CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE (Phần 4): TỪ VÀ DẤU HAI NỌC QUE RIÊNG RẼ TRÊN TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG SƠN.

CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE.

(Circle-Rod Writings).

TỪ HAI NỌC QUE II.

(Two Rod Word).

(Phần 4)

TỪ VÀ DẤU HAI NỌC QUE RIÊNG RẼ TRÊN TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG SƠN.

Nguyễn Xuân Quang

Tất cả các khuôn mặt và ý nghĩa của từ hai nọc que riêng rẽ II đã nói ở trên đều có mặt trên trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn và được viết với một ngữ pháp rất hoàn hảo của chữ nòng nọc vòng tròn-que, đúng hơn, chính xác hơn ở bất kỳ một nền văn hóa nào khác.

-Thái cực.

Ví dụ:

.Trên nhiều trống đồng nhất là các trống muộn thường có các tượng cóc/ếch. Phần lớn cóc/ếch dùng diễn tả sấm, mưa và khi nhìn thấy tượng con vật lưỡng cư này là ta nghĩ ngay tới mưa, sấm do đó thường gọi loại trống này là trống ếch (frog drums). Thật ra, như đã biết qua bài ‘Con Cóc Là Cậu Ông Trời’, cóc ếch còn có nghĩa sinh tạo, mang trọn nghĩa vũ trụ tạo sinh như thấy rõ nhất ở trường hợp các tượng cóc/ếch thấy trên các trống minh khi chôn theo người chết (dĩ nhiên không phải là cóc/ếch cầu mưa, biểu tượng cho mưa, sấm cho hồn người chết!). Cóc/ếch ở những trống tí hon minh khí này mang nghĩa sinh tạo giúp hồn người chết được tái sinh hay sống hằng cửu. Ta cũng biết sấm có một nghĩa sinh tạo, tạo hóa ví dụ như big bang là tiếng sấm khai thiên lập địa. Vì thế trên nhiều trống cóc/ếch diễn tả trọn vẹn qui trình của vũ trụ tạo sinh. Ví dụ cóc/ếch trên trống Phú Phương I:

clip_image004clip_image006

Con vật lưỡng cư trên trống Phú Phương I.

Đầu và cổ con vật diễn tả hình bầu nậm nòng nọc (âm dương). Nhìn dưới dạng nhất thể là thái cực gồm cổ bầu Nọc do hai nọc que tạo thành. Hai đầu nọc que có hình chữ/dấu mũi mác xác thực là hai nọc que mang dương tính. Hai nọc que cổ bầu diễn tả thái dương. Phần bầu Nòng gồm hai nòng OO diễn tả thái âm.

Hiển nhiên bầu nhìn dưới dạng nhất thể là thái cực dạng hôn phối thái dương-thái âm còn quyện vào nhau làm một. Hiểu theo diện sấm thì ta cũng thấy đây cũng là dạng thái cực chớp lửa thái dương và nước mưa thái âm sinh tạo ra sấm. Con vật lưỡng cư này hiển nhiên có một khuôn mặt biểu tượng cho sấm sinh tạo.

Đi xa hơn nữa ta thấy bầu nậm thái cực này khi phân cực ra lưỡng nghi ta có cổ bầu hai nọc que biểu là cực dương và phần bầu hai nòng O là cực âm. Lưỡng nghi này sinh ra tứ tượng: hai nọc chấm đặc của mũi con vật diễn tả tượng lửa nguyên tạo; hai hình tam giác ngược diễn tả nước thái âm mang tính lửa nọc thái dương; dưới là bờm gió diễn tả gió dương gồm hình vòm trời và bốn nọc tia lông bờm (số 4 là số Cấn có một khuôn mặt hôn phối với Đoài như thấy qua Vợ Hùng Vương Nàng Đất Cấn hôn phối với Hùng Vương thái tổ có một khuôn mặt Đoài bầu trời, khí gió). Cuối cùng phần trụ ở giữa diễn tả tượng đất và trục thế giới.

Như thế tượng cóc/ếch này diễn tả trọn vẹn ý nghĩa của vũ trụ tạo sinh.

Hiển nhiên hai nọc que ở đây có một khuôn mặt mang tính thái cực (cùng với hai nòng OO).

-Cảnh giã chầy cối.

Trên trống Ngọc Lũ I và các trống họ hàng có cảnh giã chầy cối:

clip_image008

Một cảnh giã chầy cối trên trống Ngọc Lũ I.

Chúng ta biết rõ chầy biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam [với h câm, chầy = cầy (nguyên thủy là khúc cây nhọn đầu dùng sới đất) = cây; cây là cọc, là cược, là cặc, là nọc…] và cối biểu tượng cho bộ phận sinh dục nữ (cối là cái). Chầy cối biểu tượng cho nõ nường, nòng nọc (âm dương). Tổng quát hai chầy giã vào cối ở vị thế còn nằm trong nhau như thấy qua các cảnh giã chấy cối trên các trồng đồng, có một khuôn mặt diễn tả nường nõ, nòng nọc (âm dương) giao hòa còn quyện vào nhau dưới dạng lưỡng cực. Ở đây hai chầy dưới dạng từ hai nọc que II giã vào cối có thành kép chữ V hay chữ Y biểu tượng cho bộ phận sinh dục nữ thái âm OO ngành thái dương (như đã biết OO dương hóa cực đại thành VV và chữ V có một khuôn mặt là ly, cốc có chân Y một nghĩa là bộ phận sinh dục nữ, Phạn ngữ Yoni, âm đạo khởi đầu bằng chữ Y…).

Hiển nhiên hai chầy dạng hai nọc que đóng góp một khuôn mặt vào thái cực chầy-cối nhất thể.

-Lưỡng nghi.

.Cực dương.

-Như vừa nói ở phần thái cực ở trên, hình ngữ bầu nậm nòng nọc ở trên đầu con vật lưỡng cư cóc/ếch trên trống Phú Phương I khi phân cực thì cổ bầu hai nọc que là cực dương.

-Như vừa nói ở phần thái cực ở trên, hai chầy dạng hai nọc que có một khuôn mặt là cực dương.

-Chim trĩ trên mái nhà nọc, mặt trời.

Ở nhiều trống đồng nòng nọc, trên mái nhà nọc, dương mặt trời có hai đầu mái đao nhọn mang dương tính, thái dương, có  chim trĩ đậu:

clip_image010

Một nhà nọc, dương, mặt trời trên trống Nagọc Lũ I.

Nhà thờ phượng trên trống đồng nòng nọc (âm dương) nói chung làm theo kiến trúc tam thế của vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo. Phần trên nóc là thượng thế. Tầng dưới nóc có cảnh người sinh hoạt là trung thế, cõi giữa đất nhân gian. Tầng dưới cùng là hạ thế. Ở các ngôi nhà nọc, dương, mặt trời này, tầng thượng thế biểu tượng bằng chim trĩ. Chim trĩ lửa là chim biểu của mặt trời. Chim trĩ thần thoại hóa thành chim phượng, chim Lửa biểu tượng cho mặt trời. Chim trĩ là loài gà sống nhiều trên mặt đất nên chim trĩ là chim biểu lửa thái dương trời thế gian. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt chim trĩ lửa là chim biểu của Đế Minh, Đế Ánh Sáng, lửa thái dương Càn, cháu ba đời của thần mặt trời Viêm Đế. Trong khi chim mỏ rìu, bổ cắt là chim biểu của thần mặt trời Viêm Đế. Ta cũng thấy người Trung Quốc dùng chim trĩ thuộc loài gà sống trên đất làm chim biểu tối cao ngành lửa thế gian thì họ có một nền văn hóa thần thoại muộn về sau này và thuộc về cõi người mà thôi. Trong khi chúng ta có vật tổ chim cắt lửa thuộc về một nền văn hóa tối cổ khi con người nguyên thủy đầu óc vẫn còn cụ thể lấy con chim cắt có sẵn trong thiên nhiên làm vật tổ ở tận cõi tạo hóa, sáng thế nơi ngọn ngành của vũ trụ tạo sinh. Các nhà làm văn hóa Việt Nam hiện nay vẫn lấy con chim phượng Trung Quốc làm vật biểu Tiên (Rồng) là hoàn toàn lai căng, mất gốc. Hãy trở về với chim cắt, chim rìu, chim Việt.

Ở đây các con chim trĩ đậu trên mái nhà biểu tượng cho cõi trời của nhà tam thế. Con chim trĩ bên phải (phải là dương, đực) là con đực quay mặt về phía tay phải chiều dương cũng cho biết là con đực. Con trĩ đực này có mồng (mào) hai nọc que mang nghĩa lửa, thái dương.

Mồng hai nọc que thấy rõ nhất ở con chim trĩ trên nóc nhà nọc mặt trời ở trống Vienna (Khai Hóa):

clip_image012

Chim trĩ trên nóc một ngôi nhà nọc, mặt trời trên trống Vienna (nguồn: Nguyễn Văn Huyên và cộng tác viên).

Rõ như ban ngày chim trĩ là chim lửa biểu tượng cho lửa thái dương Càn thế gian, đội lốt lửa thái dương Càn tạo hóa (Đế Minh cháu ba đời thần mặt trời Viêm Đế), như thế mồng hai nọc que có một khuôn mặt biểu tượng cho cực dương.

.Cực âm.

./Người trên trống Sông Đà.

.Người trên mặt đất.

Trống Sông Đà là trống nằm trong nhóm trống thái dương thế gian có mặt trời 14 nọc tia sáng Tốn tầng 2 (6, 14) nhánh nọc dương thái dương. Ngoài biên trống có hai vành nọc mũi mác mang tính nọc dương thái dương.

clip_image014

Bán viên 8 người nhẩy múa trên trống Sông Đà..

Hai vành này kẹp ở giữa một vành gồm những đoạn sóng hình thoi thái dương diễn tả Gió dương Đoài vũ trụ khí gió và những đoạn sóng vuông góc nước dương chuyển động Chấn. Ba vành ngoài biên trống này diễn tả liên hiệp Đoài-Chấn nọc dương thái dương. Tất cả các yếu tố trên mặt trống đều diễn tả một khuôn mặt liên hiệp Đoài-Chấn nhánh nọc thái dương. Đoài gió mang tính thiếu âm và Chấn nước mang tính thái âm tức là âm nói chung và có một khuôn mặt cực âm.

Người trên mặt trống vì thế thuộc nhánh nòng âm Đoài-Chấn thấy qua tay trái những người này cầm gậy cong mang tính nòng âm Khôn. Họ thuộc ngành nọc dương thái dương thấy qua tay phải các người này cầm phách để ở vị trí mũi mác hướng thẳng lên trời có một nghĩa thái dương.

clip_image016

Người trên trống Sông Đà.

Ta thấy rất rõ vì mang tính nọc âm thái dương nên trang phục đầu hình chim của những người trên trống này phía trước có hai nọc que đầu hơi cong diễn tả chung nọc âm thái dương (nọc không cong hẳn hình vòm, hình cung để diễn tả gió và cũng không cong lại thành hình móc nước để diễn tả nước).

Hai que nọc sừng cong ở đây có khuôn mặt chính biểu tượng cho cực âm của ngành nọc dương thái dương.

. Người trên thuyền.

clip_image018

Người trên thuyền trên trống Sông Đà.

Hầu hết người trên thuyền trên trống Sông Đà trang phục đầu hình chim phía trước có hai nọc que hơi cong giống như người trên đất trên mặt trống. Vì thế cũng có một khuôn mặt biểu tượng cho cực âm ngành nọc dương thái dương.

.Người trên thân trống.

clip_image020

Người trên thân trống Sông Đà.

Hầu hết người trên thân trống cũng vậy có trang phục đầu hình chim phía trước có hai nọc que hơi cong giống như người trên mặt trống và trên thuyền nên cũng có một khuôn mặt biểu tượng cho cực âm ngành nọc dương thái dương.

./Người trên thân trống và thuyền trên tang trống Bản Thôm.

clip_image022

Thuyền và người trên thân trống Bản Thôm (nguồn: Nguyễn Văn Huyên và cộng tác viên).

Trống Bản Thôm có mặt trời 12 nọc tia sáng thuộc nhóm trống thiếu dương Cấn. Số 12 là số Cấn tầng 2 (4, 12). Nhóm trống có những khuôn mặt chính là Cấn/Đoài (Cấn hôn phối với Đoài thấy qua Vợ Hùng Vương thái tổ Nàng Đất lấy Hùng Vương thái tổ Đoài Khí gió, bầu trời) và Cấn/Chấn (Cấn hôn phối với Chấn thấy qua Âu Cơ Núi Cấn lấy Lạc Long Quân Biển Chấn).

Mũi thuyền và trang phục đầu của người thuyền trưởng và người bên phải trên thân trống ở dạng hai nọc que biến thể thành hình hai trụ cao rất cường điệu. Trụ phía trước hình sừng hơi cong mang âm tính do 5 nọc que tạo thành hình thác nước .Số 5 là số Li, lửa đất, đất dương. Trụ sừng nước lửa diễn tả nước đất thế gian chuyển động, thái dương ứng với khuôn mặt Chấn của trống.

clip_image024

Phía trụ sau cong hình lông chim diễn tả gió dương ứng với khuôn mặt Đoài vũ trụ khí gió của trống.

Kiểm chứng lại cho chắc chắn. Tay trái phía âm cầm đòng hình phễu, hình ly cốc chalice, hình chữ Y mang âm tính có nghĩa là nước dương, Chấn, bộ phận sinh dục nữ. Đòng nước chữ Y này giống các quyền trượng, gậy thiêng hình hoa súng chữ Y của các nữ thần Ai Cập cổ.

clip_image025

Nữ thần Mut Ai Cập cổ có quyền trượng hình hoa súng chữ Y.

(chỉ khác là phía dưới đòng có mũi lao đầu nhọn của phía nọc nam còn quyền trượng của nữ thần Ai Cập cổ đầu dưới bằng mang âm tính nữ).

Trong ly đầu gậy có các sọc nước và từ chấm vòng tròn clip_image026 có một nghĩa là dương, mặt trời gộp lại là nước dương, mặt trời nước. Đây là đòng của đại tộc nước dương, mặt trời nước Chấn.

Ta cũng thấy thân đòng có tua nước thẳng đứng là đòng nước (khác biệt hẳn với chùy gió cong vòng hình cổ chim đầu có tua bờm gió của người thứ ba từ trái qua trên thân trống). Đòng này xác thực khuôn mặt Chấn của trụ nước Chấn. Tay phải phía dương cầm dao cong hình cung là dao gió, xác thực khuôn mặt Đoài của trụ lông chim của trống.

Như thế trang phục đầu nhìn chung là hình chim nước có mỏ sừng, mỏ rìu, mỏ búa, mỏ bổ thuộc loài chim nông thái dương, chim biểu chung cho nhánh nòng âm thái dương (bổ nông gió Đoài và bồ nông lửa nước dương Chấn). Đây là con chim biểu nhánh nọc âm thái dương ứng với Thần Nông thái dương mang tính nòng nọc (âm dương) ngược với trang phục đầu chim cắt sừng của những người trên trống Ngọc Lũ I thuộc nhánh nọc dương thái dương:

clip_image028

Người chim mặt trời trên trống Ngọc Lũ I.

Phía trước trang phục đầu người trên trống Ngọc Lũ I này có hình trụ thẳng hình sừng mang dương tính do 5 nọc que Li tạo thành. Trụ sừng này đối ứng với trụ sừng nước của người trống Bản Thôm. Phần cánh phía sau có hình tam giác mang dương tính nọc thái dương Càn đối ứng với hình lông chim nghiêng và có nét thon mang dương tính nòng thái dương Đoài của trang phục đầu người trên trống Bản Thôm.

Trang phục đầu của người chim ở trống Ngọc Lũ I mang hình ảnh chim cắt, chim rìu lửa thái dương của nhánh nọc dương thái dương Càn Li (Viêm Đế) trong khi trang phục đầu của người chim ở trống Bản Thôm mang hình ảnh chim bổ nông, chim rìu nước thái dương. Xin nhắc là chim nông có hai khuôn mặt nòng nọc (âm dương). Chúng ta theo duy âm, vốn có gốc theo mẫu hệ nên gọi tên chim theo phần túi nang dưới mỏ là chim Nông. Trong khi người Tây phương theo duy dương gọi theo chiếc mỏ lớn như chiếc rìu (gọi theo Aristotle) là chim pelican, có pelekus là rìu. Như thế theo duy dương ta có hai loại chim mỏ rìu, chim rìu là chim rìu lửa mỏ cắt và chim rìu nước bổ nông.

Như vậy nhìn chung thì trang phục đầu của người trên trống Bản Thôm này là chim rìu nước bổ nông diễn tả bằng hai hình nọc que biến thể cho dễ hiểu, là biểu tượng chung cho nhánh nòng Chấn-Đoài có một khuôn mặt nhìn chung là cực âm (Thần Nông) của họ mặt trời thái dương (Viêm Đế-Thần Nông thái dương). Rõ hơn đòng nước và dao gió cũng có gốc  là hai nọc que  biến đổi đi để diễn tả nước Chấn thái âm và  gió Đoài vũ trụ thiếu âm . Cả hai cũng diễn tả chung phía nòng âm Khôn nghĩa là cực âm.

-Tứ Tượng

Tượng Lửa thái dương Càn và thiếu dương Li mang tính chủ trong tứ tượng của khâu thái dương này.

.Tượng Lửa Càn.

Ví dụ:

-Chim trĩ như đã nói ở trên, nhìn dưới diện tượng thì mồng hai nọc que có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng lửa Càn (Đế Minh có tước hiệu là Đế có hai khuôn mặt: Đế cõi tạo hóa có chim biểu là chim cắt lửa thế gian và Vua cõi thế gian có chim biểu là chim trĩ lửa thế gian. Khuôn mặt Lửa thái dương Càn thế gian này cùng với Kì Dương Vương Đất dương Li, Lạc Long Quân Nước dương Chấn và Hùng Vương thái tổ Gió dương Đoài vũ trụ ứng với tứ tượng).

-/Người mặt trời chim cắt.

Trên trống Quảng Xương trống biểu tượng của Liên Bang Văn Lang gồm có hai ngành: ngành Nọc Lửa Chim Âu Cơ và ngành Nòng Nước Lạc Long Quân. Ngành Nọc Lửa Chim Âu Cơ chia ra làm hai đại tộc thái dương Càn Chim mỏ cắt lửa ứng với Man Việt Đế Minh:

clip_image030

Đại tộc Chim Man Việt Đế Minh có trang phục đầu chim cắt lửa có mũ sừng nọc tia sáng, có mỏ diễn tả bằng hai nọc que cường điệu quay về phía phải, chiều dương mang nghĩa lửa thái dương.

và thiếu dương Chim cắt đất có sừng rìu Kì Việt Kì Dương Vương.

clip_image032

Đại tộc Kì Việt Kì Dương Vương có trang phục đầu hình chim cắt đất có mũ sừng đầu sừng bằng ngang mặt đất và phía sau gáy có hình rìu thiếu dương Li.

(xem Trống Quảng Xương, Một Chương Sử Đồng).

Hiển nhiên hai nọc que mỏ chim cắt lửa ở đây có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng lửa.

./Cò trống Đồi Ro có hai nọc que ở cổ.

clip_image034 clip_image035

Cò trên trống Đồi Ro.

Trống Đồi Ro có 6 hình cò bay. Số 6 là số Tốn OII tức âm O thái dương II. Trong mỏ có hình chữ Y nằm. Như đã biết chữ Y mang hình bóng cốc, ly có chân chalice mang nghĩa âm thái dương, nước thái dương, bộ phận sinh dục nữ ngành thái dương.

Như thế con cò này là cò nước thái dương. Ta thấy rõ cò không có bờm (cò có bờm thường thuộc tộc gió), mỏ nhọn như cọc nhọn, bộ phận sinh dục nam mang dương tính lửa, thái dương. Đặc biệt, rõ nhất ở cổ có từ/dấu hai nọc que II có một nghĩa là lửa, thái dương.

Kiểm chứng lại ta thấy trống Đồi Ro là trống có mặt trời 16 nọc tia sáng. Số 16 là số Khôn OOO tầng 3 (0, 8, 16). Trống có nọc tia sáng số Khôn có ba khuôn mặt chính: một là Khôn âm, nước O thái âm OO có lửa nước, nước thái dương Chấn IOO là đại diện; hai là Khôn dương Đoài vũ trụ khí gió và ba là Khôn hôn phối với Càn (giống như trống Hoàng Hạ có mặt trời 16 nọc tia sáng). Ở đây vành chủ yếu của trống là vành hai vòng tròn đồng tâm có chấm có nghĩa là nước dương sinh tạo, Chấn. Ba vành ngoài biên có hai vành nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) có một nghĩa nọc dương thái dương sinh động. Trong các nọc mũi mác này cũng bỏ thêm hai dấu nọc chấm đặc có nghĩa là lửa, thái dương sinh tạo để xác thực tính lửa, thái dương. Hai vành này kẹp ở giữa vành hai vòng tròn đồng tâm có chấm có nghĩa là nước dương sinh tạo Chấn. Cả ba vành là nước thái dương Chấn sinh động.

Như thế trống này có khuôn mặt lửa nước Chấn thái dương mang tính chủ. Và các con cò là cò nước thái dương thấy qua chữ Y nằm ở mỏ và mang tính thái dương thấy qua từ/dấu hai nọc que ở cổ.

Hiển nhiên hai nọc que ở đây có một nghĩa là lửa, thái dương phía nước dương Chấn và có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng nước dương.

.Tượng đất dương Li.

-/Người tộc Đất Lửa Li trong nhóm 7 người nhẩy múa trên trống Ngọc Lũ I.

clip_image037

Nhóm nhóm 7 người nhẩy múa ở bán viên dương trên trống Ngọc Lũ I.

Tôi đã giải thích cặn kẽ trong Chương Ý Nghĩa Hình Người trong Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc Âm Dương Đông Nam. Ở đây chỉ sơ lược nhắc lại các điểm chính có liên hệ tới từ hai nọc que. Trong nhóm nhóm 7 người nhẩy múa Càn Li này gồm có: người sau cùng có trang phục đầu hình bầu nậm diễn tả chủng Người Vũ Trụ. Hai người dẫn đầu là hai đại diện của hai đại tộc nòng nọc (âm dương), ngoại nội của nhánh và bốn người (3, 4, 5, 6) đi sau hai người đại biểu là bốn người của bốn tộc ứng với tứ tượng (nhỏ) của nhánh này.

clip_image038

Bốn người đi sau hai người dẫn đầu của nhóm 7 người nhẩy múa ở bán viên dương đại diện cho bốn tộc ứng với tứ tượng.

Đây là bốn người đại diện của bốn tộc ứng với tứ tượng.

Đọc theo chiều dương từ trái qua phải, ta có theo thứ tự là tộc Càn/Khôn, Li/Khảm, Cấn/Chấn và Tốn/Đoài.

Ở đây chỉ xin chú tâm chính tới tộc Li/Khảm.

Người thứ 5 sau người dẫn đầu là đại diện tộc Li/Khảm.

clip_image040

Người thứ 5 sau người dẫn đầu của nhóm 7 người nhẩy múa ở bán viên dương biểu tượng cho tộc Li/Khảm của nhánh nọc dương Càn Li.

Trang phục đầu như đã biết có hình chim sừng, mỏ cắt lửa. Phần sừng hình trụ nọc bằng đầu diễn tả trục thế gian biểu tượng cho Đất dương gian Li. Sừng do 5 nọc que tạo thành. Số 5 là số Li. Trang phục đầu cho biết tộc này thuộc nhánh Li Càn. Phần sau gáy cũng nói cho biết thuộc tộc nào. Ở đây có hình lưỡi rìu ngang chữ nhật. Búa rìu lưỡi ngang giống sừng hươu biểu tượng cho Li lửa thế gian, đất núi dương. Rìu búa, bổ là dương, ở đây lưỡi có hình chữ nhật không nhọn là rìu mang tính âm tức âm của dương tức thiếu dương Li. Rõ và chắc chắn nhất là trong lưỡi rìu ngang chữ nhật này có phụ đề “vòng tròn có chấm” có một nghĩa ở đây là thiếu dương Li. Như thế phần trang phục đầu này cho biết người này là tộc Li hôn phối với Khảm.

Tay trái cầm gậy thẳng nhưng dài nhất, thẳng nhất trong nhóm, mang hình ảnh trụ thế gian diễn tả gậy Trụ Chống Trời, Trục Thế Giới, Núi Trụ Thế Gian. Tay phải cầm phách nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) có một nghĩa là thái dương. Vậy người này là đại diện cho tộc Li/Khảm của nhánh nọc dương thái dương Càn Li.

Điểm đáng nói ở đây là trên cánh chim trang phục đầu của người này có từ/dấu hai nọc que nằm ngang.

clip_image041

Từ/dấu hai nọc que trên cánh chim trang phục đầu.

Từ/dấu hai nọc que để nằm ngang ẩn ý cho biết là lửa đất bằng thế gian.

Có thật đây là từ/dấu hai nọc que không? Để xác thực ta có thể kiểm chứng với trang phục đầu của ba người còn lại.

.Người tộc lửa thái dương Càn (số 4 sau người dẫn đầu 1) trên cánh có từ ba nọc que III nằm ngang mang nghĩa lửa thái dương Càn thế gian:

clip_image042

Người tộc lửa thái dương Càn có từ ba nọc que III Càn trên cánh.

.Người tộc nước dương Chấn (số 3 sau người dẫn đầu 1) trên cánh có các sọc song song như nước mưa rơi từ trời diễn tả không gian âm nước mang nghĩa nước lửa thái dương Chấn.

clip_image043

Người tộc nước lửa thái dương Chấn có các sọn song song đứng nước mưa Chấn trên cánh.

Tất cả có 4 sọc nước mưa. Số 4 là số Cấn có một khuôn mặt hôn phối với Chấn như thấy qua Âu Cơ Cấn núi hôn phối với Lạc Long Quân Chấn biển.

.Người tộc thổi khèn (số 6 sau người dẫn đầu 1) có khèn là nhạc cụ bộ hơi biểu tượng Gió thái dương Đoài. Trên cánh có các sọc song song nghiêng gió thổi mang nghĩa gió thái dương Đoài vũ trụ khí gió:

clip_image044

Người tộc Gió thái dương Đoài vũ trụ có các sọn song song ngang nghiêng gió thổi Đoài vũ trụ trên cánh.

Trên người có từ chấm vòng tròn có một nghĩa là thiếu âm Gió Đoài vũ trụ.

Như thế trên cánh trang phục đầu của 4 người đều có từ/dấu diễn tả tứ tượng.

Như thế hai nọc que trên cánh người tộc Li trăm phần trăm là từ/dấu hai nọc que biểu tượng cho tượng Đất dương Li.

-/Người tộc tượng Li trên trống Vienna (Khai Hóa.

Trống Vienna hay Khai Hóa có mặt trời 12 nọc tia sáng thuộc nhóm trống thiếu dương Cấn.

Như đã nói ở trên (ở phần cực âm ở trống Bản Thôm), trống có hai khuôn mặt chính là Đoài và

Chấn cùng hôn phối với Cấn.

clip_image046

Một trong 4 nhóm những người nhẩy múa trên trống Vienna (Khai Hóa).

Ta thấy ngay người trên trống này thuộc phía nòng âm (Gió Đoài, Nước Chấn) vì tay trái cầm gậy cong mang âm tính. Tay phải cầm phách để ở vị trí chúi xuống đất mang nghĩa thái dương âm.

Trên mặt trống có bốn nhóm 4 người diễn tả 4 đại tộc ứng với tứ tượng (lớn).

Mỗi nhóm có 4 người lại diễn tả 4 tộc ứng với tứ tượng (nhỏ) của một đại tộc. Ở đây chỉ xin lấy một nhóm làm ví dụ theo hình ở trên.

Trang phục đầu hình đầu chim có phần phía trước diễn tả bằng ba nọc que tạo ra hai sừng dính chung nhau nhưng vẫn còn là hai, không chập lại thành một (thay vì 4 nọc que diễn tả hai sừng riêng rẽ).

Người dẫn đầu phần ‘sừng’ phía trước trang phục đầu có hai nọc hơi cong trong có các chấm đặc mang tính dương sinh tạo diễn tả lửa dương. Phần sau gáy không có gì, trống không diễn tả Khôn. Như thế phần ‘sừng’ dương ở đây đi với Khôn cho biết người này là người tộc lửa thái dương Càn (hôn phối với Khôn) của nhóm Càn này. Người thứ hai phần trước trán có hai nọc hơi cong. Phía sau gáy có bờm. Vậy người này là tộc Đoài vũ trụ. Người thứ ba, phần trước trán có hai nọc cong hơn. Phần sau gáy hình hộp không gian có sọc ngang diễn tả nước không gian. Vậy người này là tộc Nước.

Quan trọng nhất ở đây là người cuối cùng thứ 4 có phần phía trước trang phục đầu ba hình nọc que.

clip_image047

Người tượng Đất Li.

Nọc ở giữa biến thành một nọc chấm đặc mang nghĩa nọc dương sinh tạo. Còn lại hai nọc que hai bên diễn tả trụ nọc, trụ cột biểu tượng đất dương Li. Sau gáy có hình rìu chữ nhật biểu tượng cho đất. Người này là tộc đất dương Li của nhóm đại tộc Càn phía nòng âm.

Hiển nhiên hai nọc que hơi cong có bỏ dấu nọc chấm đặc ở giữa diễn tả tượng đất dương nhưng ở đây thuộc về nhánh nòng âm của ngành nọc âm thái dương.

-/Chim cắt đứng trên đất Trên trống đồng nòng nọc, âm dương Duy Tiên.

Trên trống Duy Tiên có những con chim cắt đầu có mũ sừng, như đã biết là chim biểu tượng cho nọc, dương, đực, mặt trời, là chim biểu của thần mặt trời Viêm Đế.

clip_image049

Chim cắt trên trống Duy Tiên.

Vì thế mà trong mỏ các con chim cắt ở đây có phụ đề chữ (hay dấu) nọc que mang nghĩa nọc, dương, mặt trời.

Đặc biệt ở đây trong mũ sừng có hai nọc que mang nghĩa thái dương.

Tuy nhiên chim cắt đứng trên mặt đất nên là chim cắt đất vì thế hai nọc que biểu tượng cho tượng lửa đất thái dương.

Kiểm chứng lại ta cũng thấy cò bay trên trống này có bờm hình núi tháp, hình rìu biểu tượng cho đất dương. Bên trong bờm có chữ/dấu nọc que có một nghĩa nọc dương, trụ nọc đất dương. Con cò này là cò đất dương, cò đá ăn khớp với chim cắt đất đứng trên mặt đất.

./ Người tộc Li của nhánh nước trên thuyền Li trên trống Ngọc Lũ I.

Như đã biết trong 6 con thuyền trên trống Ngọc Lũ I có một con thuyền của tộc Li/Khảm.

clip_image051

Thuyền Li/Khảm trên trống Ngọc Lũ I.

Thuyền này được nhận diện qua một trong các mấu chốt đặc thù là nồi nước hình bầu diễn tả nước thiếu âm từ bầu trời Khảm để trên lửa Li ở dưới gầm cầu tam thế dưới dạng Lửa Li hôn phối với Nước Khảm (Li Kì Dương Vương hôn phối với Khảm Long Nữ).

Trang phục đầu của người thuyền trưởng ngồi sau mũi thuyền có hai nọc que hình cong mang âm tính nhưng nhọn đầu mang tính dương, thái dương. Đây là hai sừng hươu mang âm tính của phía nòng, âm nước (của tộc thuyền nước) diễn tả đất Lửa Li ngành nòng âm.

Hai sừng nọc que cong nhọn này diễn tả thuyền

tượng đất Li phía nòng âm nước.

.Tượng Gió Dương Đoài vũ trụ.

-/Người trên mặt trống Hoàng Hạ.

Như đã biết, trống Hoàng Hạ thuộc nhóm trống có mặt trời 16 nọc tia sáng Khôn tầng 3, đất âm thế gian (0. 8, 16). Nhóm trống Khôn này có những khuôn mặt chính là Khôn âm là Nước Chấn, Khôn dương là khí Gió Đoài vũ trụ và Khôn hôn phối với Càn. Trống Hoàng Hạ là trống Khôn Càn thế gian (thế gian vì Khôn tầng 3 và có cảnh sinh hoạt nhân sinh trên mặt trống) có khuôn mặt chính là Đoài Chấn (nòng Khôn). Trống Hoàng Hạ đối ngược nòng nọc (âm dương) với trống Ngọc Lũ I, trống biểu của đại tộc Li mang tính thái dương đội lốt Càn thế gian (Kì Dương Vương Li đội lốt Càn thế gian Đế Minh) với hai nhánh Li- Đoài nọc dương thái dương. Như thế ta có thể suy diễn ra ngay trống Hoàng Hạ có một khuôn mặt là trống biểu của đại tộc Đoài (đối ngược nòng nọc với Li) mang tính chủ với hai nhánh Đoài-Chấn nọc âm thái dương của ngành nọc dương thái dương.

Trên trống Hoàng Hạ có hai nhóm người đều có 6 người nhẩy múa như nhau.

clip_image053

Nhóm 6 người nhẩy múa ở bán viên dương.

Ta thấy ngay ở nhóm 6 người nhẩy múa ở bán viên dương, trên đầu người sau cùng có con chim nông trong mỏ chữ/dấu nọc que cho biết nhóm này là nhóm chim nông dương tức chim bổ nông Gió Đoài vũ trụ khí gió.

clip_image054

Nhóm 6 người nhẩy múa ở bán viên âm.

Còn nhóm 6 người nhẩy múa ở bán viên âm, trên đầu người cuối cùng có con chim nông đầu tròn O mang tính nòng âm, trong mỏ KHÔNG có chữ/dấu nọc que cho biết nhóm này là nhóm chim nông âm tức chim nông bổ nông Nước Chấn.

Trừ hai người cuối cùng của hai nhóm còn lại 10 người đều có trang phục đầu giống nhau. Điểm này cho biết hai nhóm người thuộc cùng một đại tộc. Trang phục đầu của 10 người này cũng có hình chim nhưng với những nét cong tròn mang âm tính. Đây là những con chim âm. Phía trước trán của trang phục đầu có hai sừng hai nọc que cong hình cung diễn tả thái dương gió. Qua hai con chim nông bay trên đầu của người cuối cùng của hai nhóm ta vững tin đây là trang phục đầu chim nông lửa, thái dương ngành nọc âm thái dương.

Như thế hai nhóm người nhóm nhẩy múa này đều thuộc đại tộc chim nông Đoài vũ trụ khí gió.

Hiển nhiên hai sừng có hình từ hai nọc que hình cong diễn tả tượng Gió dương Đoài vũ trụ.

./Cò trên trống Đông Sơn II.

clip_image056

Trống Đông Sơn II.

Trống Đông Sơn II na ná giống trống Quảng Xương (trống Liên Bang Văn Lang Hùng Vương). Trống thuộc nhóm nòng âm Khôn (Khôn dương là Đoài và Khôn âm là Chấn) có mặt trời 8 nọc tia sáng. Số 8 là số Khôn tầng 2 (0, 8). Ở đây không có cảnh nhân sinh nên trống có một khuôn mặt là trống vũ trụ, tạo hóa. Số Khôn 8 ứng xử như số Khôn 0 ở cõi tạo hóa. Trong các khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có 7 nọc mũi mác mang dương tính, lửa, thái dương chồng lên nhau. Số 7 là số Càn. Như vậy không gian mang tính Khôn dương, khí gió. Vành sát tâm trống là vành có từ chấm vòng tròn clip_image026[1] có một nghĩa thiếu âm khí gió với các tiếp tuyến tạo thành sóng chuyển động, vận hành mang dương tính cho biết là gió chuyển động, Gió dương Đoài vũ trụ. Vành này cho biết trống có khuôn mặt chủ khí gió Đoài vũ trụ. Ngoài biên có hai vành nấc thang (hiện nay gọi lầm là răng lược) có một nghĩa là nọc âm thái dương. Với không gian dương hai vành này có một khuôn mặt chủ là không gian dương khí gió. Như thế trống này có khuôn mặt chủ là khí gió Đoài vũ trụ khí gió.

Vành chim bay có 4 con cò bay. Số bốn là số Cấn, như đã biết, có một khuôn mặt hôn phối với Đoài vũ trụ khí gió.

Trong cổ cò có chữ nọc que gợn sóng gió. Nhưng đặc biệt nhất là bờm cò diễn tả bằng từ hai nọc que ở vị trí gió tạt.

Đây là cò gió trên trống có một khuôn mặt chủ là Gió dương Đoài vũ trụ.

Hiển nhiên từ hai nọc que diễn tả bờm gió biểu tượng cho tượng gió.

./Cò trên trống Vienna (Khai Hóa).

clip_image058

Cò trên trống Vienna (Khai Hóa).

Như đã nói ở trên, trống Vienna hay Khai Hóa có mặt trời 12 nọc tia sáng thuộc nhóm trống thiếu dương Cấn có một trong những khuôn mặt chính là Đoài/Cấn. Những con cò ở đây mỏ hơi cong mang một chút âm tính tức thiếu âm nguyên thể của gió. Viền trên cùng của cánh có hình cung vòm trời nắp vung biểu tượng cho bầu không gian gió. Đặc điểm nhất là bờm gió hình hai nọc que gió tạt.

Đây là cò gió trên trống có một khuôn mặt chính là Gió dương Đoài vũ trụ.

Hiển nhiên từ hai nọc que diễn tả bờm gió biểu tượng cho tượng gió.

.Tượng Nước Dương Chấn.

./Người trên thuyền trên trống Hoàng Hạ.

clip_image060

Một chiếc thuyền trên trống Hoàng Hạ.

Như đã nói ở trên trống Hoàng Hạ là trống biểu của đại tộc Đoài vũ trụ với hai nhánh Đoài và Chấn. Người trên thuyền thuộc nhánh nước thái dương Chấn. Ở đây ta thấy trang phục đầu hình chim nông phía trước có hai sừng cong. Ở đây cong nhiều hơn ở trang phục đầu của người trên mặt đất diễn tả thái dương nước. Cánh chim hình chữ nhật diễn tả không gian. Ta thấy rõ ở những người tộc nước có phần hộp không gian này trong có sọc song song diễn tả nước thì phần sừng hai nọc que cong hơn.

Từ hai nọc que cong ở đây diễn tả tượng nước thái dương.

-/Người trên thân trống Hòa Bình.

Tổng quát thì trống Hòa Bình có mặt trời 12 nọc tia sáng là trống mặt trời Cấn/Chấn thế gian. Trống có vành chủ chốt là những con cá sấu mõm dao, sấu gạc, sấu Lạc thái dương nên có một khuôn mặt chủ đất âm có nước thái dương, nước thái dương Chấn.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt đây là trống biểu của Chấn Lạc Long Quân nhánh đất âm Cá Sấu Dao, Dao (Giao) Long, Giao Việt.

clip_image062clip_image064

Người trên thân trống Hòa Bình.

Trên mặt trống không có cảnh sinh hoạt nhân sinh nhưng ở thân trống có hình người. Đây là người đại biểu của đại tộc sấu dao, ông mo hay thầy pháp của tộc Sấu Dao, Dao Việt. Người có trang phục đầu phía trước có hai sừng cong tròn đầu mang tính thái dương âm (một dạng tai thỏ, thú biểu của trăng âm thái dương). Phía sau có hình hộp chữ nhật hơi cong diễn tả đất âm có nước. Theo James Churchward trong The Sacred Symbols of Mu, hình chữ nhật là chữ M, một biểu tượng mẫu tự của Mu, Đất Mẹ. Nó là biểu tượng của mẹ, đất, lãnh thổ, vùng, đế quốc, tất cả thứ gì liên hệ tới đất):

clip_image066

Trong hộp có các sọc song song diễn tả nước. Một bên có bỏ các dấu nọc chấm đặc theo hình nọc que diễn tả nọc dương sinh tạo có một khuôn mặt là trụ đất dưới dạng bụi sinh tạo. Gộp lại diễn tả đất (có) nước mang dương tính sinh tạo. Trang phục đầu diễn tả đất âm có nước (ven bờ nước, đầm hồ… ăn khớp với cá sấu dao trên mặt trống) ngành nọc âm thái dương. Tay phải phía dương cầm phách nọc mũi mác có một nghĩa thái dương nhưng ở vị trí nghiêng nên diễn tả âm thái dương. Tay trái cầm phách này nhưng để ở vị trí chữ V diễn tả nước âm thái dương, vực thẳm ứng với Chấn. Hai tay diễn tả đất âm có nước thái dương.

Người này thuộc đại tộc sấu dao sống ở vùng đất âm có nước, đầm lầy ứng với Dao (Giao) Việt của Lạc Long Quân.

Hiển nhiên hai sừng từ hai nọc que cong ở đây diễn tả tượng nước thái dương.

-/Người Rắn thái dương trên trống Quảng Xương.

Trống Quảng Xương có mặt trời 8 nọc tia sáng cùng nhóm trống Khôn với trống Hoàng Hạ (có 16 nọc tia sáng cũng có khuôn mặt Đoài). Nhưng Đoài ở đây thuộc ngành nọc âm thái dương vì ngoài biên trống có hai vành nấc thang nọc âm thái dương (trong khi ở trống Hoàng Hạ, Đoài có khuôn mặt nọc dương thái dương vì ngoài biên có hai vành nọc mũi mác nọc dương thái dương).

Trống Quảng Xương có mặt trời 8 nọc tia sáng là trống mặt trời Càn-Khôn, vũ trụ thế gian của ngành Người Mặt Trời thái dương Chim-Rắn gồm có hai nhánh người chim cắt lửa đất và người rắn nước.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, trống Quảng Xương là một chương sử đồng ghi khắc lại truyền thuyết Chim-Rắn, Tiên Rồng, Tổ Hùng Tạo Hóa sinh ra bọc trứng thế gian Âu Cơ Trăm Lang Hùng Mặt Trời gồm có hai ngành dương Lửa Núi Chim và ngành âm Nước, Biển Rắn, Rồng Lạc Long Quân (xem Trống Quảng Xương, Một Chương Sử Đồng). Ở đây chỉ xin nói tới ngành Người Rắn, Nước mặt trời thái dương.

clip_image067

Người Rắn thái dương trên trống Quảng Xương.

Trang phục đầu có dải dài hình thác nước đổ xuống hình con dải (rắn nước). Rắn dải này có

sừng hai nọc que ngang (hình ảnh nước đất bằng) đầu nọc bằng, không nhọn mang âm tính, diễn tả thái dương của nước, nước lửa, nước thái âm mang tính thái dương, lửa.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, Rắn có hai sừng thái dương là thú biểu của Lạc Long Quân Nước thái dương (Lạc Long Quân có thú biểu là Rắn có hai sừng âm thái dương. DNA hai sừng của Lạc Long Quân có được là do từ cha Hươu Sừng Lộc Tục Kì Dương Vương truyền xuống. Hai sừng mang âm tính vì có DNA nước của mẹ Long Nữ. Còn DNA Rắn Rồng nước hiển nhiên có từ mẹ Rắn Rồng nước Long Nữ).

Rắn hai sừng âm thái dương này sau thần thoại hóa thành Rồng Rắn có hai sừng như Rồng đời nhà Lý.

Từ hai nọc que diễn tả thành hai sừng đầu bằng mang âm tính diễn tả tượng nước thái dương.

(còn nữa).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: