CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE: TỪ HAI NỌC QUE II (phần 5) TRÊN TRỐNG ĐỒNG.

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE.

(Circle-Rod Writings).

TỪ HAI NỌC QUE II.

(Two Rod Word).

(Phần 5)  (TRÊN TRỐNG ĐỒNG).

Nguyễn Xuân Quang

-Tam thế, Trục thế giới và Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống).

.Như đã biết, trống Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I) là trống cây nấm vũ trụ (nấm tam thế, nấm đời sống) và thân trống, eo trống là trục thế giới nối liền tam thế. Vì thế trong thiết diện bổ đôi nhất là ở các trống có eo thẳng đứng như trống thuộc loại Đông Sơn Ngọc Lũ I thì hai thành trục thế giới là hai nọc que.

Ở những trống tượng lửa hình trụ ống Nguyễn Xuân Quang II (xem trống Lào) thì hiển nhiên thân trống thẳng đứng là trục thế giới. Trong thiết diện bổ đôi hiển nhiên hai thành trục thế giới là hai nọc que.

.Cầu Thử Thách (“bridge of challenge”) hay Cầu Gian Nguy (“dangerous bridge”).

Trên trống Ngọc Lũ I và các trống họ hàng ở các thuyền phán xét linh hồn có Cầu Thử Thách hay Cầu Gian Nguy làm theo kiến trúc đài cao tam thế với trục thế giới là hai trụ nọc que.

clip_image002Cầu Thử Thách hay Cầu Gian Nguy làm theo kiến trúc đài cao tam thế trên một thuyền ở trống Ngọc Lũ I.

Cầu thử thách hay cầu gian nguy là cây cầu mà người chết phải đi qua để chịu sự thử thách cuối cùng trước khi được về cõi hằng cửu, cõi trời, Cõi Trên (thiên đường). Những linh hồn ác hay tội lỗi không thể nào vượt qua được cây cầu này và bị rơi xuống vực thẳm của Cõi Âm. Cầu thử thách là nhịp cầu nối, giao thông giữa Tam Thế mang hình bóng của Cây Vũ Trụ đúng như M. Eliade đã ghi nhận: “Sự giao thông giữa thiên đường và trần gian có thể mang lại-hoặc có thể là illo tempore- bởi một vài phương tiện thể chất (cầu vồng, cầu, cầu thang, cây thang, dây, rợ, “xâu chuỗi mũi tên”, núi, v.v…). Tất cả những hình ảnh biểu tượng của sự liên kết giữa trời và đất chỉ là dạng biến thể của Cây Thế Giới hay trục vũ trụ. Trong một chương trước, chúng ta đã thấy huyền thoại hay biểu tượng của Cây Vũ Trụ bao hàm ý của “Trung Tâm Thế Giới” ở điểm mà đất, trời và âm thế gặp nhau” (M. Eliade, 1964, p. 492). M. Eliade cũng đã viết: ‘Người Niassans biết rằng Cây Vũ Trụ đã sinh ra mọi vật. Để đi lên trời, người chết đi qua một cây cầu, dưới cầu là vực thẳm của Cõi Âm. Một người gác với lao và khiên đứng ở cổng trời, một con mèo giúp hắn ném hồn người ác xuống nước hỏa ngục’ (ghi chú thêm của tác giả: ở trống Ngọc Lũ I có con chó thay cho con mèo). Quan niệm về cây “cầu gian nguy” này rất phổ thông trong tôn giáo ở Đông Nam Á: có một sự tương đồng giữa phức thể này của người Niassans và ý tưởng của người Naga ở (cận) Ấn Độ (ghi chú thêm của tác giả: Naga là người Rắn, Rồng ruột thịt với Ao-Naga tức Âu-Long, một thứ Âu Lạc), chúng ta đang “dealing” với di tích của cái gọi là nền văn minh Nam Á, chia xẻ với người Tiền-Aryan và Tiền-Nam Ấn của Ấn Độ và đa số của dân bản địa ở Đông Dương và Quần Đảo Ấn Độ.

Cây cầu này cũng thấy ở địa ngục trong các tôn giáo sau này như Phật giáo chẳng hạn. Trong chuyến du hành trên sông Dương Tử đi đến Trùng Khánh, chúng tôi có ghé qua Phong Đô (Feng Du), thành phố của Người Chết, tại đây có những cảnh Cõi Âm, địa ngục và cũng có một tấm bích họa vẽ chiếc cầu thử thách này.

clip_image004

Cầu Thử Thách ở Thành Phố Người Chết Phong Đô, Trung Hoa (ảnh của tác giả, tháng 9-2007)

Lưu ý hồn người chết ở đây cũng trần truồng như hồn người chết ngồi trên sàn thuyền.

clip_image006 Hình riêng rẽ một chiếc cầu thử thách trên một chiếc thuyền ở trống đồng nòng nọc (âm dương) Ngọc Lũ I.

Cầu Tam Thế do hai trụ nọc que tạo thành gồm có ba tầng: tầng trên hay Cõi Trên thượng thế, sàn cầu là trung thế và dưới gầm sàn cầu là hạ thế. Tam thế này thông thương bằng trục thế giới. Đài cầu diễn tả cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống).

Thượng thế là khoảng không gian trên mặt cầu giới hạn bằng hai cây trụ nọc que hay thành cầu thường có hình đầu chim.

Một người đứng trên sàn cầu cầm cung tên hay mộc giáo (hoặc chỉ cầm mộc thôi) là người gác cổng Cõi Trên (hay thiên đường). Người này có nhiệm vụ chỉ cho những linh hồn thiện, tốt đi vào Cõi Trên và ngăn chặn các linh hồn ác vào Cõi Trên (xem chương Người Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á). Sàn cầu biểu tượng Cõi Giữa. Phần nước dưới thuyền dưới gầm cầu là Cõi Dưới. Gầm cầu là Trục Thế Giới nối liền Tam Thế. Không một chiếc Cầu Thử Thách nào giống nhau về chi tiết. Sự trình bày khác nhau của mỗi chiếc cầu diễn tả những diện khác nhau của Vũ Trụ giáo hay của các ngành, tộc hay chi tộc khác nhau.

Ta thấy rõ hai nọc que tạo thành đài cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) trong có trục thế giới.

Trên trống trống Hoàng Hạ, phần hạ thế dưới gầm sàn diễn tả thêm cửa vào trục thế giới thấy rõ qua ở một thuyền có một linh hồn người chết bước vào trục thế giới để đi qua đài cầu thử thách hầu có thể về được thượng thế.

clip_image008Trên một thuyền ở trống Hoàng Hạ có một linh hồn người chết bước vào trục thế giới để đi qua đài cầu thử thách hầu có thể về được thượng thế.

Hai trụ cửa trục thế giới thấy rõ hơn ở một thuyền khác dưới hình thức hai trụ nọc nhọn hình nọc que:

clip_image010Hai trụ cửa trục thế giới dưới hình thức hai trụ nọc nhọn hình nọc que.

Ở một thuyền khác nữa cửa trục thế giới có đà ngang giống như cửa trục thế giới ở các đền, miếu, chùa ngày nay có mái che ngang:

clip_image012Cửa trục thế giới có đà ngang giống như cửa trục thế giới ở các đền, miếu, chùa ngày nay có mái che ngang

.Nhà nọc, mặt trời.

Những ngôi nhà nọc, mặt trời trên trống Ngọc Lũ I và các trống họ hàng làm theo kiến trúc nhà tam thế.

clip_image014Một ngôi nhà nọc, mặt trời trên trống Ngọc Lũ I.

Mái có chim đậu là thượng thế. Tầng trên có cảnh sinh hoạt nhân sinh là trung thế và hầm nhà là hạ thế. Hai trụ cột và đà ngang ở trên của hạ thế là cửa vào trục thế giới.

Hai cột nọc que diễn tả trục thế giới.

.Trống Cây Vũ Trụ hay Cây Đời Sống.

Trên mỗi thuyền có một người dùng tay trái gõ vào một vật hình lục giác đặt trên một cây trụ biểu tượng cho Trục Thế Giới. Đây là chiếc trống Cây Vũ Trụ hay Cây Đời.

clip_image016Trống Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) ờ một thuyền trên trống Ngọc Lũ I. 

Trống hình lục giác (biến thể của nòng O) mường tượng giống trống cái hình trứng biểu tượng sinh tạo, sinh thành (theo Dịch số 6 là số thành). Dưới diện ma thuật, có thể mang hình ảnh của con mắt thần hay cái gương thần dùng trong quá trình phán xét linh hồn (xem chương Ý Nghĩa Dấu và Biểu Tượng Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á). Tay phải của người này nắm đầu một người nhỏ bé, trần truồng ngồi trên sàn thuyền. Đây là linh hồn người chết (xem chi tiết ở dưới ở phần Ý Nghĩa Hình Người Trên Thuyền Trên Trống Ngọc Lũ I). Người gõ trống và giữ đầu linh hồn là người phán xét linh hồn. Những người này gõ trống Cây Đời để khơi động dậy vòng tử sinh và lượng giá, thẩm định linh hồn. Sau khi được phán xét xong, linh hồn thiện, tốt được cho qua Cầu Thử Thách để về miền hằng cửu ở Cõi Trên, để sống đời đời hay tái sinh và các hồn ác, xấu bị tống xuống cõi âm hay âm ty.

Đầu chim cắm trên trống biểu tượng cõi trên, xác nhận đây là trống Cây Vũ Trụ hay Cây Đời thật sự, trong khi các trống trong các ngôi nhà nọc, mặt trời cũng để trên các trụ nhưng không có hình đầu chim chỉ mang nghĩa biểu tượng của hình ngữ (symbolic scripts). Trong mỗi trống hình lục giác, có hình ngữ nòng nọc và phía trên trống bên cạnh hình đầu chim, trên bốn thuyền còn có cắm thêm các gậy hay khí giới biểu tượng. Những hình vật này giúp nhận diện các thuyền. Không một trống Cây Vũ Trụ nào giống nhau về chi tiết. Sự khác nhau của mỗi trống diễn tả các diện khác nhau của triết thuyết Vũ Trụ giáo hay biểu tượng của các tộc khác nhau.

Ta thấy rõ hai nọc que trụ trống diễn tả (một phần) cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) và trục thế giới.

Trục thế giới do hai nọc que tạo thành thấy rõ trên trống Sông Đà.

Bên cạnh một ngôi nhà nọc, mặt trời trên trống Sông Đà có một dàn trống. Trống được để trên một trục do hai nọc que tạo thành mang hình ảnh trục thế giới cho thấy trống mang hình ảnh trống cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) mang tính sinh tạo, tạo hóa, mang trọn vẹn thuyết vũ trụ tạo sinh, không phải là trống sấm, mưa như thấy trên các loại trống cóc/ếch.clip_image058

Một dàn trống trên trống Sông Đà.

Những trống này giống như các trống cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) để trên trục thế giới thấy trên thuyền trong cảnh phán xét linh hồn:

clip_image060

Trống cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) trên thuyền trong cảnh phán xét linh hồn như đã thấy ở trên .

-Sinh Tạo, Tái Sinh, Hằng Cửu.

Hai nọc que riêng rẽ trên trống đồng diễn tả trọn vẹn ý nghĩa của vũ trụ tạo sinh, vũ trụ luận hiển nhiên mang nghĩa sinh tạo, tái sinh, hằng cửu.

Tóm lại, từ hai nọc que mang tất cả ý nghĩa của thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh như chữ nọc que chấm đặc, như chữ một nọc que nhưng mang tính thái dương sinh tạo năng hoạt chính ở tầng tứ tượng cõi sinh tạo thế gian. Từ hai nọc que này cũng thấy rất nhiều trên trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn. Trên trống đồng từ này viết hết sức chuẩn, hết sức đúng với ngữ pháp chữ nòng nọc vòng tròn-que.

DẤU HAI NỌC QUE RIÊNG RẼ TRÊN TRỐNG ĐỒNG.

Từ hai nọc que riêng rẽ cũng được dùng làm dấu. Như đã biết, chữ, từ và dấu nhiều khi khó phân biệt hay dùng theo cả hai chức vụ chữ, từ và dấu.

-Chim cắt đứng trên trống Phú Xuyên.

clip_image018

Như đã nói ở trên, trong mũ sửng của con chim cắt trên trống Phú Xuyên có hai nọc que có thể là từ hay dấu hay cả hai mang nghĩa lửa, thái dương.

u ý trong mỏ rìu có chữ nọc que đã cho biết đây là con cắt nọc lửa. Vì thếhai nọc que trong mũ sừng có lẽ nghiêng nhiểu hơn vềdấu cho biết rõ là con cắt lửa thái dương ứng với Càn.

-Cò trên trống Đồi Ro.

Như đã nói ở trên, trống Đồi Ro có một khuôn mặt lửa Nước Chấn thái dương mang tính chủ.

Ta đã biết các con cò ở trống này là cò nước thái dương.

clip_image020 clip_image021

Cò trên trống Đồi Ro.

Ở cổ cò có từ/dấu hai nọc que II có một nghĩa là lửa, thái dương phía nước dương Chấn và có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng nước dương.
Lưu ý ở mỏ cò có chữ Y hình cốc có chân chalice có một nghĩa là bộ phận sinh dục nữ, âm thái dương, nước thái dương (xem chữ V) đã cho biết cò một khuôn mặt là cò nước thái dương dòng Chấn. Vì thề hai nọc que II ở đây có lẽ nghiêng nhiều hơn về dấu.
 -Thuyền có tay lái có hai nọc que.

Qua chương Ý Nghĩa Hình Thuyền trong Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc Âm Dương Đông Nam Á ta đã biết ở tang trống Ngọc Lũ I có 6 con thuyền.

Ở đây chỉ xin thật tóm lược và nói tới những chi tiết chủ yếu liên hệ với từ hai nọc que.

Thuyền số 2 trong 6 thuyền là thuyền Chấn sinh tạo của đại tộc nòng âm nước thái dương Chấn.

clip_image023Thuyền số 2, một trong hai thuyền dẫn đầu đọc theo chiều âm của đại tộc Nước.

Chỉ xin nói tới một hai điểm để nhận diện thuyền này là thuyền Chấn, nước thái dương. Tay người gác cổng trời ở thuyền số 2 này cầm cung (hay mộc) Chấn hình chữ D kép là dạng dương hóa của hai nòng OO lồng vào nhau mang nghĩa thái âm, nước với hai dầu nhọn mang tính thái dương. Cạnh thẳng của cung là nọc que. Gộp lại ta có IOO, quẻ Chấn, nước lửa ngành thái dương.

Người này không cầm lao (tức không có nọc, dương) và chỉ có cung Chấn nên chỉ biểu tượng đại tộc nước thái âm Chấn ngành thái dương.

Dưới gầm sàn đài tam thế có để bình, vật đựng nước mang tính thái âm OO có cổ bình thẳng nọc que I. Bình diễn tả IOO, Chấn…

Điểm muốn nói tới ở đây là ở bánh lái đầu thuyền trong có dấu/từ hai nọc que với nghĩa lửa, thái dương. clip_image025 ăn khớp với các tính nước thái dương khác.

……

Kết Luận

Chữ hai nọc que ở dưới dạng nọc thẳng mang tính sinh tạo ở tầng tứ tượng năng hoạt. Chữ hai nọc que mang trọn vẹn nghĩa trong Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, Dịch ở cõi tạo hóa, sinh tạo tứ tượng năng hoạt.

Chữ hai nọc que cũng mang nghĩa nọc, đực, dương, lửa, mặt trời, thái dương… mang tính sinh tạo năng hoạt ở tầng tứ tượng. Thường nọc que là nọc trưởng thành còn mang tính biểu hiện, biểu tượng. Chữ hai nọc que mới thực sự có hoạt tính sinh tạo năng hoạt ít nhất là nhiều gấp đôi!

Hai nọc que là dạng nọc que già có một khuôn mặt thái dương tức dương già (old yang).

Chữ hai nọc que cũng có thể dùng làm dấu.

Cần lưu ý tới sự khác biệt của tính sinh tạo giữa chữ nọc que trưởng thành và hai nọc que sinh tạo năng hoạt.

Ở đây ta đã xét qua hai nọc que ở dạng đứng riêng rẽ. Trong các bài viết tới, sẽ nói về các dạng hai nọc que kết hợp lại như ở dạng dính chập lại làm một hay ở dạng các từ khác như chữ L, T, V [thấy qua loại gương đồng Trung Quốc được mệnh danh là loại gương đồng LTV (xem Trống Đồng Đông Sơn và Gương Đồng Trung Quốc )], chữ nọc mũi mác clip_image027, chữ X…

(còn nữa).

.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: