổ trong giáp cốt văn.

clip_image042Chữ thổ trong giáp cốt văn.

Chữ thổ trong giáp cốt văn diễn ta bằng thạch bi dựng đứng trên mặt dất rồi thành hình chữ T ngược.

…..

TỪ NỌC CHỮ T TRÊN TRỐNG ĐỒNG NÒNG NỌC ĐÔNG SƠN.

Tất cả các khuôn mặt và ý nghĩa của từ chữ T đã nói ở trên đều có mặt trên trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn và được viết với một ngữ pháp rất hoàn hảo của chữ nòng nọc vòng tròn-que.

Xin đưa ra một vài ví dụ tiêu biểu:

-Từ Nọc Chữ T Với Nghĩa Đất Dương Thế Gian.

.Cò trên trống Phú Xuyên.

clip_image044Trống trống Phú Xuyên (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Trống Phú Xuyên có 6 con cò bay. Số 6 là số Tốn OII (âm O thái dương II). Ta thấy 6 nằm giữa số 5 Li và số 7 Càn. Như thế cò diễn tả nhánh nọc thái dương Càn Li. Điểm này ăn khớp với trống có mặt trời 14 nọc tia sáng thuộc nhóm trống thái dương Càn Li. Số 14 là số Tốn tầng 2 thế gian (6, 14).

Cò có cánh và thân tạo thành hình chữ T.

clip_image046Cò có cánh và thân tạo thành hình chữ T.

Như thế cò có khuôn mặt chủ là đất thế gian, trụ chống trời, trục thế giới, nói chung là cò Đất dương thế gian tức Li, Lửa Đất thế gian. Thêm vào đó ta cũng thấy bờm cò hình núi tháp nhọn đỉnh diễn tả đất thế gian Li.

Như thế trống có khuôn mặt Li mang tính chủ.

Nhưng mấu chốt chính là tên con cò này viết bằng chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình đầu mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) hình tam giác, hình delta, hình núi tháp nhọn ở giữa cánh cò, có nghĩa là nọc, dương, phái nam, lửa, thái dương, lửa đất thiếu dương.

clip_image045Hình cò bay trên trống Phú Xuyên ở giữa cánh có tên viết bằng chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình tam giác, nọc đầu mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói).

Như thế tên cò viết bằng chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình tam giác cho biết con cò có một khuôn mặt là Cò Lửa Vũ Trụ, Cò Lửa Thái Dương, Cò Càn. Tuy nhiên hình tam giác cũng có thể mang hình ảnh núi tháp nhọn mang nghĩa lửa núi thế gian Li. Ở trống này có vành hươu sủa mang tính chủ, khuôn mặt Đất dương thế gian Li mang tính chủ nên chữ/dấu tam giác nghiêng nhiều về nghĩa núi tháp nhọn Đất dương Li. Con cò này mang khuôn mặt chủ cò Đất dương Li, là cò núi, cò Li. Với khuôn mặt Đất dương Li này ăn khớp với cánh, thân, đuôi hình chữ T.

Trống Phú Xuyên là trống biểu của ngành nọc lửa Càn Li với khuôn mặt Lửa thế gian Li, mặt trời thiên đỉnh trên Trục Thế Giới mang tính chủ.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là trống biểu của ngành nọc mặt trời thái dương Viêm Đế có khuôn mặt chủ là Li Kì Dương Vương đội lốt Càn Đế Minh.

Tóm lại cò trên trống Phú Xuyên có cánh, thân và đuôi hình chữ T là cò Đất Dương Li ăn khớp với trống nhóm thái dương Càn có mặt trời 14 nọc tia sáng Tốn thế gian có khuôn Li mang tính chủ đội lốt Càn, ăn khớp với trống có vành hươu sủa chủ đạo mang tính chủ Li Đất dương và được xác thực bởi tên viết bằng từ/dấu tam giác Li/Càn…

.Cò trên trống Bình Phú.

clip_image048Trống Bình Phú.

Cò trên trống Bình Phú có cánh, thân và đuôi hình chữ T là cò Đất dương Li. Kiểm chứng lại ta cũng thấy trống Bình Phú thuộc nhóm trống thiếu dương Li/Khảm có mặt trời 10 nọc tia sáng Số 10 là số Khảm tầng 2 (2, 10). Khảm có một khuôn mặt hôn phối với Li. Khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có hình thái Li Càn (5 nọc mũi mác chồng lên nhau là Li và que nọc là Càn)….

.Cò trên trống Giảo Tất.

Tương tự cò trên trống Giảo Tất cũng vậy.

clip_image050.Cò trên trống Giảo Tất.

Cò trên trống Giảo Tất cũng có cánh, thân và đuôi hình chữ T là cò Đất dương Li. Kiểm chứng lại ta cũng thấy trống này thuộc nhóm trống thiếu dương Li/Khảm có mặt trời 10 nọc tia sáng Số 10 là số Khảm tầng 2 (2, 10). Khảm có một khuôn mặt hôn phối với Li. Khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có hình thái Li (5 nọc mũi mác chồng lên nhau, số 5 là số Li)…. Ngoài biên có hai vành nọc mũi mác có một nghĩa thái dương kẹp ở giữa vành trống không mang âm tính. Như thế có nghĩa âm của dương. Diễn tả theo dịch ta có hai vành nọc mũi mác là hai vạch, hai hào dương II và vành trống không là hào âm nòng O. Gộp lại ta có IOI, quẻ Li, lửa đất dương.

.Hình thái bình rượu ở vùng tứ hành trên một trống Nam Trung Quốc.

Trống Vân Nam Nam Trung Quốc này là một trống muộn và có lẽ đã bị chi phối bởi văn hóa Trung Quốc nên vùng tứ hành được diễn tả bằng các hình ‘bình rượu’:

clip_image053Vùng tứ hành được diễn tả bằng các hình thái bình rượu ở trên một trống Nam Trung Quốc (nguồn: A. J Kempers).

Các diễn đạt này không còn theo qui ước thấy ở các trống khác của đại tộc Đông Sơn.

Phân tích hình thái ‘bình rượu’ này ta có:

1. Nắp bình chữ T có một nghĩa là Trụ Chống Trời biểu tượng cho Núi Trụ thế gian, Đất dương, thiếu dương Li.

2. Dưới chân chữ T là chữ Khảm clip_image055 có nghĩa là nước (ngày nay hiểu là vật đựng rộng miệng).

Vật đựng hình chữ Khảm này có một khuôn mặt biểu tượng cho nước thái âm ngành thái dương, Chấn (chữ U vuông góc là một dạng thái dương của nòng O).

3. Dưới hai chữ trên có một gạch ngang ở đáy bình hình nọc que có một khuôn mặt là nọc Lửa thái dương, Càn.

4. Bình hình khung hở do nòng O chuyển động mở ra mang dương tính có một khuôn mặt là Khôn dương, thiếu âm khí Gió. Bình biểu tượng cho gió, thiếu âm, Đoài vũ trụ khí gió.

Như thế vành hình thái ‘bình rượu’ diễn tả tứ hành.

Ta thấy rõ chữ T diễn tả Đất dương Li.

-Từ Nọc Chữ T Với Nghĩa Trục Thế Giới, Núi Trụ Thế Gian, Cõi Đất Trung Thế, Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống).

Ví dụ:

.Dàn trống trên trống Ngọc Lũ I và Sông Đà.

clip_image056Dàn trống trên trống Ngọc Lũ I.

co-loa-trong

Dàn trống trên trống Cổ Loa I  (nguồn Phạm Huy Thông và các cộng tác viên.)

Bên cạnh một ngôi nhà nọc, mặt trời trên trống Ngọc Lũ I và Cổ Loa I có một dàn trống. Trống được để trên một trục chữ T mang hình ảnh trụ chống trời, trục thế giới cho thấy trống mang hình ảnh trống cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) mang tính sinh tạo, tạo hóa, mang trọn vẹn thuyết vũ trụ tạo sinh, không phải là trống sấm, mưa như thấy trên các loại trống cóc/ếch.

So sánh với các trống muộn hơn ta thấy rõ trục chữ T này tương đương với trục thế giới diễn tả theo cách phổ thông là bằng hai trụ nọc que. Ví dụ ở trống Sông Đà, trống được để trên trục thế giới do hai nọc que tạo thành:

clip_image058Một dàn trống trên trống Sông Đà.

Những trống này giống như các trống cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) để trên trục thế giới thấy trên thuyền trong cảnh phán xét linh hồn:

clip_image060 Trống cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) trên thuyền trong cảnh phán xét linh hồn.

Hiển nhiên trục chữ T đỡ trống ở trống Ngọc Lũ I mang ý nghĩa trục thế giới, trụ chống trời, cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống), mang trọn vẹn ý nghĩa vũ trụ luận.

Điể quan trọng cần phải nói ở đây là dàn trống đồng để trên trục chữ T trên trống Ngọc Lũ I cho ta một chứng liệu bằng vàng đã ghi khắc lại cách đây trên 2.500 năm (tuổi của trống Ngọc Lũ I ). Các trống trên trục chữ T này thuộc loại trống cây nấm vũ trụ (cây nấm tam thế, cây nấm đời sống) diễn tả trọn vẹn thuyết vũ trụ luận. Như thế xác thực các trống đồng loại cây nấm vũ trụ (cây nấm tam thế, cây nấn đời sống) Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I) hiện nay mang trọn vẹn vũ trụ luận, là trống biểu tượng của vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo.

……

Kết Luận.

Theo nguyên tắc từ chữ T cũng mang trọn vẹn ý nghĩa của vũ trụ tạo sinh và chức vụ như từ hai nọc que II, cũng có nghĩa là nọc, dương (đực, lửa, mặt trời, bộ phận sinh dục nam…).

Tuy nhiên từ chữ T thường được dùng nhiều với nghĩa gò đất nguyên khởi, trụ chống trời, trục thế giới, cõi đất thế gian, trung thế, cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống)…

Tất cả các khuôn mặt và ý nghĩa của từ và dấu chữ T đều có mặt trên trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn và được viết với một ngữ pháp rất hoàn hảo của chữ nòng nọc vòng tròn-que.

(còn nữa).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: