CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE: TỪ HAI NỌC QUE (Phần 3).

CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE.

(Circle-Rod Writings).

TỪ HAI NỌC QUE .

(Two Rod Word).

(Phần 3)

Nguyễn Xuân Quang

-Tam Thế.

Tứ tượng dương liên tác với tứ tượng âm sinh ra tam thế. Cổng đền, miếu Việt Nam thường làm theo cấu trúc tam thế. Ví dụ:

.Cổng Đền Thờ Vua Đinh Tiên Hoàng ở Hoa Lư, Ninh Bình.

clip_image002Đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng, Ninh Bình (ảnh của bác sĩ Amy Nguyễn).

Cấu trúc cổng đền theo tam thế gồm ba phần: tầng trên cùng là thượng thế, tầng giữa trung thế và tầng dưới chân là hạ thế. Phần hai trụ nọc que hai bên là trục thế giới thông thương tam thế. Bước từ ngoài vùng thế phàm qua cổng trục thế giới là vào trong thế giới thần linh thiêng liêng (xem dưới).

Hai trụ nọc que trục thế giới cho biết tam thế này do hai nọc que tạo thành.

.Cổng Đền Hùng, Phú Thọ.

clip_image004Cổng Đền Hùng Vương, Phú Thọ (ảnh của bác sĩ Amy Nguyễn).

Tương tự cổng Đền Hùng Vương, Phú Thọ cũng có kiến trúc xây theo tam thế. Nhưng ở đây biến dạng đi. Thay vì tam thế phân ra nhiều tầng, ở đây chỉ có một tầng với ba cửa nhỏ diễn tả ba cõi nhỏ, ba tiểu thế thế gian. Hai trụ cổng hai bên lối vào cổng là trục thế giới.

Ta cũng thấy hai vị thần gác cổng trang phục giống nhau có nghĩa là CHỈ cùng một ngành, một đại tộc. Tuy nhiên họ cầm khí giới khác nhau. Vị bên phải (phía phải là phía dương) cầm lao nhọn mang dương tính nọc dương thái dương thuộc ngành nọc lửa dương thái dương. Vị bên trái (phía trái là phía âm) cầm rìu lưỡi cong như trăng lưỡi liềm mang âm tính nọc nước âm thái dương. Vì có trang phục giống nhau nên hai vị này là hai khuôn mặt nòng nọc (âm dương), ngoại nội của một ngành, một đại tộc mà thôi. Mái cổng lõm cong hình trăng lưỡi liềm, hình sừng, hình thuyền nên đại tộc này là đại tộc nước thái dương ứng với Lạc Việt Lạc Long Quân.

Như thế qua hai vị thần ta thấy hai trụ cổng có một khuôn mặt lưỡng nghi của ngành, đại tộc nọc âm thái dương Lạc Việt. Hiển nhiên hai vị này cho biết hai trụ nọc que mang tính lưỡng nghi sinh ra tứ tượng, tam thế.

Ta cũng thấy trên nóc thượng thế có hình lưỡng long chầu nguyệt (hay chầu mặt trời?) cho biết rõ đây là cổng đền của ngành, đại tộc nọc âm thái dương thuộc nhà Rồng Lạc Long Quân.

Như thế đền này là đền Hùng Vương của Lạc Việt Lạc Long Quân không phải là đền thờ Tổ Hùng chung cho cả hai ngành Chim-Rắn, Tiên Rồng, Âu-Lạc.

Nếu là đền chung Tổ Hùng thì phải làm theo cốt lõi văn hóa Chim-Rắn, Tiên Rồng Việt của cả hai ngành Hùng Vương. Một bên phải là chim cắt dòng Hùng Kì ngành Chim Âu Cơ Lửa và một bên là phải là Rắn sừng hay mào dòng Hùng Lạc ngành Rắn Lạc Long Quân, Nước.

Còn nếu thích làm theo nền văn hóa thần thoại muộn hiện nay thì một bên là chim cắt thần thoại hóa thành Chim Việt, Chim Lửa Việt, không phải là chim phượng của Trung Quốc [chim phượng cũng có nghĩa là chim lửa nhưng có chim chủ (host) là chim trĩ]. Chim Việt, Chim Lửa Việt có cốt là chim cắt, chim sừng (hornbill) dân dã Việt Nam gọi là chim Rìu vì có mũ sừng, có sừng và mỏ to như rìu, ăn khớp trăm phần trăm với từ Việt có một nghĩa là Rìu. Việt ngữ từ Cắt có nghĩa là chặt, ruột thịt với rìu. Cắt biến âm với Anh ngữ cut, cắt. Theo c=h (như cùi = hủi), ta có cắt = Anh ngữ hack, búa rìu = Đức ngữ hacken: to chop (chặt). Chim cắt là chim rìu, chim Việt. Chim Việt, Chim Lửa Việt này còn thấy rõ ở các viên gạch, ngói, vật trang trí ở thành Thăng Long xưa mới khai quật được gần đây:

clip_image006Chim Việt, Chim Lửa Việt sừng là Chim Sừng (Hornbill), Chim Cắt, Chim Rìu (ảnh của tác giả chụp ở khu triển lãm cổ vật khai quật được ở thành Thăng Long 1.000 năm trước đây).

Hiện nay các nhà khảo cổ Việt Nam vẫn gọi cổ vật này là chim phượng gây ra lầm tưởng là chim phượng Trung Quốc. Đề nghị bỏ từ chim phượng này hãy dùng từ Chim Việt, Chim Lửa Việt (vì như đã biết Chim Lửa Việt có sừng Việt cường điệu hoàn toàn khác với chim phương Trung Quốc). Kể từ nay trong các kiến trúc, cờ phướn thờ phượng hãy dùng Chim Việt này tuyệt nhiên không dùng chim phượng của Trung Quốc.

Bên còn lại, theo chính gốc phải là còn rắn nước, rắn có sừng, có mào (mồng) vì thuộc ngành nọc thái dương. Rắn sừng là rắn gạc (sừng), Rắn Việt. Theo g=l như gạc = lạc (bắn), ta có gạc = lạc. Rắn sừng, rắn gạc là Rắn Lạc, là Rắn Việt. Còn muốn làm theo nền văn hóa thần thoại muộn hiện nay thì Rắn Lạc, Rắn Việt thần thoại hóa thành thuồng luồng, rồng rắn có sừng, Rồng Việt như thấy ở rồng-rắn đời nhà Lý.

clip_image008Rồng-Rắn đời nhà Lý (Bảo Tàng Viện Lịch Sử, Hà Nội ảnh của tác giả).

Để bảo tồn văn hóa Việt, không nên dùng rồng long Trung Quốc.

Đền Hùng liện nay là của Lạc Việt cổng chỉ có Rồng phía Lạc Long Quân (lho6ng có Chim) trong khi Phú Thọ là Đất Phong Châu, Bạch Hạc của Tổ Hùng Liên Bang Văn Lang  có cả ngành Chim tức Cò Trắng, Cò Lang (Bạch Hạc) thì đền phải là đền Tổ Hùng hai ngành Chim-Rắn, Tiên Rồng  mới trọn vẹn.

……

Trục Thế Giới

Hai nọc que có một khuôn mặt biểu tượng cho Trục Thế Giới.

Trường hợp trục thế giới do hai nọc que tạo ra này thường diễn tả trục rỗng nhấn mạnh ý nghĩa thông thương tam thế và thường dùng làm cổng vào những nơi thờ phương linh thiêng.

Ví dụ:

-Thạch bản 50 của Niven.

James Churchward trong The Sacred Symbols of Mu có nói tới hình một Cổng Đền với Hai Trụ Cột ở thạch bản số 50 của Niven:

clip_image010

clip_image011

clip_image012

Vòm cổng có chữ Hclip_image013 trong ngôn ngữ Mu. Đây là biểu tượng mẫu tự Bốn Lực Sinh Tạo. Như thế đền này tôn thờ Bốn Nguyên Sinh Động Lực Chính (ghi chú thêm của tác giả: Bốn Thần Tổ Sinh Tạo Chính). Ở dưới là hai trụ cổng, mỗi trụ có bốn phầnclip_image014, số 4 (dạng Uighur) ứng với Bốn Nguyên Sinh Động Lực. Đầu trục bên trái trên đầu có ký tự clip_image015, sức mạnh và trụ bên phải có ký tự clip_image016, tạo dựng.

Sơ đồ mặt bằng đền này ở trên một thạch bản khác chỉ cho thấy trụ bên trái vuông và trụ bên phải tròn.

Tài liệu chữ viết rất cổ, có từ khoảng 11.000 năm từ Hy Lạp và cho rằng các trụ này tôn thờ Poseidon của Atlantis.

Ta thấy rõ vòm cổng diễn tả thượng thế với hai đấng tạo hóa ngành nòng thái âm, nước diễn tả bằng từ hai vòng tròn đồng tâm clip_image018 (ăn khớp với Poseidon là Thần Biển của Hy Lạp). Với hai trụ cổng mang tính nòng nọc (âm dương) vuông tròn, hai đấng tạo hóa này cũng mang tính nòng nọc (âm dương), nói một cách khác là hai cực, lưỡng nghi. Cực dương trụ tròn sinh ra tứ tượng dương (diễn tả bằng số 4 vạch ngang trên cột) và cực âm thái dương trụ vuông sinh ra tứ tượng âm. Tứ tượng dương và tứ tượng âm giao hòa sinh ra tam thế, thông thương bằng trục thế giới là lối cổng vào.

Hiển nhiên hai trụ cổng diễn tả trục thế giới. Đi qua cổng từ ngoài vào trong đền là đi qua trục thế giới, đi từ cõi phàm tục bên ngoài vào thế giới của thần linh bên trong.

-Cổng đền Amenti.

Trong thần thoại Ai Cập cổ hai trụ Tats (nghĩa đen là sức mạnh) tạo thành cổng vào Tattu (có nghĩa là tạo dựng). Tattu là cổng vào vùng mà các hồn thế tục hòa trộn vào các linh hồn bất tử và để trở thành vĩnh hằng trong huyền bí của Amenti’.

Cổng vào đền Vua Salomon và Đại Sảnh Sự Thật của Osiris (Osirian Great Hall of Truth) do hai trụ đặc biệt tạo thành.

clip_image020Lối vào Tattu ở Amenti (Ai Cập) cho thấy Hai Trụ Biểu Tượng (James Churchward, The Sacred Symbols of Mu).

Vua Solomon cho dựng hai trụ cổng ở đền. Trụ bên phải gọi tên là Jachin và trụ bên trái là Boaz” (I Kings. Chap. 7. Verses 21-22).

So sánh với đền Great Hall of Truth của Osiris, cả hai cùng có một ý nghĩa, ngôn ngữ, cùng tên gọi. Cho thấy cổng đền Solomon là bản chụp (copy) lại, nhái lại hai trụ cột của đền Great Hall of Truth. Mặc dầu trang trí có thay đổi nhưng vì có cùng nghĩa gốc, các trụ cột của hai đền đều diễn tả Bốn Nguyên Sinh Động Lực Chính.

Tôi xin bổ túc thêm: ở đền Great Hall of Truth hai trụ cổng là hai trụ Djed.

clip_image021

Trụ Djed thường cho có nghĩa chung là ‘stability’ (“vững bền’). Theo tôi vững bền là một nghĩa của cột trụ. Djed có một khuôn mặt là trục thế giới vì trên có 4 vạch ngang diễn tả tứ tượng Bốn Nguyên Sinh Động Lực Chính tạo thành tam thế. Trụ là trục thế giới xuyên qua tam thế. Vì là trục thế giới nên lúc đầu vào thời Vương Triều Cổ (Old Dynasty) Djed liên hệ mật thiết với thần Tạo Hóa Ptah với danh hiệu là Noble Djed. Về sau lại cho là liên hệ với Osiris. Ta thấy rõ Djed có một khuôn mặt trục thế giới. Phần đầu dương đi với thần Tạo Hóa Ptah và phần dưới âm đi với Osiris.

Ở đây hai trụ Djed này mang tính nòng nọc (âm dương) khác nhau. Trụ bên trái phía có con chim trên đầu có hình mặt trời đĩa tròn (có lẽ là chim ưng Horus) là trụ mang tính nọc, dương, dương thái dương sinh ra tứ tượng dương. Trụ bên phải phía có hình chim có trang phục đầu hình túi hình quả bầu diễn tả bầu trời tức thái dương II của phía nòng âm O hay IIO, Đoài vũ trụ khí gió. Trụ này sinh ra tứ tượng âm của ngành nọc thái dương.

Hai trụ nhỏ có chim đứng mang tính nòng nọc diễn tả lưỡng nghi của ngành nọc thái dương. Hai trụ lưỡng nghi này sinh ra hai trụ lớn, sinh ra 8 tượng nòng nọc (âm dương) ứng với tám quẻ ba vạch (bát quái). Tứ tượng dương liên tác với tứ tượng âm sinh ra tam thế. Hiển nhiên trục thế giới thông thương ba cõi là cổng vào.

-Cổng đền Bali, Nam Dương.

Cổng là trục thế giới do hai trụ nọc que tạo thành thấy rõ nhất ở các cổng đền ở Bali, Indonesia.

Bali có một nét văn hóa rất đặc thù là pha trộn giữa văn hóa vũ trụ giáo Bách Việt hải đảo và vũ trụ giáo Ấn giáo. Các cấu trúc đền đài vì thế làm theo mô hình tam thế của Vũ Trụ Giáo. Cổng đền do đó diễn tả trục thế giới thông thương tam thế.

clip_image023Một cổng ở đền Pura Penataran Sasih thờ Trống Đồng Trăng Bali (Moon of Bali), Ubud, Bali, Indonesia.

Cổng mang cấu trúc của các cổng chẻ đôi (split gates). Những cổng chẻ đôi này có hình dạng một ngọn núi nhọn đầu Meru của Ấn giáo và Phật giáo. Như đã biết, Núi Meru có một khuôn mặt là Núi Vũ Trụ diễn tả trọn vẹn vũ trụ tạo sinh, vũ trụ luận, vũ trụ giáo. Tôi gọi là cổng núi vũ trụ chẻ đôi.

Mặt hai bên lối vào của trụ cổng rất bằng phẳng và láng bóng thường không có trang trí khiến ta có cảm giác như trái núi bị một nhát chém của lưỡi gươm thần chẻ núi ra làm đôi tạo ra cổng. Khoảng hở của cổng là lối vào. Như đã biết núi Meru có Trục Thế Giới là đường thông thương ba cõi Tam Thế. Khoảng hở của cổng giữa hai nửa núi chính là hình ảnh của Trục Thế Giới. Đứng trước cổng ta có cảm tưởng Núi Trụ Thế Gian tách mở ra làm hai để hiện ra Trục Thế Giới. Bước qua cổng Trục Thế Giới này là bước vào thế giới linh thiêng của Tam Thế. Người Bali phải ăn mặc và hành sử đúng theo qui luật tín ngưỡng. Du khách phái nữ không được mặc áo ngắn tay, hở ngực và phải quấn sarong. Phái nam phải quấn dây lưng.

-Các cổng đền chùa Việt Nam.

Việt Nam có cốt lõi văn hóa nòng nọc (âm dương) Chim-Rắn, Tiên Rồng nên các cấu trúc đền đài nguyên thủy, chính thống cũng làm theo vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo ví dụ Đền Hùng Vương ở Phú Thọ, Đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng, như đã nói ở trên, cổng cũng diễn tả trục thế giới.

Tuy nhiên trục thế giới chính thống này còn thấy rõ nhất trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn (xem dưới).

Ngoài ra ở các đình chùa, cổng cũng có cấu trúc theo vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo nhưng đã ở dạng biến đổi đi: dạng tứ trụ, dạng tam quan.

Dạng tứ trụ: cổng gồm bốn trụ bằng nhau hay hai trụ giữa cao, lớn và hai trụ hai bên nhỏ thấp, đứng độc lập:

clip_image024Bốn trụ cổng đền Kì Dương Vương, Thuận Thành Bắc Ninh (nguồn vietlandmarks.com).

hay trên có nối bằng đà ngang hay mái.clip_image025Cổng Chùa Láng gồm 4 trụ, hai lớn hai nhỏ, có mái nối ở dưới (nguồn: Mytour.vn).

.Ở dạng bốn trụ này, hai trụ giữa cách nhau rộng hơn làm lối vào chính ứng với trục thế giới. Hai trụ chính này theo chính thống một trụ có trang trí nọc dương và một trụ nòng âm. Hai trụ chính có một khuôn mặt lưỡng nghi sinh ra tứ tượng diễn tả bằng cả bốn trụ. Tứ tượng của trụ dương giao hòa với tứ tượng âm của trụ âm sinh ra tam thế (thấy rõ ở cổng có gác, có tầng diễn tả tam thế). Tam thế thông thương bằng trục thế giới chính là lối chính vào cổng.

Lưu ý Đền Kì Dương Vương có trục thế giới là lối chính vào đền bên trên để hở thông thương không có mái che là vì Kì Dương Vương là Vua Mặt Trời Thượng Đỉnh (zenith) trên đỉnh trục thế giới, Mặt Trời Chính Ngọ, Mặt Trời trên đỉnh Núi Trụ Thế Gian. Vì thế khuôn mặt trục thế giới của Kì Dương Vương rất nổi trội, đúng như truyền thuyết nói Kì Dương Vương ”có nhiều phép lạ, có thể đi lại trên trời và dưới nước được”, cũng vì “có tài đi dưới thủy phủ” nên Kì Dương Vương xuống cõi nước lấy Thần Long con gái Long Vương Động Đình Quân ở hồ Động Đình (Lĩnh Nam chích quái).

. Cổng tam quan.

Cổng tam quan chính là một biến dạng của cổng tứ trụ. Cổng tam quan cũng có nhiểu dạng và dĩ nhiên được giải thích theo giáo lý Phật giáo như cổng tam quan gồm “hữu quan”, thể hiện cái sắc, “không quan” diễn tả cái không và “trung quan” diễn tả trung dung của cả hai. Giải thích thứ hai là tam quan là cửa của Tam Bảo vân vân…

Nhưng ý nghĩa nguồn gốc sâu xa vẫn là ý nghĩa của vũ trụ giáo (Vì Phật giáo cũng như các tôn giáo khác có vũ trụ quan bị ảnh hưởng nếu không muốn nói là di duệ của vũ trụ giáo). Còn cổng tam quan của đình miếu thì vẫn giữ nguyên vẹn ý nghĩa của vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo vì kiến trúc của đình miếu theo vũ trụ tạo sinh (xem Qua Đình Ngả Nón Trông Đình).

Lối chính của tam quan có một khuôn mặt là trục thế giới.

-Các cổng kiến trúc tôn giáo khác của thế giới.

.Các đền Hồi giáo.

Các đền Hồi giáo theo nguồn cội cũng xây theo kiến trúc vũ trụ giáo (đặc biệt thượng thế thường là vòm hình củ hành tây diễn tả bầu vũ trụ…). Các tháp (minaret) đền Hồi giáo dĩ nhiên giải thích theo giáo lý Hồi giáo khác với ý nghĩa vũ trụ giáo. Ví dụ cho rằng các tháp dùng để đọc kinh kệ hay loan báo giờ giấc cầu nguyện. Thật ra đây chỉ là ý nghĩa duy tục có muộn sau này. Nguyên thủy các tháp có ý nghĩa theo vũ trụ giáo. Điểm này còn thấy rõ nhất qua các tháp ở lăng mộ Taj Mahal. Các tháp này không hề dùng để rao giảng kinh kệ hay giờ giấc cầu nguyện:

clip_image027Taj Mahal (ảnh của tác giả).

Đền có thể chỉ có hai tháp làm cổng, trong trường hợp này khuôn mặt trục thế giới thấy rõ hiển nhiên. Đền có thể có hai tháp lớn ở trước và hai tháp nhỏ phía sau ở vị trí bốn phương trời.

clip_image029Đền Xanh Hồi giáo (Blue Mosque), Istanbul, Turkey.

Trong trường hợp này hai tháp lớn phía trước có một khuôn mặt là trục thế giới. Nhìn chung 4 tháp có một khuôn mặt tứ tượng.

Trong mọi tôn giáo, khi bốn tháp ở tứ phương giống nhau thì khuôn mặt tứ tượng có thể nổi trội nhất. Nhiều khi 4 trụ tháp này diễn tả trục thế giới vuông lớn và ngôi đền, chùa, nhà thờ ở trong coi như nằm trong trục thế giới  này. Các vị thần tổ, giáo chủ lúc này có một khuôn mặt là Đấng Tạo Hóa bao gồm tam thế vả các lễ vật hiến tế, dâng cúng, lời cầu nguyện, cầu xin đạt tới được cả tam thế.

.Nhà thờ Thiên Chúa giáo.

Nhà thờ Thiên Chúa giáo cũng có kiến trúc làm theo vũ trụ giáo và cũng được giải thích theo giáo lý Thiên Chúa giáo.

Nhìn theo vũ trụ giáo, trường hợp chỉ có hai tháp lớn hai bên lối vào thì có khuôn mặt rõ nét là trục thế giới. Hai tháp này nhọn mang dương tính thường thấy ở các nhà thời Chúa Jesu. Các tháp vuông bằng đầu thường thờ Đức Bà Maria như Vương Cung Thánh Đường Saigon cũ và Nôtre de Dame de Paris…

…..

-Cây Vũ Trụ, Tam Thế.

Tương tự như chữ một nọc que sinh ra Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống), từ hai nọc que cũng có thể sinh ra Cây Vũ Trụ, Tam Thế, Cây Đời Sống của khâu thái dương ở tầng tứ tượng.

Ngành nọc thái dương có cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) riêng của ngành đó.

Người Maya có cùng DNA với người Việt theo vũ trụ giáo như Bách Việt chọn cây bông gòn Ceiba làm cây vũ trụ vì thân cây ruột rỗng coi như là trục thế giới thông thương ba cõi (Từ Hai Nòng Vòng Tròn OO). Ta thấy thân cây rỗng coi như là do hai nọc que tạo thành.

Hai nọc que tạo thành trục thế giới của cây vũ trụ thấy rõ nhất trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn qua trống cây vũ trụ dùng trong vụ việc phán xét linh hồn (xem dưới).

-Sự Sống, Tái Sinh Vĩnh Cửu.

Hiển nhiên theo duy dương hai nọc que cũng mang tất cả những ý nghĩa sự sống, tái sinh, hằng cửu. ví dụ thấy rõ nhất qua khuôn mặt mặt trời hai nọc que thái dương. Những nền văn hóa theo đạo mặt trời (như thờ Shiva), thờ lửa cho rằng mặt trời là nguồn gốc của vạn vật, tạo ra sự sống, tàn phá, thiêu hủy gây ra chết chóc và dĩ nhiên cũng tạo ra tái sinh, vĩnh cửu.

Tóm lược, hai nọc que mang tất cả ý nghĩa của thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh ở dạng tứ tượng năng hoạt.

Hiển nhiên theo duy dương, hai nọc que cũng mang tất cả những ý nghĩa sự sống, tái sinh, hằng cửu.

T hai nọc que II mang tất cả ý nghĩa của thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh như chữ nọc chấm đặc, như chữ nọc một nọc que nhưng mang tính sinh tạo năng hoạt chính ở tầng tứ tượng cõi thế gian.

DẤU HAI NỌC QUE.

Từ hai nọc que cũng được dùng dưới dạng là một dấu (accent) như một chỉ định từ tố (determinative, indicator) với cùng nghĩa với chữ nọc que. Từ và dấu hai nọc que nhiều khi dùng lẫn lộn khó phân biệt. Dấu thường thường dấu nhỏ hơn chữ. Nhiều khi có thể đọc được theo cả hai dạng từ và dấu (xem Dấu Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que).

Ví dụ :

.Chữ hỏa hiện kim

clip_image030Như đã nói ở trên, giải tự chữ hỏa ta thấy rõ hình mũi mác nhọn đỉnh ở giữa là hình núi tháp nhọn đỉnh, núi dương, núi lửa. Hai nọc que hai bên núi tháp diễn tả hai dùi làm ra lửa có nghĩa là lửa ở tầng tứ tượng, thái dương. Hai nọc que có thể nghiêng nhiều về dấu hơn chữ vì chữ nọc mũi mác đã diễn tả núi lửa sinh ra lửa rồi.

.Các dấu hai nọc que thấy rõ nhất trên trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn như hai nọc que trong chiếc mũ sừng của con chim cắt ở trống Duy Tiên, có thể nhìn dưới diện là một thứ dấu hai que nọc. Dấu hai nọc que trên người nhẩy múa của tộc Lữa Đất Li trên trống Ngọc Lũ I (xem dưới).

(còn nữa).

Xem tiếp TỪ VÀ DẤU HAI NỌC QUE RIÊNG RẼ TRÊN TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG SƠN.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: