MỘT NGÀY AN BÌNH VỚI ĐỨC DALAI LAMA.

 

MỘT NGÀY AN BÌNH VỚI ĐỨC DALAI LAMA TẠI LITTLE SAIGON, NAM CALI.

Nguyễn Xuân Quang

Chúng tôi đã tới Tibet và đả tới thăm căn phòng của Đức Dalai Lama ở và ngài đã bỏ lại khi trốn thoát khỏi Lhasa đi sang Ấn Độ tị nạn. Thời điểm lúc ngài đi đã được làm đông cứng lại trên chiếc đồng hồ treo trên tường trong phòng ngài.

Đã nhiều lần chúng tôi lên chương trình định đi thăm vùng Bắc Ấn Độ rồi ghé tới Dharasalam xin vào yết kiến Đức Dalai Lama sống lưu vong tại đấy. Nhưng không thành vì ngài thường đi đó đây ít khi ở nhà. Lần này Đức Dalai Lama ghé Little Saigon, Westminster, Nam Cali. Đây là một dịp hi hữu một đời, chúng tôi có dịp nhìn tận mắt và nghe ngài thuyết giảng về giáo lý đạo Phật, nhất là của phái Phật giáo Mật Tông Tây Tạng.

Từ sáng sớm ngày thứ bảy, 18 tháng sáu, 2016 gia đình chúng tôi kể cả hai cậu cháu ngoại đã đến để tham dự buổi thuyết giảng của Đức Dalai Lama tại chùa Điều Ngự ở Westminster, California. Ước tính trên 6.000 người tham dự.

clip_image002

clip_image004Bà xã tác giả và hai cháu ngoại đứng trước tấm biểu ngữ ghi lại chân dung Đức Dalai Lama từ khi ngài được tuyển chọn lúc 4 tuổi tới bây giờ.

clip_image008(ảnh của tác giả).

Dalai Lama thuyết giảng đề tài:

“Sức Mạnh Đặc Thù của Lòng Từ Bi là Chìa Khóa để Hoàn Thiện Giá Trị Lớn của Bản Thân và Tha Nhân”

clip_image010(ảnh của tác giả).

Trời mới vào ngõ mùa hè mà đã nắng chang chang. Cali vẫn còn hạn hán. Chúng tôi ngồi dưới nắng nghe thuyết giảng. Ngài nói: “Chúng tôi ở trên này có mái che nên rất thoải mái, còn các thính giả ngồi ở dưới rất nóng. Vì vậy, hãy đội mũ, che dù để tránh nắng hay thấm nước vào khăn và đặt lên trên đầu.”

Thính giả có nhiều sáng kiến để khắc phục cái nắng vào hè khác thường ở Little Saigon.

clip_image012Cô bạn Bửu Trâm với mũ thời trang vào hạ làm bằng bìa thùng và bà xã tác giả.

clip_image014

Một người đẹp Tây Tạng dùng tấm bìa thùng lót những chai nước uống làm nón che nắng (ảnh của tác giả).

clip_image016

(ảnh của tác giả).

Ngài có vẻ áy náy cho thính giả đội nắng ngoài trời, có lúc ngài lại nói thêm: “Chúng ta đang bị nóng, nên hãy thiền quán về khổ nạn của hỏa ngục nóng.”

Lòng từ tâm của ngài như biển cả đúng với cái tên Dalai Lama. Dalai Lama là tiếng Mông Cổ. Dalai là Biển có gốc Da- là nước cùng với Việt ngữ  như đác là nước, Đà Lạt (Darlac), Đà Rằng (sông), Đà Nẵng… có Đà là nước; Ba Tư ngữ darya là biển… và Lama là thầy, sư phụ… Dalai Lama là bậc thầy, sư phụ có lòng từ bi như biển cả.

Với sự chia sẻ, quan tâm, khuyên nhủ, độ lượng, từ tâm đó chúng tôi đã tìm thấy được bóng mát khi ngồi dưới nắng hè nóng bỏng.

Trọng tâm chính của bài giảng hôm nay là nói về sức mạnh của lòng Từ Bi và Trí Tuệ. Cốt tủy của đạo Phật là từ bi và trí tuệ. Tâm từ bi với trí tuệ bát nhã.

“Những người chỉ quan tâm đến tiền tài, quyền lực thì họ chỉ thỏa mãn những ngũ dục, nên thế giới vật chất ngày hôm nay dẫn đến nhiều tranh đua và lo lắng.”

“Cần phải nỗ lực để phát triển bản tính tự nhiên vốn có của con người chúng ta, bắt đầu từ tình thương yêu vô lượng.

“Lòng từ bi là thông điệp chung của triết học Phật Giáo. Từ bi đó phải được trợ giúp bằng trí tuệ. Để phát triển từ bi vô lượng, chúng ta phải phát tâm bồ đề. Tâm bồ đề hướng dẫn chúng sinh và trí tuệ hướng dẫn đến quả bồ đề.”

….

“Quan điểm thứ hai của tôi, tôi là một vị tăng sĩ Phật Giáo nên tôi nguyện rằng, hãy phát triển sự hòa đồng giữa các tôn giáo, bởi ngày hôm nay có nhiều người mang danh tôn giáo nhưng sát hại lẫn nhau. Làm thế nào để hòa đồng và tôn trọng tôn giáo của nhau? Và làm thế nào để chúng ta học hỏi những giáo lý khác không cùng tôn giáo với mình?”

“Các tôn giáo khác nhau có những triết lý khác nhau, những quan điểm khác nhau nhưng cùng chuyên chở một thông điệp, đó là lòng thương yêu và từ bi”.

Sau đó ngài nói đến lịch sử Phật Giáo và một số các bộ luật căn bản cho người tu học và cách phát triển Phật Giáo.

….

Chấm dứt bài giảng, ngài nói: “Tôi xin lỗi nhiều người đã phải ngồi ngoài nắng nóng nghe tôi nói”.

clip_image018(ảnh của tác giả).

Bài giảng buổi chiều ngài có nói tới Y Phật (Medicine Budha).

Bức tranh loại thangka Tây Tạng sau chỗ ngồi của ngài sáng nay có hình Phật mầu xanh dương đậm.

clip_image020Tranh Y Phật mầu xanh dương đậm (ảnh của tác giả). .

Đây chính là hình Y Phật.

Nói tới Trí Tuệ Bát Nhã (wisdom, prajna) ngài nói tới Bát Nhà Tâm Kinh. Chúng ta trì tụng Bát Nhã tâm kinh, bản tóm lược của giáo pháp Bát nhã luận giảng về tính không.

…..

Chứng ngộ tính không được tạo ra trực tiếp bởi Bồ đề tâm tỉnh giác là nền tảng của trí tuệ Bát Nhã.

Tính không là gì? Sắc tức thị không; không tức thị sắc. Nếu chúng ta suy xét và phân tích kỹ về sắc, chúng ta sẽ không thể thấy bất cứ thứ gì tồn tại một cách cố hữu cả. Mọi thứ đều tồn tại trong mối liên hệ với sự vật khác. Sắc tướng và tính không đều có sự tương tác lẫn nhau.

….

Mục đích của giáo pháp Bát Nhã tâm kinh là giúp tận trừ các phiền não như sân hận. Sẽ rất hiệu quả nếu truy tầm gốc rễ của sự sân hận và suy xét xem sân hận thì liệu có mang lại lợi ích gì không. Những phiền não đều bắt nguồn từ vô minh, đó là sự hiểu biết sai lầm về thực tại và chỉ có trí tuệ tính không mới có thể tận trừ được loại phiền não này.

…..

Một điểm tôi rất yêu thích là ngài khuyên dậy các tăng ni phải chú tâm tới sự tu học, giảng dậy và phát huy giáo lý Phật giáo.

Tôi là một đệ tử thực hành theo giáo pháp của đức Phật Thích ca, đặc biệt là truyền thống Nalanda.

Tuy nhiên, cách duy nhất để trì giữ kinh điển và sự thực hành giáo lý đức Phật là thông qua sự tu học. Chúng ta cần đọc, học kinh điển và áp dụng Tam học trong sự thực hành. Không có cách nào khác. Ngôi chùa phải là một trung tâm tu học. Ở nơi đây các thành viên của các hệ thống tâm linh khác nhau cũng có thể gặp gỡ, hội đàm và học hỏi lẫn nhau”.

Ngài nói chúng ta làm một tượng Phật vĩ đại có thể một ngàn năm sau còn tồn tại nhưng tượng Phật đó cũng chỉ là một tượng không nói được một lời nào về cái triết thuyết cao siêu của Phật giáo.

……

Tiếp đến ngài đã trả lời các câu hỏi, Ngài rất nhún nhường:

Tôi không phải là người đặc biệt. Tôi là một người thực hành triết lý Phật giáo và với nhiều người tôi có thể là một bậc thầy nhưng với những học giả hàng đầu thì tôi chỉ là một người học trò mà thôi”.

Một thanh niên trẻ đã phát biểu cho biết em đã từng ở tù vì phạm pháp và em đã học hỏi được rất nhiều từ giáo huấn của ngài. Ngày hôm nay, em cảm thấy vô cùng an lạc khi được lắng nghe ngài. Em xin Đức Dalai Lama làm một ‘clip video nhạc rap’ với ngài. Ngài bằng lòng ngay.

Một em gái khác hỏi có phải là ngài sẽ là Đức Đạt Lai Lạt Ma cuối cùng không? Ngài trả lời, vấn đề đó không để lại một khoảng trống tâm linh nào, ví dụ như Phật pháp vẫn phát triển trong 2600 năm qua sau khi Đức Phật đã qua đời.

Một bé gái muốn biết bằng cách nào mà ngài đã trở thành như ngày nay. Ngài trả lời, ngài được chọn là hóa thân của Dalai Lama khi mới lên 4 tuổi và ngài không có sự lựa chọn nào khác. Sau đó, ngài nhận ra rằng Dalai Lama sẽ đem lại lợi ích cho rất nhiều người, nên ngài đã cố gắng hết mình.

…..

Phật Giáo Mật Tông Tây Tạng.

Tưởng cũng xin nói một chút về Mật Tông Tây Tạng.

Phật giáo có những thừa (giáo phái) (yana, vehicle) chính là Phật Giáo Nguyên Thủy (Theravada) trước đây gọi là Tiểu Thừa (Hinayana) (Hin- biến âm với Việt ngữ hiếm có nghĩa là ít, Nhỏ như hiếm có, hiếm muộn), ngày nay từ này cho là không chuẩn nên không dùng nữa), Phật Giáo Đại Thừa (Mahayana) (Maha biến âm với Việt ngữ Mạnh, Mãnh, dũng mãnh, Lớn, Hawaii ngữ có tên loài cá Mahi Mahi có nghĩa là ‘Strong’, ‘Strong fish’ có cùng gốc Mah- là mạnh, mãnh này). Phật giáo nguyên thủy không có các vị bồ tát bodhisattva (bhodisattva có bodhi: bồ đề, tâm thức tỉnh, giác ngộ và sattva: người, tâm linh). Phật giáo đại thừa có các vị bồ tát. Bồ Tát là các vị có thể đã giác ngộ thành Phật có thể lên nát bàn sống bất tử thoát vòng luân hồi nhưng ở lại thế gian để độ trì và cứu giúp chúng sinh.

Mật Tông Tây Tạng có các tên Tantrayana hay Mantrayana (Mật Thừa, Mật Tông Thừa), Vajrayana (Kim Cương Thừa). Được cho là Mật Tông vì cho đây là ‘Lối Kim Cương’ (“Diamond Path”) hay ‘Con Đường Định Thức Thần Bí (“Way of the Magic Formulas”). Các kinh dậy gọi là tantras. Theo truyền thuyết thì giáo lý huyển bí linh thiêng này là của Phật Thích Ca Mâu Ni nhưng lúc đó chưa chín mùi để phổ biến cho các tín hữu, phải đợi cho tới cả ngàn năm sau khi ngài mất (www.trimondi.de).

Nền tảng của triết lý Mật Tông là triết lý của Duy Thức, Hoa Nghiêm, Bát Nhã, Bồ Đề Tâm.

Ba yếu tố chính trong sự tu hành của Mật Tông Tây Tạng là Từ Bi, Trí Tuệ, Phương Tiện Thiện Xảo (Sơ Lược Về Mật Tông Tây Tang, Thư Viện Hoa Sen).

Tại Tây Tạng Kim cương thừa đã hòa nhập với Phật giáo Đại thừa và được gọi là Lạt Ma giáo.

Phật giáo Mật Tông mang tính đại thừa thấy rõ qua sự kiện là các Dalai Lama là hiện thân của Quán Thế Bồ Tát (Avalokitesvara Bodhisatva). Giải tự từ Avalokitesvara có ava “down” (xuống), lokita, quá khứ phân từ của động từ lok “to notice, behold, observe” ruột thịt với Anh ngữ look (nhìn) và isvara, “lord”, “ruler”, “sovereign” or “master” (đấng, chủ, chúa, sư phụ). Avalokitesvera có nghĩa là ‘đấng nhìn xuống’ (thế giới)’. Từ thế giới loka không có trong từ Avalokitesvera nhưng hiểu ngầm là có mặt. Bằng chứng cụ thể là Avalokitesvara trong Phật giáo Cambodia có tên là Lokeśvara (Đấng Thế Giới). Vì thế lok trong Avalokitesvara có thể có cả hai nghĩa nhìn lok và thế giới loka.

Avalokitesvara là hiện thân thế gian của Phật A Di Đà (Amitabha).

Ở Tây Tạng Quán Thế Bồ Tát là một người nam. Ở Phật giáo đại thừa Trung Quốc, Nhật Bản, Đại Hàn, Việt Nam, Quán Thế Bồ Tát là một người nữ, Phật Bà. Phật giáo các quốc gia này gọi theo Phật giáo Trung Quốc là Quán Thế Âm Bồ Tát. Có thêm từ Âm. Avalokitasvara được dịch là “who looks down upon sound” (i.e., the cries of sentient beings who need help). [Đấng ‘nhìn xuống’ thế gian qua âm thanh (tiếng khóc than của chúng sinh cần giúp đỡ)].

Tôi thấy ở một số chùa, tịnh xá dùng từ Quan thay vì Quán như Quan Thế Âm Bồ Tát. Từ Quan không chỉnh theo nghĩa gốc của Avalokitesvera, có lẽ bị ảnh hưởng của từ Quan Âm Guanyin của Trung Quốc. Phải hiểu là Quán Âm (“Perceiving sound, cries).

Avalokitesvara lưỡng tính phái nên Phật Bà cũng mang tính lưỡng tính phái. Vì thế cũng có Phật Bà Nhật Quang (một tay cầm mặt trời, dương và một tay cầm mặt trăng âm).

Phật giáo đại thừa Tây Tạng đến từ Ấn Độ chứ không lấy từ Trung Quốc. Mặc dù “Đức vua Detsen có người mẹ gốc Hán, đáng lẽ ngài phải chọn đưa Phật giáo từ Trung Quốc tới Tây Tạng, tuy nhiên ngài đã lựa chọn nơi khởi nguồn Phật giáo và thỉnh mời đức Shantarakashita tới xứ Tạng từ Ấn Độ” (Lời Dalai Lama nói với cộng đồng Tây Tạng trong buổi gặp gỡ tại khách sạn ở Anaheim, California, ngày 19 tháng 06 năm 2016).

Mật Tông Tây Tạng pha trộn với tín ngưỡng bản địa là Bon. Tín ngưỡng Bon này của người Tây Tạng có trước khi Phật giáo tới. Đây là bái giáo đa thần mang nhiều quan niệm của vũ trụ luận dựa trên nguyên lý nòng nọc (âm dương). Vì vậy Mật Tông Tây Tạng mang mầu sắc thần kỳ, huyền bí, nhiều nghi thức lễ, bái, cúng tế.

clip_image022

(ảnh của tác giả).

Ngài hành lễ cầu nguyện theo nghi thứ Mật Tông giáo Tây Tạng với hai tế cụ đặc thù của Mật Tông Tây Tạng là chùy kim cương (vajra) và chuông có cán Tây Tạng (ghanta).

clip_image024

Đức Dalai Lama dùng chùy kim cương và chuông Tây Tạng trong nghi thức tụng niệm Phật giáo Tây Tạng (ảnh của tác giả).

clip_image026

Đức Dalai Lama làm lễ (ảnh của tác giả).

clip_image028

‘Cầu dâng kinh’ (ảnh của tác giả).

clip_image030“Làm phép bình bát’ (ảnh của tác giả).

clip_image032

Ban phép lành (ảnh của tác giả).

Vì kết hợp với tín ngưỡng Bon nên quan niệm về vũ trụ tạo sinh, vũ trụ luận, vũ trụ giáo dựa trên nguyên lý nòng nọc (âm dương) rất đậm nét trong Mật Tông (sẽ có bài viết riêng về Mật Tông Tây Tạng và Vũ Trụ Giáo).

Sau đây tôi chỉ đề cập tới vài nét chính vũ trụ giáo trong Mật Tông dựa trên nòng nọc (âm dương):

-Quán Thế Bồ Tát (Avalohitesvara) lưỡng tính phái.

Đã nói ở trên Avalokitesvara lưỡng tính phái . Ở  đây chỉ xin nói sơ qua tại sao khuôn mặt nữ nổi trội thành Phật Bà ở Đại Thừa Trung Quốc.

Khác với các thừa khác của Phật Giáo, Mật giáo tôn thờ phái nữ. Trong Candamaharosana Tantra sự tôn vinh phái nữ không bờ không bến, không có giới hạn: “Women are heaven; women are Dharma; … women are Buddha; women are the sangha; women are the perfection of wisdom (George, 1974, p. 82) (‘Phụ nữ là thiên đường, phụ nữ là Chánh Pháp…, phụ nữ là Phật; phụ nữ là tăng già; phụ nữ là hoàn thiện của trí tuệ’).

Điểm ‘phụ nữ là hoàn thiện của trí tuệ’ này giải thích rõ tại sao chuông (gantha) biểu tượng cho âm đạo (xem dưới) lại dùng làm biểu tượng cho trí tuệ (wisdom).

Đây chính là tôn vinh, tôn thờ khuôn mặt nữ ẩn trong Avalokitesvara lưỡng tính phái mà trong Mật Tông Tây Tạng có khuôn mặt nam, tiền thân của Dalai Lama. Sự tồn thờ khuôn mặt nữ này hiện nguyên hình trở thành Avalokitesvara Phật Bà khi qua Trung Quốc.

Tôn thờ khuôn mặt nữ cũng là tôn thờ hình bóng Mẹ Vũ Trụ, Mẹ Tạo Hóa, Mẹ Đời Sống Nguyên Khởi của bái giáo, vũ trụ giáo mà trong Phật giáo Đấng Tạo Hóa vắng bóng. Ví dụ Việt Mường  theo vũ trụ giáo có Mẹ Nguyên Khởi sinh ra từ cây si thuộc họ cây đa và văn hóa Thung Lũng Sông Ấn (Indus Valley ) có Mẹ Nguyên khởi sinh ra từ cây đa).

-Chùy Kim Cương (Vajra).

Như đã nói ở trên, hai tế cụ thiêng liêng chính của Mật Tông Tây Tạng mà Đức Dalai Lama thường dùng trong các giáo vụ mật tông là chùy kim cương (Vajra) và chuông nòng nọc (âm dương) Tây Tạng (ghanta).

Mật Tông Tây Tạng còn gọi là Kim Cương Thừa (Vajrayana).

Tại sao là gọi là Kim Cương?

clip_image034

Dalai Lama cầm chùy kim cương (ảnh của tác giả).

Phạn ngữ Vajra có nghĩa phổ thông là búa thiên lôi, dóng sấm (thunderbolt) và kim cương (diamond).

clip_image036Dóng sấm hay chùy kim cương (kỷ vật của tác giả mua ở Tây Tạng).

Vajra được dùng làm biểu tượng trong chính pháp của Phật giáo, Chinh Phục giáo (Jainism) và Ấn giáo thường tiêu biểu cho sự trì chí, kiên cường của sức mạnh tâm linh.

Mật Tông Tây Tạng dùng Vajra làm biểu tượng tượng nên còn được gọi là Kim Cương Thừa (Vajrayana).

clip_image038Tác giả và chùy kim cương tại Chùa Khỉ Swayambhunath, Katmandu, Nepal.

Mật Tông là tôn giáochính ở Tây Tạng, Nepal, Butan, Mộng Cổ…

Dóng sấm (vajra) nhìn tổng quát theo nòng nọc (âm dương), vũ trụ tạo sinh, vũ trụ luận, dịch học thì có hình nọc que mang nghĩa nọc, lửa, thái dương. Hai đầu tròn, đôi khi hình búp sen (loài hoa mọc dưới nước, một biểu tượng của Phật giáo) diễn tả hai nòng OO, nước, thái âm. Lửa là chớp, nước là mưa. Chớp lửa mưa nước, nòng nọc (âm dương) liên tác tạo ra sấm. Vì thế dóng sấm vajra là biểu tượng của sấm.

Trên những trống mưa, trống cóc/ếch muộn của đại tộc Đông Sơn thường có các dóng sấm (vajra) này mà hiện này gọi lầm là ‘vật hình trâm’ (xem Trống Đồng: Dóng Sấm ‘Hình Trâm’).

clip_image039Búa thiên lôi vajra trên trống đồng Quế Tân.

Sấm do nòng nọc (âm dương) liên tác sinh ra mang nghĩa tạo hóa, sinh tạo. Big bang là một tiếng sấm khai thiên lập địa.

Trong kim Cương Thừa, Mật Tông hiển nhiên vajra hiểu theo ý nghĩa của Phật giáo Mật Tông.

Chùy kim cương có rất nhiểu nghĩa. Một vài trong những nghỉa đó là:

Vajra nhìn chung biểu tượng cho từ bi (compassion). Hai đầu biểu tượng cho luân hồi (samsara) và niết bàn (nirvana).

Cục tròn ở giữa chùy kim cương có khi được cho là viên kim cương. Kim cương thừa hiểu theo nghĩa tính chất của kim cương như kim cương là vật ngời sáng, tính ròng, thuần khiết, cứng nhất, không thể bị hủy diệt, có thể xuyên phá tất cả chướng ngại vật… Người tu theo kim cương thừa cũng vậy, trì chí, kiên tâm, vượt qua tất cả chướng ngại để đạt tới được chân lý uyên sâu, sáng chói nhất, cùng tận nhất của giáo lý nhà Phật.

Nhìn tổng quát dù là theo nghĩa dóng sấm hay theo nghĩa kim cương thì vajra cũng mang tính gốc là nòng nọc (âm dương) (Tây tạng ngữ yab and yum). Nhìn theo duy dương mang nghĩa chính của chùy là nọc, cọc, bộ phận si h dục nam, dương, mặt trời … (xem dưới).

Chuông nòng nọc (âm dương) Tây Tạng (ghanta).

Tế cụ thiêng liêng thứ hai của Mật Tông là chuông bầu nậm nòng nọc (âm dương) Tây Tạng.

clip_image041Chuông có cán hình bầu nậm nòng nọc (âm dương) của Tây Tạng (kỷ vật của tác giả).

Chuông có cán này có hình bầu nậm mang tính nòng nọc (âm dương) mang trọn vẹn vũ trụ tạo sinh, vũ trụ luận, dịch lý (xem các kiến trúc quả bầu trong Vũ Trụ Giáo). Cán chuông và dủi lắc (quả lắc, con lắc) coi như là phần nối dái của cán chuông là một dạng chùy kim cương. Như vậy cán, dùi là nọc, dương.

Phần bầu chuông hình vòm vũ trụ, vòm trời là nòng, âm.

Quả lắc là hình ảnh chữ nọc que chỉ phái nam nhìn theo bộ phận sinh dục nam nọc, cọc. Điểm này thấy rõ qua hình khắc trên đá của thổ dân Úc châu

clip_image042Hình ngữ đàn ông khắc trên đá hình noc que thẳng đứng diễn tả nõ, cọc của thổ dân Úc châu có nghĩa là đàn ông, phái nam.

và chuông úp là hình ảnh chữ vòm cung chỉ phái nữ nhìn theo âm đạo:

clip_image043

clip_image044Bốn nhóm người nam nữ ở một giếng nước.

(xem Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn Que: Chữ Nọc Một Nọc Que).

Và nhìn chung chuông và dùi chuông mang hình ảnh của hình khắc trên đá diễn tả làm tình của thổ dân Mỹ châu.

clip_image045Hình vẽ, khắc trên đá làm tình của thổ dân Tây Nam Hoa Kỳ (Rick Harris Easy Field Guide To Rock Art Symbols of Southwest, 1995).

(Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn Que: Chữ Nòng Hai Vòng Tròn OO phần 4).

Mật Tông cũng quan niệm như vậy. Chùy kim cương nhìn chung là nọc, dương, lửa, chớp, bộ phận sinh dục nam nhưng trong dương có âm, đầu chùy hình hoa sen biểu tượng cho âm đạo. Chuông cũng vậy. Bầu chuông là âm biểu tượng cho âm đạo và cán chuông nối dài thành con lắc mang hình ảnh chùy kim cương là nọc, dương, dương vật [The female counterpart to the vajra is the lotus blossom (padma) or the bell (ghanta). Accordingly, both padma and ghanta represent the vagina (yoni)].

Cả chuông và cán là nòng nọc (âm dương), vũ trụ vì vậy cả chuông cũng diễn tả mandala vũ trụ trọn vẹn…

Lưu Ý: Thổ dân Úc và châu Mỹ không biết một tí gì về Mật Tông Tây Tạng, cả ba chỉ  gặp nhau ở chữ nòng nọc vòng tròn-que.

Dĩ nhiên trong Mật Tông Kim Cương thừa chùy và chuông hàm chứa rất nhiều nghĩa nhình theo triết thuyết Phật giáo. Chùy kim cương biểu tượng Từ Bi (Compassion), Phương Tiện (Mean) và Chuông biểu tượng Trí Tuệ (Wisdom) và Hư Không (Emptiness).

Chùy và chuông phải đi đôi với nhau để giao hóa nòng nọc (âm dương). Đứng riêng rẽ nọc và nòng không trọn vẹn. Đức Dalai Lam cũng giải thích: “chuông luôn cần phải đi cùng với quả lắc, biểu tượng cho tâm từ bi, còn chuông biểu trưng của trí tuệ. Âm thanh của chuông không tạo nên bởi riêng một mình vành chuông hay một mình quả lắc. Chuông chỉ được rung lên khi sử dụng cùng với quả lắc”.

Khi làm lễ, một vị Lama cầm chùy kim cương và chuông, khi để chéo tay trước ngực là làm biểu tượng nòng nọc (âm dương) giao hòa với nhau, cho từ bi và trí tuệ liên tác với nhau để có được thành quả vẹn toàn.

-Thánh Thể Samantabhadra nòng nọc (âm dương) giao phối.

Khác với Phật giáo nguyên thủy và đại thừa, trong Mật Tông, tình dục, quan hệ nam nữ được tôn vinh dưới khía canh huyền bí của tín ngưỡng. Ví dụ ta thường thấy các tượng và tranh hai nhận vật nam nữ Samantabhadra và Samantabhadri sau đây:

clip_image047Kỷ vật của tác giả.

clip_image049

Một cặp thánh thể trong Mật Tông: Samantabhadra và Samantabhadri.

Căp nam nữ này lkhông còn là thân xác phàm mà là thánh, thần.

Người nam coi người nữ là thần nữ, người nữ coi người nam là thần nam. Bằng sự kết nối chùy kim cương (dương vật) và hoa sen (âm đạo), họ cúng dường cho nhau’[“The man (sees) the woman as a goddess, the woman (sees) the man as a god. By joining the diamond scepter [phallus] and lotus [vagina], they should make offerings to each other”’ (a quote from a tantra, Shaw, 1994, p. 153)] (www.trimondi.de).

(Lưu ý ở đây tác giả chỉ nhỉn theo chùy kim cương nên nói tới đầu hoa sen âm đạo, đúng theo nòng nọc (âm dương) đề huề phải lấy chuông âm đạo).

Sự liên hệ tình dục trong Mật Tông có căn bản là tín ngưỡng.

-Mandala.

Một nét đặc thù của Mật Tông Tây Tạng là mandala.

Căn bản mandala là những đồ hình diễn tả vũ trụ tạo sinh, vũ trụ luận của đại vũ trụ và tiểu vũ trụ (xem Trống Đồng và Mandala).

Dĩ nhiên còn nhiều nữa…

Ta thấy rõ vũ trụ tạo sinh, vũ trụ luận rất đậm nét trong Mật Tông Tây Tạng.

…..

Chấm dứt một ngày đầy An Bình với Dalai Lama.

Hai cậu cháu ngoại cũng chịu nổi được một ngày đội nắng, buổi trưa ăn ổ bánh mì chay nhưng rất vui được nhìn tận mắt và nghe được nghe những lời thuyết giảng của Dalai Lama.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: