TRỐNG ĐỒNG LÀ TRỐNG BIỂU CỦA HÙNG VƯƠNG, VUA MẶT TRỜI (Tóm Tắt bài Thuyết Trình, Phần 3 và hết).

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

TRỐNG ĐỒNG LÀ TRỐNG BIỂU CỦA HÙNG VƯƠNG, VUA MẶT TRỜI.

(Tóm Tắt Bài Nói Chuyện Ngày 14-8-2016).

NGUYỄN XUÂN QUANG.

(Phần 3 và hết).

Bây giờ chúng ta tìm những chứng sử truyền thuyết, sử sách hiện nay xem đã có nguồn cội từ xa xưa, đã được ghi khắc lại trong sử đồng Đông Sơn không?

clip_image002

Chúng ta tự cho mình là con cháu Lạc Hồng. Theo ngôn ngữ học, Lạc Hồng có Lạc là dạng dương hóa của nác là nước. Lạc là nước dương. Hồng là đỏ là lửa. Lạc Hồng là Nước-Lửa, Rắn-Chim, Rồng Tiên.

Theo vật tổ thì Lạc là Rắn Nước có sừng, Rắn Lạc và Hồng là Chim Cắt Lửa Hồng Hoàng.

Lạc Hồng là con cháu Rắn Nước dương Lạc-Chim Cắt Lửa Hồng, con cháu Rồng-Tiên.

Như đã nói ở trên Rắn Nước Sừng Lạc thần thoại hóa thành thuồng luồng-rắn có sừng, có mào, thành Rồng Rắn thời nhà Lý. Còn chim Cắt Lửa thần thoại hóa thành Chim Rìu, Chim Việt, thành Chim phượng Việt thời nhà Lý đào tìm được ở thành Thăng Long, có sừng rất lớn và mỏ rìu khác với chim phượng Trung Quốc có cốt là chim trĩ.

Chứng tích Lạc Hồng Rắn-Chim Việt còn thấy rất nhiều trên trống đồng. Hãy lấy một ví dụ thuyền trên trống Sông Đà có đầu rắn nước có sừng Lạc và đuôi đầu chim cắt mỏ rìu Hồng hoàng. Ta có thuyền Lạc Hồng. Và còn nhiều nữa như đã nói ở trên.

Điểm cần lưu tâm là ở các tộc theo cha Lạc Long Quân thì nói là Lạc Hồng (cha Lạc để trước) trong khi các tộc theo mẹ thì nói Hồng Lạc (mẹ Hồng để trước).

Liên Bang Văn Lang Chim-Rắn, Tiên Rồng cũng được khắc ghi rành rành trên trống Quảng Xương.

clip_image004

Trống Quảng Xương có mặt trời 8 nọc tia sáng (số8 là số Khôn tầng 2, thế gian) thuộc nhóm trống Khôn-Càn thế gian. Phần tâm trống có một khuôn mặt Khôn-Càn, tạo hóa cõi bầu trời sinh tạo thế gian (tiểu vũ trụ, cõi nhân sinh).

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, tâm trống biểu tượng cho Bọc Trứng Thế Gian sinh tạo càn-khôn của 100 Lang Hùng, đội lốt bọc Trứng Vũ Trụ Thần Nông-Viêm Đế nhất thể.

clip_image006

Ở ngành dương mặt trời là mặt trời sinh tạo, tạo hóa. Diễn tả bằng chữ nòng nọc vòng tròn-que là từ chấm-vòng tròn. Đây chính là linh tự Ra của Ai Cập cổ có một nghĩa là mặt trời tạo hóa (Sun as Creator).

Ở đây trên trống thế gian là khuôn mặt mặt trời sinh tạo của Tiên Hùng thế gian, lịch sử đội lốt Tổ Hùng tạo hóa.

Bọc trứng sinh ra toàn con trai Lang Hùng thấy rõ qua các người ở trống này.

clip_image008Người mặt trời có mặt trời rạng ngời ở mặt.

Ta thấy rõ các ngưới ở đây rất trai tráng, dũng mãnh đúng với nghĩa Lang Hùng. Ở những người trần truồng, không thấy rõ trang phục hình chim thì có con mắt hình từ chấm-vòng tròn có một nghĩa là mặt trời, cho biết họ là Người Mặt Trời. Quanh con mắt hình mặt trời nọc chấm-vòng tròn có thêm những tia sáng tỏa ra và cả ở những hình thể điệu hóa cũng vậy. Do đó đây là những Người Mặt Trời rạng ngời. Trăm phần trăm những người này là những Người Mặt Trời rạng ngời. Vừa trai tráng vừa mặt trời đích thực họ ứng với các Lang Hùng mặt trời.

Người mặt trời trai tráng ứng với Lang Hùng này gồm có hai nhánh mang tính nòng nọc, âm dương.

-Nhánh Chim Cắt hồng hoàng ứng với nhánh 50 Lang theo Mẹ Tổ Âu Cơ lên núi.

Nhánh Chim này gồm hai đại tộc:

1. Đại tộc người chim Cắt Lửa thái dương ứng với Càn III Lửa thái dương.

Đại tộc Lửa thái dương Càn này có trang phục đầu có hình đầu chim cắt lớn (Great hornbill) có sừng cường điệu và có mỏ rìu gồm hai nọc que mang tính thái dương. Chiếm cả khuôn mặt là con mắt dương chấm-vòng tròn, có một nghĩa là mặt trời. Mặt tròn hình nòng O diễn tả không gian. Khuôn mặt diễn tả mặt trời-không gian càn-khôn cho biết người chim này thuộc đại lửa thái dương Càn. Mặc váy xòe hình hai cánh chim.

clip_image009Đại tộc người chim cắt lửa thái dương có trang phục đầu có mũ sừng và mỏ rìu thái dương.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt ứng với đại tộc Man Việt-Đế Minh.

1. Đại tộc người chim Cắt Đất lửa thiếu dương.

clip_image011Tộc người chim cắt lửa đất thiếu dương có trang phục đầu mũ sừng và gáy hình rìu núi tháp đất thế gian Li.

Đại tộc này có trang phục đầu chim mũ sừng bằng ngang biểu tượng đất bằng, không có mỏ rìu hai nọc thái dương. Mặt vuông, phía trước mặt hình trụ nọc que có một khuôn mặt biểu tượng đất thế gian. Mấu chốt chính là phần sau gáy của trang phục đầu có hình rìu ngang hình núi tháp. Rìu này biểu tượng đất dương lửa thiếu dương ứng với Li. Mắt cũng là mắt dương chấm-vòng tròn nhưng không to tròn, ít sáng hơn so với mắt ở người lửa thái dương Càn ở trên. Mắt ở đây mang âm tính hơn. Ở đây chữ chấm-vòng tròn này ta lấy nghĩa là thiếu dương Li. Váy cũng xòe hình hai cánh chim.

Đây là đại tộc Người Chim Rìu Cắt Đất Lửa Thiếu Dương Li. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là đại tộc Kì Việt-Kì Dương Vương Li.

Nhánh Rắn Nước Sừng ứng với nhánh 50 Lang theo Cha Lạc Long Quân.

Nhánh Rắn Nước này ở trần truồng cho biết thuộc tộc nòng âm, nước mang tính chủ (ở trần xuống nước không bị ướt quần áo giống như Chử Đồng Tử, Chàng Trai Sống Bên Bờ Nước ở trần truồng).

Nhánh này chia ra làm hai đại tộc:

1. Đại tộc Rắn thái âm nước ngành nọc thái dương.

Đại tộc này là đại tộc Nước thái âm mang tính thái dương ứng với Chấn IOO.

clip_image013Đại tộc người trần truồng Nước, Rắn, Mặt Trời-Nước.

Đại tộc này có trang phục đầu có phần trên là hình đầu rắn có sừng hay mồng mang tính thái dương. Phần sau trang phục đầu có dải dài buông xuống tận mặt đất, hình dòng nước chẩy giữa hai viền bờ tô đậm. Dải nước này trông như dải dây biểu tượng cho rắn nước mà tiếng cổ Việt gọi là con dải. Cả trang phục đầu diễn tả hình rắn nước nọc (có sừng) thái dương. Rắn có mồng, có sừng tức rắn Việt. Rắn sừng hình dải sau này thần thoại hóa thành thuồng luồng, rồng Việt. Con mắt cũng là hình mặt trời cho thấy người rắn cũng là Người Mặt Trời thuộc ngành mặt trời thái dương và rắn là rắn nọc âm thái dương.

Đại tộc Rắn nước này thuộc phía Chấn.

Rắn nước thần thoại hóa thành rồng nước. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là đại tộc Lạc Việt-Lạc Long Quân.

2. Đại tộc chim nước thiếu âm, gió.

Người đại tộc này chỉ khác là trang phuc đầu có giải sau gáy như đuôi chim, dải này ngắn hơn dải chấm đất của đại tộc người rắn nước thái âm ở trên. Dải này có hình đuôi chim trông giống tua phướn gió, đầu hình mũi mác có một nghĩa thái dương.

clip_image014Người đại tộc chim thiếu âm gió với trang phục đầu sau gáy có hình đuôi chim hình tua phướn gió (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, đây là đại tộc Gió Dương Lang Việt-Hùng Lang.

Nhìn tổng quát, về truyền thuyết ở cõi thế gian của Hùng Vương lịch sử thì đây là truyền thuyết Trăm Lang Hùng Mặt Trời sinh ra từ bọc Trứng Thế Gian của Mẹ Tổ Âu Cơ gồm có hai ngành dương Lửa Núi, Chim Âu Cơ và ngành âm Nước Rắn, Rồng Lạc Long Quân.

Về lịch sử là bốn đại tộc của Liên Bang Văn Lang ứng với truyền thuyết Trăm Lang Hùng, Hùng Vương, dòng dõi thần mặt trời Viêm Đế-Thần Nông.

Vật Tổ của Hùng Lang, Hùng Vương.

Nói chung vật tổ của ngành mặt trời ứng với Người Việt Mặt Trời đều có nghĩa là vật nhọn (nọc, cọc, vọt, rìu, búa, bổ, dao, sừng nhọn…) tức Việt. Vật tổ của người Việt đều có nghĩa Việt.

Ví dụ vật tổ của ngành nọc mặt trời dương thái dương ứng với Người Việt Mặt Trời thái dương Viêm Việt của ngành thần mặt trời Viêm Đếđểu có nghĩa là rìu, Việt, Sừng. Viêm Đếcó họ Khương là Sừng vì thế vật tổ của người Việt ở cõi thượng thế, tạo hóa là con Chim Sừng, Chim Rìu, Chim Việt, Mỏ Cắt mũ sừng. Vì vậy DNA sừng, Việt này truyền xuống cho con cháu Việt. Do đó vật tổ ở đất thế gian, vùng đất dương là con thú bốn chân sống trên mặt đất có Sừng là con Hươu Sừng, Hươu Đực thấy qua hình bóng vua tổ đất thế gian Hươu Sừng, Hươu Việt, Hươu Đực, Lộc Tục, Kì Dương Vương. Ở vùng đất âm có nước (sông biển, đầm lầy) là con trâu nước có sừng, con cá có vi sừng, có mõm dao nhọn là cá Sấu Dao, Sấu Việt. Theo l=ng như lắt = ngắt, ta có lạc = ngạc (Hán Việt ngạc, cá sấu). Các sấu là cá Lạc. Ở cõi nước là con rắn nước có sừng, có gạc, Rắn Lạc, Rắn Việt….

Tương tự vật tổ của Hùng Lang, Hùng Vương đều có nghĩa là nọc đực, Lang cũng hàm nghĩa Việt.

clip_image016

Vật Tổ ở Cõi Trời ngành Nọc Việt là Chim Cắt Lang, Chim Lang Việt.

Lang ở đây có nghĩa là con trai, đực. Lang là Chàng (con trai) và cũng có nghĩa là chàng đục (chisel), vật nhọn, một thứ Việt. Lang còn có nghĩa là Trắng, mầu trắng trong của khí gió, một khuôn mặt của Hùng Lang và Hùng Vương.

Trong thiên nhiên có loài chim mỏ cắt nào tên Lang không?

Trong dân ca Ê-Đê có câu hát nói tới một giống chim mơ-linh, mơ-lang:

Anh đến từ nơi xa,

‘Anh mang theo chim mơ-linh từ nhà,

Chim mơ-lang từ buôn.

Anh nghĩ rằng em là con gái chưa tơ vương…’.

Giáo sư Trần Quốc Vượng nhận thấy đây là một loài chim của các tộc Tây Nguyên: ‘Mê (Ma, Minh, Mi) Linh là Mling. Mling, mlang (cặp tên có tính chất lấp láy) theo tiếng của các dân tộc Tây nguyên có nghĩa là một loài chim. Đó là bộ lạc gốc thời Hùng Vương dựng nước.

Ông vẫn không biết mơ-linh, mơ-lang là chím gì. Tuy nhiên ông đã nhận ra đây là một loài chim biểu liên hệ với Hùng Vương.

Tôi ngồi ngẫm nghĩ thấy rằng tổ tiên ngày xa xưa của người Ê-Đê và một số tộc Tây Nguyên từ Nam Hải đi lên vùng núi Tây Nguyên. Vậy thì ta hãy mò tìm xuống vùng Nam Đảo xem có giống chim này không? Tôi tìm trong:

-Malay-English Dictionary của R.J. Wilkinson có từ lang: a generic name for hauks, kites and eagles (tên chủng loại chỉ diều hâu, ó, ưng). Như thế Lang chỉ chung loài mãnh cầm có một khuôn mặt biểu tượng cho mặt trời.

-Mã Lai ngữ langling: the Southern pied hornbill (chim cắt có lông sặc sỡ, nhiều màu ở miền Nam).

Eureka! Langling, mơ-lang, mơ-linh là một giống chim mỏ cắt.

Rõ như ban ngày chim biểu của Hùng Lang, Hùng Vương ngành nọc mặt trời, nọc Việt là con chim Rìu, Mõ Cắt Lang Việt.

Có chứng tích chim mỏ cắt trong sử đồng không?

Như đã nói ở trên có rất nhiều hình bóng chim cắt Việt trên trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn như trên trống Duy Tiên, trên các thuyền trống Ngọc Lũ I và họ hàng, trên trống Sông Đà…

Tên chim mơ-linh khiến ta nghĩ ngay tới thủ đô Mê Linh của Hai Bà Trưng.

clip_image018

Hai Bà Trưng dòng dõi Hùng Vương quê ở Châu Phong nên đã lấy tên vật tổ chim Mơ Linh, Chim Cắt Lang của Hùng Vương làm tên Mê Linh cho thủ đô của mình.

Vật Tổ ở Cõi Trời ngành Nòng Việt là Chim Bổ Nông Lang, Chim Nòng Việt Lang.

Ở ngành nòng Việt là con chim nước có mỏ rìu, mỏ Việt mầu trắng. Đó là con chim bổ nông trắng.

clip_image020

Chim nông là một loài chim nước. Từ nông biến âm mẹ con với nang có nghĩa là túi, bọc, trứng. Chúng ta theo duy âm ngành sông nước, theo mẫu quyền gọi là chim nông, gọi theo cái túi nang dưới mỏ chim dùng để xúc cá. Theo duy dương, như người Tây phương, thì tên chim được gọi theo chiếc mỏ lớn như chiếc rìu là chim Pelican. Từ Pelican có gốc Hy Lạp pelekus là rìu. Pelican là chim Rìu, một thứ chim nước Việt. Chim Rìu pelican tương đương với chim Bổ nông tức chim nông mỏ búa, mỏ bổ, mỏ rìu.

Lưu ý như thế ta có hai loại chim Rìu: Chim Rìu Lửa Bổ Cắt, chim biểu của ngành nọc Việt và Chim Rìu Nước Bổ Nông, chim biểu của ngành Nòng Việt.

Vì thế theo theo duy dương ngành Việt mặt trời thái dương thì chim biểu tượng của nhánh nòng Việt của Hùng Vương là bổ nông, chim nông Việt mầu trắng.

Còn chứng tích chim bổ nông trên trống đồng nòng nọc không?

Có rất nhiều hình bóng chim nông và bổ nông trên trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn như thấy trên trống Ngọc Lũ I, trống Hoàng Hạ, trên Thạp Hợp Minh và có rất nhiểu tượng đồng bổ nông riêng rẽ…

Vật Tổ ở Cõi Trời của Liên Bang Văn Lang là con Cò Lang.

Trên trống Ngọc Lũ I có vành 18 con chim bay. Hiện nay được cho là Chim Lạc.

Tôi đã viết rõ trong bài Chim Lạc Hay Cò Lang? ở đây chim xin tóm tắt những điểm chính về con chim này.

Các nhà làm văn hóa Việt Nam hiện nay gọi 18 con chim bay trên mặt trống đồng Ngọc Lũ I là chim Lạc, là gọi theo tác giả Đào Duy Anh. Ông Anh dựa theo ý của L. Pinot và V. Goloubev cho những con chim này là loài chim nước ngỗng trời và cho chim này chính vật tổ của người Lạc Việt.

clip_image022

Thật ra đây không phải là chim Lạc ngỗng trời. Chân ngỗng, một loài chim nước có màng để bơi được dưới nước trong khi những con chim trên trống đồng Ngọc Lũ I chân không có màng, không thể là ngỗng được. Ngỗng Lạc có đuôi ngắn. Chim ở đây có đuôi dài không thể là chim Lạc. Trăm phần trăm đây không phải là loài ngỗng, không phải là chim Lạc. Đây nhất định phải là cò. Hiển nhiên trước mắt ta thấy rất rõ là những con chim bay có dáng dấp thanh lịch, lả lướt, có mỏ rất dài đầy dương tính nên không phải là chim Lạc ngỗng trời. Đây là loài cò sống ven bờ nước (wading birds), không biết bơi. Cò “đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao” thì phải kêu cứu “ông ơi, ông vớt tôi nao” nếu không được vớt thì cò sẽ bị chết đuối.

Ta thấy mỏ chim rất dài, dài bằng thân người có chủ đích nhấn mạnh đây là loài chim mang dương tính trội. Đây là cò. Cò biến âm với cồ (đực), cu. Cò là chim Lang (đực, dương). Sau gáy có bờm hình phướn gió. Cánh hình thảm thần (magic carpet) bay được như trong truyện Ngàn Lẻ Một Đêm. Người và đuôi hình con diều bay. Đây là con cò liệng, Cò Gió, Cò Lang. Cò Lang còn có một nghĩa là Cò Trắng, mầu trong trắng của gió.

Tóm lại đây không phải là Chim Lạc một trăm phần trăm. Đây là Cò Gió, Cò Lang, Cò Trắng, chim biểu của khuôn mặt Bầu Trời, Khí Gió của Hùng Lang, Hùng Vương, Chim biểu của Liên Bang Văn Lang Hùng Vương phía nọc âm thái dương Lạc Long Quân.

Bây giờ thì ta hiểu rõ tại sao Hùng Vương lại đóng đô ở Châu Phong thuộc đất Bạch Hạ.

clip_image024

Hùng Vương có một khuôn mặt bản thể Gió nên đóng đô ở Châu Phong và thuộc đất Bạch Hạc, Cò Trắng là chuyện hiển nhiên.

VẬT TỔ CÕI ĐẤT: THÚ LANG: THIÊN CẨU, LANG TRỜI.

Ở cõi đất vật tổ của Hùng Lang, Hùng Vương là một loài thú bốn chân sống trên mặt đất phải có tên là Lang và biểu tượng cho một khuôn mặt của Hùng Vương.

Đây chính là loài sói lang, tôi gọi là Lang Trời.

Sói lang có đặc tính tru hú như gió hú nên dùng làm thú biểu cho Hùng Lang, Hùng Vương có một khuôn mặt bản thể bầu trời, khí gió. Sói Lang là tổ của loài chó nhà đã được thuần hóa nên Lang Trời còn được gọi là Thiên Cẩu.

clip_image026

Còn rất nhiều chứng tích Bách Việt thờ vật tổ Sói Lang, Chó. Chỉ xin nêu ra một vài ví dụ. Trong Thủy Kinh Chú có ghi lại các tộc thù nghịch với những tộc Việt Lang gọi Việt Lang là bọn ‘Sài Lang’.

Trước đây ở miền Bắc Việt Nam thờ chó đá. Lạc Việt Tráng Zhuang, Quảng Tây hiện nay vẫn còn giữ tục Múa Chó. Khi một em bé chào đời, họ Múa Chó để tổ tiên phù trợ cho đứa trẻ dễ nuôi và mai sau trở thành người hiền tài. Người Dao ở miền cao Bắc Việt thờ vật tổ chó Bàn Cẩu. Các tộc Lạc Việt hải đảo ở Nam Dương ngày nay còn thờ thần tổ chó Aso và múa Thiên Cẩu.

Việt Nam trước đây ở vùng quê có tục múa Thiên Cẩu mà tôi đã viết trong Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt (1999). Cách đây vài năm Sở Văn Hóa Hội An đã khôi phục lại tục Múa Thiên Cẩu này thay thế cho Múa Lân. Sở cũng xuất bản một quyển sách viết về tục Múa Thiên Cẩu từ xa xưa ở Hội An. Đây là một điểm son, một việc làm trở về nguồn cội bản sắc Việt thật đáng vinh danh. Tôi rất vui và hạnh phúc. Cách đây trên dưới hai mươi năm, tôi khám phá ra vật tổ Lang Trời, Thiên Cẩu này trên trống Miếu Môn I và đã dùng hình Lang Trời này làm hình bìa cho quyển Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc Âm Dương Đông Nam Á, tập II. Tôi đã viết mong các nhà làm văn hóa Việt Nam hãy múa Thiên Cẩu thay vì Múa Lân hiện nay. Không biết các nhà làm văn hóa ở Hội An có đọc những điều tôi viết không? Nếu có, thì đây là một niềm hạnh phúc cho tôi. Còn nếu không, các nhà làm văn hóa Hội An tự mình trở về nguồn cội Việt thì cũng là niềm vui lớn cho tôi vì vật tổ Thiên Cẩu đã được xác thực là đúng. Múa Thiên Cẩu là múa thú biểu Quốc Tổ của cả đại tộc Việt. Múa Thiên Cẩu, Tổ Tiên Hùng phù trợ cho cả đại tộc Việt, cho non sông đất nước Việt. Trong khi múa Lân hiện nay chỉ có mục đích duy tục là cầu may, cầu tài, cầu lộc theo văn hóa Trung Quốc.

Mong rằng chúng ta sẽ múa Thiên Cẩu thay thế cho Múa Lân theo gương Hội An và các tộc Lạc Việt hải đảo ở Nam Dương hiện nay. Các nhà làm văn hóa hải ngoại còn e ngại gì?

Hình bóng Lang Trời, Thiên Cẩu còn thấy nhiều trên trống đồng nòng nọc và đồ đồng của đại tộc Đông Sơn.

clip_image028

Ví dụ như ở trống Miếu Môn I và ở trên Rìu Hồng Bàng đã nói ở trên. Ngoài ra còn có tượng đồng chó riêng rẽ:

Standing_dog_Dongson, c. 4th century CE, bronze, Honolulu Museum of Art.  Hiart

Tượng chó đứng Đông Sơn, thế kỷ thứ 4 SDL (nguồn Bảo Tàng Viện Nghệ Thuật, Honolulu, Hawaii).

Như vậy:

clip_image030

VẬT TỔ CÕI NƯỚC: RẮN LANG, RẮN BỜM GIÓ, BỜM CHIM, TRĂN GIÓ.

Ở cõi nước, vật tổ của Hùng Lang, Hùng Vương là một loài rắn nước hay thủy tộc có tên là Lang.

Đó là Rắn Lang: rắn có bờm gió, Rắn Bay, Trăn Gió, Rắn Trắng…

clip_image032

Trong các khảo cổ vật đào tìm được ở thành Thăng Long có tượng gạch đất nung hình rồng có bờm gió. Đây là dạng thần thoại hóa của Rắn Gió, Trăn Gió. Rắn Lang Gió này tương đương với Rắn Lông Chim Kukulcan của Maya và Quetzal Coatl của Aztec. Rắn lông Chim của các tộc này có một khuôn mặt là Thần Gió như Hùng Lang.

Trên trống đồng nòng nọc, ở trống Quảng Xương, các con thuyển có đầu Rắn Bờm Chim.

Kiểm chứng lại ta thấy rõ các vật tổ của Hùng Lang, Hùng Vương đều có tên liên hệ với từ Lang (con trai, nọc, đực, trắng) và có nghĩa gốc là vật nhọn Chàng (đục), Việt (rìu, bổ, búa, sừng). Chim Lang (chim Rìu Lửa, chim Việt ngành Lửa), Chim Bổ Nông, Bổ Nang (Chim Rìu Nước ngành Nước). Chim Bổ Nông là Chim Nông Việt. Thú Lang Trời là Sói Việt, Lang Việt.

Rắn Lang là Rắn Sừng, Rắn Lang Việt. Ngoài ra Lang còn có nghĩa Trắng, Gió.

Như thế các vật tổ của Hùng Lang, Việt Lang đều có tên liên hệ với Việt, Lang là những Lang Việt có bản thể Gió, Bầu Trời, Tạo Hóa…

Bây giờ chúng ta nói sơ qua về:

BỐN ĐẠI TỘC TRONG LIÊN BANG VĂN LANG HÙNG VƯƠNG.

1. Đại Tộc Hùng Man, Man Việt-Đế Minh.

clip_image034

Đây là đại tộc Lửa thái dương Càn Hùng Man thuộc dòng Đế Minh có:

-Trống biểu là Trống Tượng Lửa Hình Trụ Ống Nguyễn Xuân Quang II (không có trong phân loại của Heger) ví dụ một trống Lào.

-Người Chim Cắt Lửa Mặt Trời thái dương như thấy ở trống Quảng Xương.

-Chim biểu là Chim Cắt Lửa thái dương, Chim Việt Lửa thái dương như thấy ở một trống Điển Việt…

-Cò biểu là Cò Lửa thái dương như thấy ở trống Đông Sơn IV.

2. Đại Tộc Hùng Kì, Kì Việt-Kì Dương Vương.

clip_image036

Đây là đại tộc Lửa thiếu dương Li Đất dương Hùng Kì thuộc dòng Kì Dương Vương:

-Trống biểu là Trống Tượng Đất Dương Hình Núi Tháp Trụ Cụt Đầu Nguyễn Xuân Quang V (Heger II) như trống Tân Long ở Hòa Bình.

-Vật tổ mang sủa (barking deer), munjact (mang gạc), Kì Dương (Mã ngữ kijang) như thấy ở trống Phú Xuyên.

-Người Chim Cắt Đất Mặt Trời thái dương có phần gáy trang phục đầu hình rìu ngang như thấy ở trống Quảng Xương hay người chim thể điệu hóa có hai sừng như trên trống Thành Vân.

-Chim biểu là Chim Cắt Đất dương, Chim Việt Đất dương như thấy ở trống Duy Tiên.

-Cò biểu là Cò Núi, Cò Đá như thấy ở trống Hà Nội I.

3. Đại Tộc Hùng Lạc, Lạc Việt Lạc Long Quân.

Đây là đại tộc Nước thái dương Chấn Hùng Lạc, Lạc Việt thuộc dòng Lạc Long Quân chia ra nhiều tộc:

a. Tộc Nước

Những người sống trên sông nước, trên thuyền gọi là long nhân, long hộ.

clip_image038

-Trống biểu là trống trệt Nam Trung Quốc Trống Tượng Nước Dương Hình Nồi Úp Nguyễn Xuân Quang IV (Heger IV) như trống Vân Nam.

-Người Rắn Nước Có Sừng thái dương như thấy ở trống Quảng Xương hay người chim thể điệu hóa hình Móc Nước như trên trống Nam Ngãi I.

-Chim biểu là Chim Cắt Đen (màu nước thái âm) hay chim cốc. Đồ đồng Điền có rất nhiều tượng chim cốc.

-Cò biểu là Cò Nước dương như thấy ở trống Hữu Chung.

b. Tộc sống bên bờ nước, vùng đất có nước: Dao Việt.

clip_image040

-Thú biểu là Cá Sấu Mõm Dao, Sấu Việt, là thú biểu của Dao Việt dòng Lạc Long Quân như thấy ở trống Hòa Bình.

Sấu Dao thần thoại hóa thành Dao Long thấy nhiều trên đồ đồng Đông Sơn.

c. Tộc Thằn Lằn.

Những tộc Lạc Việt sống ở vùng không có cá sấu lấy thằn lằn mang tính thái âm (mầu đen, sống được dưới nước) làm vật tổ.

clip_image042

Ví dụ trống U Bông hay Nen-xỏng ở Lào có hình thằn lằn.

Trống Sangeang Kalakamau, Nam Dương có hình thằn lằn Rồng Komodo ở ngôi nhà nọc, mặt trời.

……

4. Đại Tộc Hùng Lang, Lang Việt Hùng Vương.

clip_image044

Đây là đại tộc Gió thái dương Đoài vũ trụ khí gió Hùng Vương thuộc dòng Hùng Lang Gió.

-Trống biểu là Trống Tượng Gió Hình Lọng Ống Nguyễn Xuân Quang III (Heger III) như trống Lương Sơn, Kim Bôi, trống Karen.

-Người Chim Cắt Lang Gió thái dương trang phục đầu có phần sau gáy hình phướn gió như thấy ở trống Quảng Xương.

-Chim biểu là Chim Cắt Lang thái dương, Chim Việt Gió thái dương. Trong 18 con chim đứng trên trống Ngọc Lũ I thế nào cũng có một con chim mỏ Cắt Lang. Rất tiếc không có đủ hình vẽ chi tiết cả 18 con chim đứng và 18 con cò bay.

-Cò biểu là Cò Gió thái dương có bờm gió như thấy ở trống Việt Khê.

TẾ LỄ, TẾ VẬT, TẾ THỰC, TRANG PHỤC CỔ TRUYỀN…

Xin nói phớt qua về tế lễ, tế vật, tế thực, trang phục… biểu tượng cho Hùng Vương.

Tế lễ Tổ Hùng và Hùng Vương:

-Đền thờ phải làm theo cấu trúc tam thế, theo vũ trụ tạo sinh gồm có ba đền: đền thờ Tổ Hùng Tạo Hóa, đền thờ Tiên Hùng thế gian và đền thờ mặt trời các Hùng Vương lịch sử.

-Nếu không thực hiện được ba đền như trên chỉ làm một một đền thờ thì bàn thờ gồm ba tầng tam thế và đặt ở hướng Đông, phía mặt trời mọc.

-Trang trí chủ yếu ở đền hay tầng Tổ Hùng dùng hình từ Chấm-Vòng Tròn clip_image046 (thay vì hình đĩa thái cực) có một khuôn mặt Trứng Vũ Trụ Tổ Tạo Hóa Thần Nông-Viêm Đế nhất thể. Ở đền hay tầng thờ Tiên Hùng dùng hình mặt trời-không gian càn khôn thế gian có 8 nọc tia sáng như ở trống Quảng Xương. Mặt trời càn khôn này có một khuôn mặt Bọc Trứng Thế Gian Tiên Hùng Âu Cơ-Lạc Long Quân, Hùng Lang.

Ở đền hay tầng thờ các vị Hùng Vương lịch sử dùng hình mặt trời nọc thái dương 14 nọc tia sáng như ở trống Ngọc Lũ I.

Ở hai bên là chim Cắt Lửa và Rắn Nước Sừng hay ở dạng thần thoại hóa Chim Cắt Phượng Việt, Rắn Nước Rồng Việt…

-Đánh trống đồng Đông Sơn với cách đánh theo nguyên lý nòng nọc (âm dương) như thấy ở trên trống Ngọc Lũ I và các trống họ hàng.

-Nếu không có trống đồng có thể dùng mõ, trống cồng, chiêng thường.

Mõ hình cầu tròn hình trứng clip_image046[1] biểu tượng cho Tổ Tiên Hùng, Hùng Vương Sinh Tạo để ở giữa. Trống để bên phải, phía dương. Cồng hay chiêng để bên trái, phía âm. Nếu giỗ Tổ coi như cả hai ngành Nọc Việt và Nòng Bộc thì đánh trống mặt trời và cồng không gian thái âm. Nếu giỗ riêng ngành Nọc Việt Mặt Trời thì đánh trống mặt trời và đánh chiêng không gian dương. Chiêng là khuôn mặt dương của cồng. Chiêng biến âm với kiềng (vòng đeo cổ, tương tự cồng biến âm với còng, vòng đeo tay). Trong vũ trụ giáo, cả hai cồng chiêng đều có một khuôn mặt biểu tượng nòng vòng tròn không gian. Nhưng chiêng biến âm với chang có nghĩa là sáng, nóng, lửa mang dương tính như chói chang, nắng chang chang… và với chàng (đục, dương, con trai). Chiêng là vòng không gian dương có một nghĩa khí gió, một bản thể Hùng Vương.

-Múa thiên cẩu, lang trời.

-Buồng cau biểu tượng cho bọc trứng vũ trụ Tổ Hùng, bọc trứng thế gian Tiên Hùng và Hùng Vương Sinh Tạo nhất thể… (tương đương với từ chấm vòng tròn).

-Xôi gấc.

Xôi là một trong các tế thực chính.

Tại sao phải cúng xôi? Xôi có gốc Sôi. Nước nấu khi bốc thành hơi gọi là sôi. Theo biến âm s=h như sói = hói (đầu), ta có sôi = hơi. Xôi 1à gạo nếp nấu bằng hơi nước sôi, qua hơi nồi chõ (tục ngữ có câu: nghe hơi nồi chõ). Có nhiều khảo cổ vật nồi chõ đã đào tìm thấy có từ thời Hùng Vương.

Như đã biết, hơi, khí, gió là khuôn mặt bản thể khí gió của Hùng Vương, vì thế mới cúng xôi.

Khi cúng Tổ Hùng thì đĩa xôi mầu trắng làm theo hình từ chấm-vòng tròn clip_image046[2] để cúng Tổ Hùng để ở đền hay tầng trên hết của bàn thờ.

Khi cúng ngành Nọc Việt mặt trời thì cúng xôi gấc mầu đỏ, mầu mặt trời.

Đĩa xôi gấc làm theo hình từ chấm-vòng tròn clip_image046[3] để cúng Tiên Hùng để ở đền hay tầng thứ hai của bàn thờ. Còn làm đĩa xôi gấc theo hình mặt trời có nọc tia sáng mũi mác thái dương thì để cúng các Hùng Vương lịch sử ở đền hay tầng dưới cùng…

-Bánh dầy, bánh chưng dùng cúng Tiên Hùng ở đền hay tầng thứ hai của bàn thờ.

-Ngày xưa cúng máu sống các sinh vật hiến tế.

Như đã nói ở trên tục ăn tiết canh của chúng ta là chứng tích của sự hiến tế mặt trời.

……

clip_image048

Trang phục liên hệ tới Tổ và Tiên Hùng thấy rất nhiều, xin kể ra một vài qua trang phục cổ truyền hát Quan Họ.

-Nhánh Chim, Lửa Âu Cơ.

.Nón thúng quai thao là hình ảnh mặt trời đĩa tròn của thái dương thần nữ Âu Cơ. Jean Cuisinier trong quyển Les Mường gọi là ‘le châpeau de soleil’.

.Khăn mỏ quạ.

Quạ biểu tượng tượng cho mặt trời.

Khăn mỏ quạ mầu hồng biểu tượng cho mặt trời tinh mơ (nhật tảo) thái dương thần nữ Âu Cơ.

.Để tóc đuôi gà. Gà là chim biểu mặt trời thế gian (xem Bầu Cua Cá Cọc) của nhánh lửa đất, đất dương Âu Cơ.

.Yếm vuông mầu đỏ biểu tượng cho đất bằng thái dương (giống bánh chưng) Âu Cơ.

……

-Nhánh Nước, Rắn Lạc Long Quân.

Phái nữ:

.Khăn mỏ quạ mầu đen biểu tượng cho mặt trời lặn (Lạc dương), mặt trời Nước Lạc Long Quân.

.Thắt lưng: biểu tượng rắn dải nước Lạc Long Quân.

.Xà tích: dây bí tích, truyền tích, từ mẹ truyền cho con gái, từ đời này qua đời khác (giống như người Ainu) biểu tượng của dòng Rắn Lạc Long Quân.

….

Phái Nam:

.Ô, dù biểu tượng cho bầu trời, khí gió dòng Hùng Vương Gió, Bầu Trời, Sinh Tạo.

.Khăn đóng: nguyên thủy là dải khăn hình rắn quấn quanh đầu. Mầu trắng hay xanh da trời biểu tượng cho Hùng Vương. Mầu đen (nước thái âm) biểu tượng dòng Lạc Long Quân. Ngày nay đóng lại thành khăn đóng cho tiện.

.Quạt giấy 18 cây nan, vật biểu của khuôn mặt Gió Hùng Vương. Quạt 18 nan mầu đỏ là quạt biểu của khuôn mặt mặt trời mọc của Hùng Lang, Hùng Vương.

.Áo the: trong suốt biểu tượng cho gió Hùng Vương.

….

Để xác thực thêm và cho vững tin hơn, trước khi chấm dứt xin

SO SÁNH VỚI AZTEC, THE PEOPLE OF THE SUN.

clip_image050

Aztec liên hệ mật thiết với Việt Nam. Họ cũng theo vũ trụ giáo dựa trên nòng nọc (âm dương), Chim-Rắn, Tiên Rồng dưới dạng Rắn Lông Chim Quetzal Coatl. Họ nhận mình là The Peole of the Sun, thờ mặt trời, tức ở ngành nọc dương mặt trời như ngành Việt chúng ta. Như đã nói ở trên, họ hiến tế người, moi tim, phân thây, uống máu quân thù như cổ Việt.

Về nghĩa ngữ, từ Aztec có hai giải thích:

-Theo chim biểu, Aztec có nghĩa là Cò. Họ nhận mình là Heron’s people, Người Cò. Hiển nhiên ta thấy liên hệ ruột thịt với Cò Lang Hùng Vương.

-Theo khí biểu (ceremonial weapon), Aztec có nghĩa là Rìu. Theo Wikipedia, Az- = tools. Dụng cụ dùng làm vật thờ thiêng liêng và hữu dụng nhất của người cổ là chiếc rìu. Ta có

AZ(TECS) (dụng cụ) = ADZE = AXE = RÌU = VIỆT.

Aztec là một thứ Việt.

Gộp lại cả hai nghĩa, Aztec là một thứ Lang Việt ở Trung Mỹ.

Họ nhận mình là The People of The Sun, hiển nhiên giống chúng ta Người Việt là Người Mặt Trời. Các lãnh tụ của họ dòng mặt trời hiển nhiên Hùng Vương của chúng ta cũng dòng mặt trời, Vua Mặt Trời.

Một điểm quan trọng cần nói tới là Aztec với nghĩa Rìu, Việt, một đại tộc đặt tên người và quốc gia mình bằng khí biểu cây Rìu Thờ xác thực đại tộc Bách Việt gọi mình là Việt, một thứ Rìu Thờ Thiêng Liêng, có một ý nghĩa mặt trời, là chính đáng, là hữu lý.

SO SÁNH VỚI MAYA.

Thật vắn tắt: tôi đã chứng minh Maya ruột thịt với Việt Nam.

.Họ cũng theo vũ trụ giáo dựa trên nòng nọc (âm dương), Chim-Rắn, Tiên Rồng dưới dạng Rắn Lông Chim Kukulcan. Kukulcan là Việt ngữ. Maya ngữ Ku- là Chim, lông chim và -Can là Rắn. Việt ngữ Ku, tên một loài chim và cũng có nghĩa là chim, thằng Cu có chim. -Can đọc thêm hơi vào là Chăn, cổ ngữ Việt của Trăn.

clip_image052

.Họ thờ mặt trời và hiến tế mặt trời như chúng ta.

.Họ có cùng DNA với chúng ta.

.Ngôn ngữ Maya tương đồng với ngôn ngữ Việt.

Tôi đã chứng minh rõ sự tương đồng này qua bài viết Đức Chúa Jesus Nói Tiếng Việt. Câu nói cuối cùng của Đức Chúa khi ngài bị đóng đinh trên thánh giá là“Hele, hele, lamat zabac ta ni”. Câu nói này không phải là tiếng Do Thái, tiếng Latin hay bất kỳ một thứ tiếng nào ở vùng Chúa Sống lúc bấy giờ. Theo James Churchward đây là thứ tiếng Maya cổ Đông Á và có nghĩa là: “Now I am fainting; the darkness covers my face”. Học giả nổi tiếng người Maya là Don Antonio Batres Jaurequi lại khẳng định đây là tiếng Maya. Tôi, Nguyễn Xuân Quang, đã chứng minh đây là tiếng Việt:

“Hỡi ơi! Hỡi ôi! Làn mây mù sà xuống mặt ta nì”.

Điểm này dễ hiểu vì Việt ngữ ruột thịt với cổ ngữ Đông Á Maya và tiếng Maya Trung Mỹ cũng có nguồn cội từ cổ ngữ Maya Đông Á này. Ngày nay các nhà ngôn ngữ học chứng minh là ngôn ngữ Maya liên hệ với tiếng Nam Đảo, Đa Đảo. Như đã biết những ngôn ngữ các đảo này liên hệ mật thiết với Việt ngữ. Bình Nguyên Lộc cho rằng tiếng Maya liên hệ với tiếng Mã Lai và là tiếng Hùng Vương đợt hai (hay đợt một, tôi nhớ không chắc lắm, phải xem lại). Như thế rõ như ‘con cua tám cẳng hai càng’ Đức Chúa Jesus nói tiếng Việt.

….

Xin kể thêm một vài tương đồng khác:

clip_image054

.Họ có cây Rìu thờ giống hệt cây Rìu Yue (Việt) thấy trong từ Yue trên giáp cốt văn.

.Như đã nói ở trên, họ có tục tế lễ vũ trụ, trời đất, ngày nay hiểu là tế cầu mưa, cầu được mùa. Những tham dự viên bay quanh trục trục thế giới giống hệt cảnh tế mặt trời của người Bách Việt thấy trên thân một trống đồng Điền Việt.

.Một ngạc nhiên sững sờ là khi chúng tôi tới thăm tộc người Maya Tzutujil ở vùng hồ Santiago Atitlán, Guatemala, phái nữ ở đây đội khăn vành dây Tocayal, Rắn Cầu Vồng. Họ biểu diễn cho chúng xem cách quấn khăn vành dây này. Họ dùng một dải vải bẩy mầu cầu vồng cho là con rắn dải. Rắn dải cầu vồng này là Rắn Ánh Sáng, Rắn Mặt Trời ứng với Lạc Long Quân, con cháu Đế Minh. Ngoài ra họ cũng vấn khăn với độn khăn hình rắn như phụ nữ miền Bắc Việt Nam.

Họ mang hình bóng Lạc Việt Maya, một thứ Nòng Việt ở Trung Mỹ.

….

KẾT LUẬN

Không còn gì để nói thêm nữa TRỐNG ĐỒNG NÒNG NỌC (ÂM DƯƠNG) CỦA ĐẠI TỘC ĐÔNG SƠN LÀ TRỐNG BIỂU CỦA HÙNG VƯƠNG, VUA MẶT TRỜI, CỦA NGƯỜI VIỆT MẶT TRỜI.

TRỐNG ĐỒNG LÀ MỘT QUỐC BẢO CỦA VIỆT NAM VÀ LÀ BẢO VẬT CỦA NHÂN LOẠI.

TRỐNG ĐỒNG PHẢI LÀ MỘT DI SẢN VĂN HÓA UNESCO CỦA VIỆT NAM.

Trong các buổi nói chuyện tới, tôi sẽ nói về các khuôn mặt khác của trống đồng và đi sâu vào từng trống một.

clip_image056

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: