TRỐNG ĐỒNG LÀ TRỐNG BIỂU CỦA HÙNG VƯƠNG, VUA MẶT TRỜI (Tóm Tắt Bài Nói Chuyện Ngày 14-8-2016).

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

BÀI NÓI CHUYỆN DO:

.HỘI PHÁT TRIỂN NGHỆ THUẬT TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM (VTADO)

.TỔNG HỘI SINH VIÊN VIỆT NAM MIỀN NAM CALIFORNIA (UVSA)

.HỘI BẢO TỒN VĂN HÓA ĐÔNG SƠN VIỆT NAM ( VDOSOCPA).

ĐỒNG TỔ CHỨC VỚI ĐỀ TÀI:

TRỐNG ĐỒNG LÀ TRỐNG BIỂU CỦA HÙNG VƯƠNG, VUA MẶT TRỜI

(Tóm Tắt Bài Nói Chuyện Ngày 14-8-2016 tại Little Saigon, Orange County, California, USA).

NGUYỄN XUÂN QUANG.

(Phần 1).

presentation 2016_thumb

(Bỏ phần đầu chào đón và cảm tạ).

Kính thưa quí vị trước hết tôi xin nói qua dàn bài, cái khung của bài nói chuyện hôm nay để quí vị dễ theo dõi. Đề tài là Trống Đồng Là Trống Biểu Của Hùng Vương, Vua Mặt Trời nên gồm những phần sau đây: 1. Trống là gì? Trống đồng Đông Sơn là trống thờ, trống thiêng liêng, trống biểu của ngành mặt trời trong vũ trụ giáo 2. Hùng Vương và Người Việt là dòng mặt trời. 3. Một vài chứng sử đồng cho thấy Hùng Vương là vua mặt trời.

4. Kiểm chứng với các tộc ruột thịt với Bách Việt ở Trung Mỹ là Aztec và Maya 5. Vài tế vật, tế thực, trang phục cổ truyền Việt Nam hiện nay biểu tượng cho Tổ Hùng và Vua Hùng Vương lịch sử.

Trước hết xin nói về Trống. Trong vũ trụ giáo có ba nhạc cụ bộ gõ chính dùng trong tế lễ vũ trụ, trời đất, thần tổ… là mõ, cồng và trống.

1. Mõ biểu tượng cho vũ trụ.

clip_image010

Mõ biến âm với MO, bao bọc như mo cau, mo nang (nang có một nghĩa là trứng).

MÕ có hình cầu tròn, hình bầu, hình nang biểu tượng cho Trứng Vũ Trụ, Vũ Trụ.

Hình ảnh của mõ đã thấy khắc ghi trên trống Ngọc Lũ I cách đây 2.500 năm. Hình người gõ mõ có chỏm hình nọc mũi mác Ʌ vì mõ ở đây thuộc ngành mặt trời nọc thái dương (xem trống Ngọc Lũ I). Lưu ý người đánh mõ ở đây cầm một vật hình từ chấm-vòng tròn clip_image012 có một nghĩa nghĩa theo nhất thể là vũ trụ đánh vào mõ. Vật gõ này xác thực mõ có một khuôn mặt là vũ trụ. Đây là đánh bằng vật tạo hóa, thái cực clip_image012 vào mõ tạo hóa, thái cực clip_image012 ở tầng tạo hóa . Ngày nay đánh mõ bằng que nọc I mặt trời vào mõ không gian O  ở tầng lưỡng nghi.

2. Cồng biểu tượng không gian.

clip_image014

Vũ trụ có không gian và mặt trời. Mõ vũ trụ chia ra cồng không gian và trống mặt trời.

Gồng, cồng biến âm còng (vòng đeo tay như còng mọi, còng số 8), với Nòng biểu tượng KHÔNG GIAN.

Trên trống Ngọc Lũ I có căn nhà mái vòm, nhà rùa hình nòng tức nhà nòng không gian. Trước cửa có treo những hàng cồng và người đứng trước cửa cầm cồng.

Trên trống đồng của đại tộc Đông Sơn tất cả những ngôi nhà có cồng đều thuộc về phía nòng không gian.

3. Trống biểu tượng mặt trời.

clip_image016

TRỐNG có một nghĩa là ĐỰC (gà trống).

Trống ruột thịt với:

chống (gậy, nọc chống đỡ).

chông (nọc nhọn).

chồng (chồng có chông, có chống).

.Hán Việt cổ (trống). Cổ là cột, cọc, nọc như cổ người là cọc, cột cắm đầu vào thân người. Cổ là cột là phần nối dài của cột sống.

Cổ biến âm mẹ con với cồ (đực, trống như gà cồ). Quan thoại gu (tung gu là đồng cổ) biến âm với cu (thằng cu). Thằng cu là thằng đực, con trai.

Một đồ gốm cổ đào tìm thấy ở Nayarit, Mexico  (Proto-Clasic Period, 100 CE–250 CE).

(Aztec là một thứ Việt Lang ở Trung Mỹ, sẽ nói ở phần sau) cho thấy trống là đực, là bộ phận sinh dục nam. Một trống của một tộc ở đảo Thái Bình Dương (liên hệ với Lạc Việt) có hình dương vật. Thần Shiva có một khuôn mặt là linga có một biểu tượng là trống. Shiva có một khuôn mặt là mặt trời nên cho thấy trống liên hệ dương vật và với mặt trời.

Vậy ở ngành dương Trụ của vũ trụ giáo, trống biểu tượng cọc, nọc, Trụ, cột, đực, dương, bộ phận sinh dục nam, mặt trời.

Trống biểu tượng mặt trời thấy rõ qua:

clip_image018

Các trống có vẽ hình mặt trời trên mặt trống trăm phần trăm biểu tượng cho mặt trời.

Các nhà nọc, con trai, nhà Lang (Mường), nhà Đinh, nhà Đình (bachelor’s house), nhà mặt trời thường để trống. Ngày nay còn thấy ở Nam Dương gọi là haus tambaran. Những ngôi nhà nọc, mặt trời này trên trống đồng nòng nọc (âm dương) cũng thấy để trống và bên cạnh nhà có dàn trống như trên trống Ngọc Lũ I. Trên trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn tất cả những ngôi nhà có mái đầu đao có để trống đều là nhà nọc dương, mặt trời.

Trong vũ trụ giáo, trống biểu tượng mặt trời.

Trống là trống biểu tượng của mặt trời. Trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn nào cũng có hình mặt trời nữa ở tâm mặt trống, hiển nhiên trống đồng biểu tượng cho ngành mặt trời trăm phần trăm.

clip_image020

Ta thấy thấp thoáng ngay qua ý nghĩa của trống, trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn là trống biểu tượng của Lang Hùng, những Trai Hùng, là trống biểu tượng của Hùng Vương Mặt Trời.

Vài Nét Về Trống Đồng Đông Sơn.

a. Trống Đồng của đại tộc Đông Sơn là trống Thờ, trống Thiêng Liêng không phải là trống làm ra có chủ đích dùng trong âm nhạc.

clip_image022

a. Trống đồng là trống thiêng liêng được thờ phượng như thấy ở các hình vẽ trên vách Núi Hoa Sơn, Quảng Tây của người Lạc Việt Tráng Zhuang, ở Núi Đồng Cổ Thanh Hóa, đền Hùng Vương, đền Cổ Loa, ở chùa Cổ Lễ, chùa Keo… là trống biểu của các triều Đinh,

Lê, Lý, Trần. Các tộc Bách Việt khác cũng thờ trống đồng như tại Ubud, Bali Nam Dương có đền thờ trống Trăng Bali rất nguy nga mà chúng tôi đã có dịp đến tận nơi chiêm ngưỡng.

b. Trống dùng làm vật tùy táng chôn theo người chết, dùng như bùa phù hộ linh hồn người chết, kim chỉ nam, GPS dẫn dường người chết về thượng thế, dùng như thông hành (hộ chiếu) giúp hồn người chết vượt qua bao cửa ải thử thách để về thượng thế hầu được tái sinh hay sống hằng cửu. Có những trống dùng làm vật tùy táng chỉ to bằng ngón tay. Vì thế trống đồng không thể nào là dụng cụ bộ gõ dùng trong âm nhạc.

Nhiều khi đào tìm thấy các trống tùy táng hình làm theo dạng trống đồng nhưng bằng đất sét. Có lẽ vì các tộc này không có kỹ thuật làm trống đồng hay vì lý do tài chính. Vì thế trống đồng dạng đất sét không thể nào là dụng cụ bộ gõ dùng trong âm nhạc được.

c. Trống đồng dùng trong mai táng. Có những trống đồng chứa tro than, các mảnh xương và ngay cả sọ người. Gần đây tại Bình Chánh, Bình Dương đào tìm thấy các quan tài bằng gỗ hình bầu nậm trên có nắp đậy là trống đồng Đông Sơn.

clip_image024Trống Phú Chánh (Baobinhduong.vn).

Đây là dạng mai táng kết hợp giữa văn hóa Sa Huỳnh chôn người trong chum và văn hóa Đông Sơn chôn người trong trống đồng.

Tôi sẽ có bài viết riêng về cách mai táng này.

d. Và cuối cùng là có tục Giết Trống Đồng bởi vì trống đồng là trống thiêng liêng. Vắn tắt, trống là trống biểu, trống huy hiệu, trống biểu quyền lực, sức mạnh, là khí thiêng, là linh hồn… của một tộc, một đại tộc, một quốc gia. Vì thế khi một tộc này chiếm được một tộc kia, họ cướp lấy ngay trống đồng, họ giết ngay trống đồng của tộc đó để diệt trừ tuyệt nọc. Một người sưu tập trống đồng chẳng may thấy có những tai họa xẩy đến cho mình hay dòng tộc của mình kể từ khi sở hữu trống. Họ tin trống còn hồn người chủ cũ còn trong trống. Họ tìm cách giết trống đi. Mặt trời là trái tim, là linh hồn của trống. Giết mặt trời, đục thủng mặt trời là cách hay nhất giết trống đồng. Vì thế các nhà khảo cổ ở Việt Nam và nam Trung Quốc đào tìm được rất nhiều trống có mặt trời bị chọc thủng. Xin đọc thêm bài viết Tục Giết Trống Đồng của tôi ở trong blog bacsinguyenxuanquang.wordpress.com.

Người Việt mặt trời mất văn hóa trống đồng Đông Sơn, người Việt sẽ diệt vong.

Vì thế trống đồng không thể nào là dụng cụ bộ gõ dùng trong âm nhạc mà là trống thờ, trống thiêng liêng.

TRỐNG ĐỒNG LÀ TRỐNG NÒNG NỌC (ÂM DƯƠNG).

-Về hình thể.

clip_image026

Trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn khác với trống thường là phải có mặt đáy để hở. Đáy hở là âm và mặt trống đặc là dương (đặc là đực, tre đặc là tre đực).

Trống đồng nào không có mặt đáy hở không phải là trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn.

Trống để ở vị trí trống có hình dương vật giống như ta đã thấy các trống thường có hình dương vật nói ở trên. Ở đây dương vật giống hình nấm, dương vật mang thêm hình ảnh cây nấm vũ trụ (cây nấm tam thế, cây nấm sống), tôi sẽ nói tới chút nữa đây. Trống càng cổ càng có hình càng giống dương vật ví dụ trống Vạn Gia Bá ở Vân Nam mà các nhà khảo cổ Trung Quốc cho là cổ nhất. Việt Nam cũng có trống loại này như trống Nông Cống nhưng rất tiếc không làm carbon phóng xạ C*14 nên không rõ tuổi.

Nếu lật trống lên, mặt hở mang tính chủ thì nhìn từ trên xuống ta có hình bộ phận sinh dục nữ (lỗ âm hộ, âm đạo và dạ con).

Lật ngược lên ta có một cái cồng, cái nồi, cái cối hay bát hương đồng. Tất cả là vật đựng mang âm tính. Bát hương là một vật thờ cho thấy rõ trống đồng cũng là một vật thờ.

Như thế về hình dạng trống đồng là trống nòng nọc (âm dương), trống Nõ Nường của ngành mặt trời.

Về Nội Dung.

clip_image028

Trên tất cả trống đồng nòng nọc Đông Sơn ở tâm mặt trống luôn luôn có hình mặt trời nằm trong vòng tròn. Vòng tròn là vỏ không gian.

Như thế về nội dung trống đồng nòng nọc Đông Sơn diễn tả vũ trụ, nòng nọc (âm dương). Trống đồng nào dù là hở đáy mà không có mặt trời nằm trong vòng tròn ở tâm mặt trống thì cũng không phải là trống đồng nòng nọc Đông Sơn.

Ngoài ra tất cả các chi tiết trên trống đồng đều được diễn tả theo nòng nọc (âm dương), theo dịch và được viết bằng một thứ chữ nòng nọc (âm dương) tôi gọi là chữ nòng nọc vòng tròn-que. Trong tương lai, có dịp tôi sẽ nói về thứ chữ nòng nọc (âm dương) cổ nhất này của nhân loại mà may mắn tôi đã khám phá ra.

Như thế về nội dung, trống đồng là trống vũ trụ nòng nọc của ngành trống, mặt trời.

TRỐNG ĐỒNG NÒNG NỌC DIỄN TẢ TRỌN VẸN THUYẾT VŨ TRỤ TẠO SINH CỦA VŨ TRỤ GIÁO VÀ CỦA DỊCH DỰA TRÊN NGUYÊN LÝ CĂN BẢN NÒNG NỌC (ÂM DƯƠNG).

clip_image030

Như vậy nòng nọc (âm dương) có nghĩa gì?

Nòng nọc (âm dương) là nguyên lý căn bản của vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo và dịch.

Qui trình của Vũ Trụ Tạo Sinh gồm: hư vô, thái cực, lưỡng nghi, tứ tượng, tam thế, cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống), sinh tạo, tái sinh, hằng cửu…

Trống đồng nòng nọc biểu tượng cho vũ trụ tạo sinh có hình cây nấm vũ trụ (cây nấm tam thế, cây nấm đời sống). Trống hình cây nấm vũ trụ tức trống Nguyễn Xuân Quang VI hay Heger I của ngành đực, nọc mặt trời (vì cây nấm cũng mang hình ảnh dương vật như đã nói ở trên). Ta thấy rất rõ là cây nấm biểu tượng cho cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) là người Thái ở Nghệ An dùng cây nấm làm cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) và người Aztec ở Trung Mỹ cũng vậy. Một gốm thần Nấm đào tìm thấy ở Nayarith, Tây Mexico (Late Formative period  300 B.C. to A.D. 200) Ở Trung Mỹ nấm

được cho là vị thần có nhiệm vụ dẫn dắt các linh hồn người chết thánh thiện về cõi âm để được tái sinh (In Mesoamerica, mushrooms were believed to lead the deified dead into the underworld for rebirth).

Tôi xin đưa ra đây một ví dụ cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) diễn tả trọn vẹn thuyết vũ trụ tạo sinh là cây đèn đá mà chúng ta thấy ở các đền miếu, chùa chiền. Quả bầu nậm nòng nọc (âm dương) ở trên biểu tượng thượng thế gồm ba phần diễn tả ba tiểu thế của thượng thế. Phần dưới lồng đèn diễn tả trung thế cũng gồm ba tiểu thế là 1. Vòm đèn, bầu trời, cõi trên, 2. Thân lồng đèn hình trụ là núi trụ thế gian, cõi đất và 3. Chân lồng đèn hình hoa sen là cõi nước. Đế của cây đèn là hạ thế cũng chia ra làm ba tiểu thế. Trụ đèn là trục thế giới nối liền tam thế.

Đặc biệt nhất là đèn cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) ở chóp có hình trống đồng thay thế cho quả bầu tôi chụp ở sân Viện Bảo Tàng Lịch Sử Việt Nam ở Hà Nội.

clip_image032

Đèn cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) ở chóp có hình trống đồng thay thế cho quả bầu tôi chụp ở sân Viện Bảo Tàng Lịch Sử Việt Nam ở Hà Nội.

Ta thấy rõ như dưới ánh sáng mặt trời quả bầu nậm nòng nọc (âm dương) diễn tả nòng nọc thì trống đồng cũng là trống đồng nòng nọc. Hiển nhiên bầu nậm nòng nọc sinh ra cây tam thế thì trống đồng nòng nọc cũng sinh ra cây nấm vũ trụ (cây nấm tam thế, cây nấm đời sống) diễn tả trọn vẹn thuyết vũ trụ tạo sinh của vũ trụ giáo, của dịch.

TUỔI CỦA TRỐNG ĐỒNG.

clip_image034

So sánh tuổi của trống Ngọc Lũ I (2.500), của hình trống trên vách đá Hoa Sơn (1.800-2.500) và niên đại của các triều đại Hùng Vương ghi trong Đại Việt Sử Ký Toàn thừ từ Kì Dương Vương 2879 TDL tới khi bị An Dương Vương cướp ngôi năm 258 TDL thì trống đồng trống Ngọc Lũ I làm vào hậu bán của triều đại Hùng Vương (phần đầu có thể là Tổ Hùng truyền thuyết). Như thế trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn có những trống cổ hơn trống Ngọc Lũ I như trống Vạn Gia Bá ở Vân Nam hay các trống  còn nằm đâu đó trong lòng đất Việt Nam rõ ràng làm vào thời đại Hùng Vương .

Trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn làm vào thời Hùng Vương hiển nhiên có nhiều triển vọng trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn là trống biểu tượng của các vua Hùng lịch sử. Đây là lý do trống có nhiểu hình dạng và nội dung khác nhau. Mỗi trống là trống biểu của ngành, đại tộc, tộc của Liên Bang Văn Lang Hùng Vương mà chút nữa đây ta sẽ thấy.

Bây giờ ta nói qua về cốt lõi của văn hóa Việt.

Cốt Lõi Của Văn Hóa Việt.

Chúng ta ai cũng biết cốt lõi văn hóa Việt là Tiên Rồng.

Vậy Tiên là gì? Rồng là gì?

clip_image036

Âu Cơ là Nàng Tiên.

Tiên chữ Hán có chữ nhân là người và chữ sơn là núi. Chữ Sơn, Núi trên giáp cốt văn diễn tả bằng ba ngọn lửa. Núi là do chất lửa lỏng trong lòng đất chuyển động đội lên hay phún ra thành núi lửa. Chữ núi ba ngọn lửa tiến hóa thành chữ sơn ngày nay có ba nọc que đứng. Ba nọc que là quẻ Càn, lửa vũ trụ.

Như thế Âu Cơ là người ngành núi, ngành lửa. Trong chủng người vũ trụ là ngành mặt trời.

Âu cũng có nghĩa là Đỏ (au đỏ, má au đỏ), Cơ là Cô là O. Âu Cơ là O Đỏ, Nàng Đỏ, Nàng Lửa, Thái Dương Thần Nữ.

Tiên cũng có nghĩa là nêu, mốc, roi tức vật

nhọn, là nọc, dương, lửa, mặt trời.

Tiên biến âm với Tiêm (vật nhọn như mũi kim tiêm thuốc, que tiêm thuốc phiện) cũng có nghĩa là nọc, cọc, trụ biểu tượng cho nọc dương, núi trụ thế gian, lửa, mặt trời.

Nọc, cọc là Chim. Ta có từ đôi đồng nghĩa chim chóc nghĩa là chim = chóc. Với h câm chim = cóc, cọc. Thái ngữ nok là chim. Nok chính là nọc. Đúng như Bình Nguyên Lộc cho biết tiếng Khả Lá Vàng TIÊM là CHIM.

Tóm lại Âu Cơ là thuộc ngành Núi, Lửa, Mặt Trời, Chim Lửa.

Còn Rồng biến âm với Dòng. Dòng nước chuyển động hình con rắn. Lạc Long Quân là con Dòng Nước, Rắn Nước.

Vậy Tiên Rồng là Chim Lửa và Rắn Nước. Chim Lửa biểu tượng mặt trời là con chim mỏ Cắt, dân gian gọi là chim Rìu vì có mỏ to như cây rìu. Rìu là vật nhọn biểu tượng cho nọc dương, mặt trời. Mường ngữ gọi chim rìu là chim Khướng. Khướng biến âm với Khương là sừng [củ gừng gọi theo hình dạng giống sừng (theo g=s như gội = sối, ta có gừng = sừng) nên Hán Việt gừng là khương và hoàng khương là gừng vàng tức nghệ]. Chim Rìu Chim Cắt là chim Sừng. Anh ngữ chim cắt, chim sừng là Hornbill. Viêm Đế có họ Khương là Sừng. Sừng là vật nhọn biểu tượng cho nọc, dương, mặt trời. Chim Cắt, Chim Sừng, Chim Rìu là Chim Việt, chim biểu tượng của thần mặt trời Viêm Đế, của người Việt ngành mặt trời Viêm Việt. Âu Cơ thuộc ngành chim Việt ngành Nọc Việt Viêm Đế mặt trời. Trong khi Lạc Long Quân là con Rắn Nước. Nếu nhìn ở diện nòng nọc (âm dương) đề huề, thái dương và thái âm thì Lạc Long Quân là con rắn nước thái âm biểu tượng cho ngành Nòng Bộc Thần Nông Nước thái âm (Bộc hiểu theo nghĩa Bọc, bao biểu tượng cho không gian). Nếu nhìn theo ngành Nọc Việt mặt trời thái dương thì Lạc Long Quân là con Rắn Nước có hai sừng thái dương. Lạc Long Quân có mẹ là Long Nữ nên là con rắn và có cha là Kì Dương Vương Lộc Tục, Hươu Đực, Hươu Sừng nên có di thể (gen) sừng nên là con Rắn Nước có sừng.

Trong quyển Gốc Rễ Triết Việt triết gia Kim Định khi nói về Tiên Rồng cũng cho rằng Tiên Rồng là Chim Rắn và có dẫn lại hình chim rắn ở trên. Ông cho chim Âu Cơ là Hồng Tước và giải thích theo triết học. Tôi giải thích theo bình dân học vụ thì Hồng là Đỏ, là Lửa, là mặt trời. Còn Tước là một thứ chim. Hồng Tước có thể là một loại chim mang tính lửa.

Chọn Chim Rắn hay Tiên Rồng?

Trong một buổi nói chuyện lần trước, một thính giả nói rằng từ nhỏ tới giờ chỉ nghe nói Tiên Rồng mà bây giờ bác sĩ lại nói là Chim-Rắn nên nghe không thuận tai và khó mà chấp nhận được. Vậy có thật sự Tiên Rồng là Chim-Rắn hay không? Hãy kiểm chứng lại với các tộc Bách Việt còn sống quanh ta. Trước hết là tộc Ao Naga, một thứ Âu Lạc sống ở trên núi vùng Assam, miền cực tây của địa khối Vân Nam.

clip_image038

Họ còn giữ Chim-Rắn, có vật tổ là chiếc Rìu đầu chim Cắt tức Rìu Chim Việt và các con Rắn Nước chuyển động là Rắn Nước Dương. Phái nữ trang phục đầu bằng hình lông chim cho biết thuộc dòng Chim Rìu ứng với Âu Cơ. Phái nam quấn khăn bằng dải vải biểu tượng cho con dải, con rắn và mầu đen là mầu thái âm nước ứng với Lạc Long Quân. Trước đây phái nam Việt Nam cũng quấn khăn dải rắn này, ngày nay để tiện lợi đóng lại thành khăn đóng.

Các tộc ở các đảo Nam Thái Bình Dương, một thứ Lạc Việt hải đảo cũng vẫn giữ Chim-Rắn. Ví dụ người Dayak, Borneo và người Lombok, Nam Dương.

clip_image040

Người Dayak có hai loại quan tài. Quan tài hình chim cắt dùng chôn phái nữ và quan tài rắn nước có sừng dùng chôn phái nam (rắn ở đây sừng diễn tả bắng ba nọc nhọn mũi mác. Ba nọc là quẻ Càn, lửa vũ trụ, nọc thái dương cho biết rắn thuộc ngành lửa, mặt trời thái dương). Ta thấy rõ như ban ngày, phái nữ thuộc ngành chim (Âu Cơ) nên chôn trong quan tài chim. Phái nam thuộc ngành Rắn nước thái dương nên chôn trong quan tài Rắn thái dương (ứng với Lạc Long Quân).

Người Lombok cũng vẫn giữ vật tổ chim-rắn. Chim là chim Rìu Cắt Việt. Con rắn nước đã thần thoại hóa thành rắn thần nhưng vẫn là con rắn, không có chân như rồng và miệng có lưỡi rắn thè ra (rồng cốt cá sấu. Cá sấu có lưỡi dán sát vào hàm dưới. Cá sấu không lè lưỡi ra ngoài được nên rồng không lè lưỡi ra ngoài).

Đi xa hơn nữa qua bên kia bờ Thái Bình Dương, hai tộc ruột thịt với Bách Việt là Aztec và Maya họ vẫn giữa Chim-Rắn dưới dạng nhất thể là Rắn Lông Chim Quetzal Coatl và Kukulcan. Tôi sẽ nói rõ ở phần sau.

Như thế các tộc Bách Việt quanh ta từ trên núi xuống biển vẫn còn giữ Chim-Rắn. Như vậy chúng ta phải trở về tận cội nguồn từ khi chúng ta có văn hiến, từ thời cổ. Lúc đó chỉ có Chim-Rắn. Trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn chỉ có Chim Rắn, không có Tiên Rồng. Nên tôi dùng nhóm từ Chim-Rắn, Tiên-Rồng để tóm gọn cốt lõi văn hóa Việt từ nguồn cội bắt đầu từ nền văn hóa tự nhiên (naturalistic) dùng các vật tổ có thật trong thiên nhiên là Chim-Rắn cho tới nền văn hóa thần thoại hoa mỹ với các vật tổ không có thật muộn sau này.

CHIM RẮN, TIÊN RỒNG CÓ TRONG SỬ ĐỒNG KHÔNG?

clip_image042

Dĩ nhiên là có. Thuyền trên trống Sông Đà có đầu thuyền đầu rắn có sừng ứng với Lạc Long Quân và đuôi thuyến đầu chim cắt ứng với phía Âu Cơ. Trên một trống Điền Việt ở nam Trung Quốc ở tang trống có chim cắt Việt bay và ở chân trống có Rắn Việt. Ở trống Ngọc Lũ I và các trống họ hàng như trống Hoàng Hạ đầu thuyền rắn nước có sừng há miệng ngậm con chim rìu dưới dạng rắn chim giao hợp. Đầu thuyền ở trống Miếu Môn I hình đầu rắn nước có sừng có hàm trên là hình chim cắt. Đây là dạng rắn chim bắt đầu hòa nhập làm một để thần thoại hóa thành dạng rắn chim nhất thể như rắn-lông chim Kukulcan của Maya và Quetzal Coatl của Aztec.

CHIM RẮN VIỆT TIÊN RỒNG THẦN THOẠI HÓA RA SAO?

clip_image044

Trong các cổ vật khai quật được ở thành Thăng Long cách đây 1.000 năm có một hình đầu chim mà các nhà khảo cổ học gọi là chim phượng. Hiểu theo nghĩa phượng là lửa (hoa phượng là hoa lửa nở vào mùa hè đỏ lửa) thì cũng ổn nhưng lầm lẫn với chim phượng Trung Quốc. Con chim lửa này là con chim phượng Việt có cốt là con chim Cắt, chim Rìu, chim Lửa, chim Sừng, chim Mặt Trời Việt. Ta thấy rõ mồn một con chim ở đây có sừng nhọn có mỏ cường điệu, mỏ rìu. Con chim lửa này có cốt là con cắt lửa, chim Việt. Chim Lửa Việt này hoàn toàn khác với chim phượng Trung Quốc. Chim phượng Trung Quốc có chim chủ (host) là chim trĩ, chim lửa của bầu trời thế gian trong khi chim cắt ở cõi tạo hóa. Xin đề nghị gọi là chim Cắt Lửa Việt thay vì gọi là chim phượng. Chúng ta cần phải tách văn hóa Việt ra khỏi văn hóa Trung Quốc.

Còn con rắn nước của chúng ta thần thoại thành thuồng luồng, rồng Việt phải có thân hình sóng nước của rắn nước như rồng thời nhà Lý. Hiện nay trong các kiến trúc văn hóa và tín ngưỡng Việt, ngay cả ở đền Hùng Vương, Phú Thọ dùng rồng trông giống hệt như là rồng Trung Quốc. Sở dĩ như vậy là vì sau thời nhà Lý, đến thời nhà Lê thì sự Hán hóa đã quá sâu đậm. Và ngày nay nếu chúng ta không giữ lấy cội nguồn, bản sắc Việt, cốt lõi văn hóa Việt thì chúng ta sẽ bị văn hóa Trung Quốc đồng hóa hoàn toàn. Một dân tộc bị mất văn hóa, bản sắc, căn cước sẽ bị xóa sổ trong nhân loại.

Xin tất cả các nhà làm văn hóa Việt trong nước cũng như hải ngoại kể từ bây giờ, nếu thích dạng thần thoại, hãy dùng Chim Cắt Việt và Rắn Nước Việt thần thoại đời nhà Lý làm biểu tượng cho Tiên Rồng.

Tóm lại:

CỐT LÕI VĂN HÓA VIỆT DỰA TRÊN NÒNG NỌC ÂM DƯƠNG, NỀN TẢNG CỦA VŨ TRỤ THUYẾT, VIỆT DỊCH NÒNG NỌC.

TRỐNG ĐỒNG NÒNG NỌC ĐÔNG SƠN CŨNG DIỄN TẢ VŨ TRỤ THUYẾT DỰA TRÊN NÒNG NỌC, VIỆT DỊCH NÒNG NỌC.

Hiển nhiên trống đồng làm vào thời đại Hùng Vương chuyên chở, diễn tả, tàng trữ Cốt Lõi Văn Hóa CHIM-RẮN, TIÊN-RỒNG Việt.

Trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn là:

-Bộ Sách Đồng Văn Hóa Việt Bằng Hình cổ nhất.

-Bộ Sử Đồng Bằng Hình của Đại Tộc Việt.

Bộ Việt Dịch Đồng Nòng Nọc Bằng Hình. Bộ Dịch Đồng Bằng Hình Duy Nhất của nhân loại.

-Quyển Từ Điển Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que, một thứ chữ nòng nọc (âm dương) cổ nhất của loài người.

Đây là lý do tại sao Trồng Đồng Đông Sơn là trống thờ, trống thiêng liêng.

Bây giờ ta hãy đi tìm khuôn mặt Vua Mặt Trời của Hùng Vương trong Hùng Sử Việt và trên trống đồng.

(còn nữa).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: