CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE, CHỮ MỘT NỌC QUE (4 và hết) TRÊN TRỐNG ĐỒNG.

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE.

CHỮ NỌC.

CHỮ NỌC QUE (I).

(4 và hết).

Nguyễn Xuân Quang

CHỮ VÀ DẤU NỌC QUE TRÊN TRỐNG ĐỒNG NÒNG NỌC CỦA ĐẠI TỘC ĐÔNG SƠN.

.Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống).

Như đã biết, tam thế được biểu tượng bằng Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống). Nọc que có một khuôn mặt là thân cây vũ trụ nên có một khuôn mặt là Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) ở dạng nọc que tầng lưỡng nghi. Cây Vũ Trụ ở khâu nọc que này có thân trụ tức khuôn mặt trục thế giới mang tính trội hay tính chủ.

Như đã biết tất cả các dạng trống đồng của đại tộc Đông Sơn là trống nòng nọc (âm dương) khi diễn tả trọn vẹn thuyết vũ trụ tạo sinh thì mỗi loại có một khuôn mặt là cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) của loại đó.

Ví dụ:

-Trống Đông Sơn Cây Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I).

Trọn vẹn bao trùm nhất là trống Đông Sơn Cây Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI.

clip_image002clip_image004

Trống Nguyễn Xuân Quang VI hay Heger I có hình Cây Nấm Vũ Trụ (Nấm Tam Thế, Nấm Đời Sống).

Phần chỏm nấm biểu tượng cho Thượng Thế, đập dẹp xuống thành phần diễn tả vũ trụ ở tâm mặt trống. Phần quanh chỏm trở thành phần biểu tượng cho vùng đất Trung Thế tức là phần còn lại của mặt trống. Phần tang trống hình vật đựng biểu tượng cho vùng nước Trung Thế. Phần chân trống biểu tượng cho Hạ Thế và thân trống biểu tượng cho Trục Thế Giới (Cơ Thể Học Trống Đồng Đông Nam Á).

-Trống hình trụ ống Nguyễn Xuân Quang .

Ở đây như đã nói,ở trên, trống hình trụ ống Nguyễn Xuân Quang II có một khuôn mặt là trống cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) của khâu nọc que.

– Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) ở trên Trống Đồng.

Ngoài hình dạng các trống diễn tả cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) ra, vì trống đồng nòng nọc (âm dương) diễn tả vũ trụ luận nên trên trống dĩ nhiên còn có các hình ảnh đích thực của cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống). Ví dụ:

.Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) trên một trống Nam Trung Quốc.

Hình ảnh thấy nguyên hình nọc trụ cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) dùng làm nọc đâm bò hiến sinh thấy trên trống đồng Điền Việt.

clip_image005Trục đâm thú hiến sinh cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) trên một thân trống Nam Trung Quốc.

.Những trống cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống).

Trên các trống Ngọc Lũ I và các trống họ hàng có những người trong nhà nọc, nhà mặt trời có một người đánh trống. Trống có một khuôn mặt là trống cây vũ trụ.

clip_image007

Nhà nọc, mặt trời trên trống Ngọc Lũ I có ngưới đánh trống để trên trụ nọc mang một khuôn mặt trống cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống).

Và trên thuyền cũng vậy trong cảnh phán xét linh hồn trống củng mang hình ảnh trống cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống). Tuy nhiên ở đây thân cây, trục thế giới diễn tả bằng hình trụ rỗng.

clip_image009

Trống cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) ở thuyền trên trống trống Ngọc Lũ I.

(xem Từ Hai Nọc Que).

Trục Thế Giới.

Với khuôn mặt cây vũ trụ, nên thân mỗi loại trống đồng có một khuôn mặt trục thế giới. Trục thế giới thông thương tam thế vì thế trên trục trống thường thấy hình ảnh các nhân vật có thể đi lại được tam thế như là các vị thần, đại biểu dòng tộc, đại diện tinh thần, các pháp sư và trụ trống cũng là chỗ để dâng lễ vật, hiến tế và các lời nguyên cầu (nên thấy cảnh đâm bò, trâu, các thú vật hiến sinh…). Ví dụ:

-Trống trụ ống Nguyễn Xuân Quang II.

Như đã biết, hiển nhiên trống hình trụ có một khuôn mặt là trục thế giới, thấy rõ nhất trong các loại trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn.

– Các Trống Loại Khác.

.Trong các trống khác thì trống hình lọng gió Nguyễn Xuân Quang III có thân và chân thẳng tuột cũng diễn tả trục thế giới rất rõ.

clip_image010

Một trống Karen thuộc loại trống hình lọng gió Nguyễn Xuân Quang III.

.Còn trống Đông Sơn loại Cây Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI chỉ có nhóm có thân thẳng như trống Ngọc Lũ I thì trục thế giới mới thấy rõ nhất.

clip_image011

Trục thế giới ở trống trống Ngọc Lũ I.

-Tế vụ Người Bay.

Như đã nói ở trên, ở thân một trống Nam Trung Quốc có cảnh tế vũ trụ, mặt trời Người Mặt Trời Đu Bay Quanh Trục trên có mặt trời giống. Tục tế lễ này giống như cảnh tế vũ trụ trời đất bay quanh trục bốn phương trời của người Maya. Trụ này hiển nhiên có một khuôn mặt là trục thế giới.

-Đồ đồng Điền Việt

Như đã biết, các trống đồng Điền hình trụ ống hay các trống hình thông thường như hình cây nấm được dùng đơn lẻ hay nhiều trống chồng lên nhau, hàn gắn lại làm thành trục thế giới dùng làm trụ thờ.

clip_image012

Vật đựng vỏ ốc sứ hình thạp trụ tròn mang hình ảnh trục thế giới, Bảo Tàng Viện Tỉnh Vân Nam (ảnh của tác giả).

Nhiều khi trục thế giới của thân trống còn được bổ túc thêm bằng một phần trục thế giới trồi lên khỏi tâm trống:

clip_image013

Vật đựng vỏ ốc sứ trên nắp có các hình tượng diễn tả một cảnh hiến tế (206 BC-25 AD, khu mộ Số 20, Trại Thạch Sơn).

Tương tự trong một cảnh hiến tế người trên nắp một vật đựng vỏ ốc sứ có trục thế giới trụ tròn với hình rắn quấn quanh:

clip_image014

Một cảnh hiến tế người trên nắp một vật đựng vỏ ốc sứ có Trục Thế Giới với hình rắn quấn quanh (nguồn đã dẫn).

Lưu ý trụ nằm giữa tâm mặt trống có chiếc trống đồng nhỏ dùng làm chân trụ, ‘phụ đề’ thêm cho biết trụ là Trục Thế Giới của trống đồng.

….

Tóm lại nọc que dưới dạng nọc trụ, cột có một khuôn mặt là trục thế giới. Khuôn mặt trục thế giới này mang tính trội hay tính chủ ở khâu nọc que.

.Sinh tạo, tái sinh, hằng cửu.

Nọc que có đủ các khuôn mặt từ hư vô tới tam thế, trục thế giới, cây vũ trụ hiển nhiên theo duy dương nọc que cũng mang tất cả những ý nghĩa sự sống, tái sinh, hằng cửu.

Vì thế ở khâu nọc que này, trống nòng nọc (âm dương) hình trụ ống Nguyễn Xuân Quang II mang hình ảnh đặc thù của nọc que cũng được dùng trong mai táng hầu mong hồn người chết được tái sinh hay sống ở cõi vĩnh hằng.

.DƯỚI DẠNG DẤU.

Trên trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn, chữ nọc que cũng được dùng dưới dạng là một dấu (accent) như một chỉ định từ tố (determinative, indicator) với tất cả ý nghĩa của nọc, dương mang tính sinh tạo biểu hiện ở tầng lưỡng nghi.

-Chữ Nọc Que Dùng Như Một Dấu.

Trong trường hợp dùng làm dấu thì dấu thường thường nhỏ hơn chữ.

Ví dụ 1: ở mỏ con chim nông (biết rõ vì dưới mỏ chim có túi nang, nông) bay trên đầu người nhẩy múa ở trống Hoàng Hạ có một dấu nọc que.

clip_image016Chim nông ở bán viên âm trên Trống Hoàng Hạ.

Con nông này có con mắt dương chấm-một vòng tròn clip_image018 có một nghĩa là dương, mặt trời sinh tạo, thiếu âm gió. Đây là con nông gió.

Trong mỏ có dấu nọc que nhỏ cho biết là con nông đực, dương, thuộc ngành nọc dương.

Ở đây nọc que nghiêng hẳn về DẤU vì ta biết rõ đây là con bổ nông vì chim nông (có túi nang ở cổ) có con mắt dương chấm vòng tròn có một nghĩa thiếu âm, khí gió. Không có nọc que ta cũng biết đây là con bổ nông nhờ con mắt mang dương tính. Nọc que giữ vai trò của dấu chỉ xác thực thêm đích thực là nọc (bổ), dương mà thôi.

Ví dụ 2: hai con chim bay trên cảnh giã chầy cối ở trống Hoàng Hạ.

clip_image019

Cảnh giã chầy cối trên bán viên âm trống Hoàng Hạ.

Người giã bên trái tóc dài mang âm tính phù hợp với phái nữ. Trên đầu chầy có hình lõm cong hình đĩa cũng mang âm tính. Con chim trên đầu người này có con mắt âm hai vòng tròn đồng tâm diễn tả thái âm, nước cho biết là con chim nước, chim bồ nông. Trên mỏ có dấu nọc que ở đây cho biết là con nọc, đực, ngành nọc dương.

Ví dụ 3: Chim vùng nước trên trống Đồi Ro.

clip_image021

Chim vùng nước trên trống Đồi Ro.

Trước và sau thuyền trên trống Đồi Ro có những loài chim lội nước thuộc họ nhà cò. Chim ở đây, mỏ vừa phải, chân ngắn, cổ ngắn, không có bờm thuộc họ nhà vạc mang âm tính hơn cò (vạc đi ăn đêm). Trong mỏ chim có những nọc que nhỏ nghiêng về dấu hơn là chữ mang nghĩa nọc, đực, ngành nọc dương (tầng lưỡng nghi)…

Lưu Ý

Qua ba ví dụ ở đây, ta thấy dấu nọc que dùng ở loài chim nòng, âm, nước, lội nước như chim nông, vạc thay vì dùng dấu nọc mũi mác > ở những loài chim thú mang tính nọc, dương như hươu, cò…

….

Rõ ràng nọc que có nghĩa là nọc, đực và dùng chính yếu như một dấu.

-Dưới Dạng Dấu và Chữ Nọc Que.

Như đã biết, trong nhiều trường hợp chữ và dấu trong chữ nòng nọc khó phân biệt rõ ràng được. Nhiều khi giữ chức vụ của cả chữ và dấu cùng một lúc. Nọc que cũng vậy. Nhiều khi nọc que có thể đọc theo cả hai dạng chữ và dấu.

Ví dụ 1: hai giọt nước trong hình thái tứ tượng ở khoảng không gian giữa hai tia sáng mặt trời trên trống Ngọc Lũ I. Hai giọt nước dương được bổ nghĩa và xác thực thêm bằng hai ‘con mắt’ chấm-vòng tròn clip_image022 có một nghĩa dương, mặt trời, sinh tạo (nòng nọc, âm dương). Thêm vào đó giọt nước có đuôi là dấu nọc que chỉ cho biết là giọt nước dương. Hai giọt nước dương chuyển động ứng với Chấn.

clip_image024clip_image026Hai giọt nước dương ở hình thái tứ tượng trên trống Ngọc Lũ I.

Tuy nhiên hai đuôi lại là phần nối dài của một cạnh bên giọt nước. Nhìn tổng thể có hình nọc que dài.

Như thế cũng có thể coi dấu là phần nối dài của một chữ nọc que. Ta có thể coi là dấu và chữ đều hợp lý.

Ví dụ 2: Hình uốn khúc gợn sóng chữ S kép trên trống Hoàng Hạ.

Trên trống Hoàng Hạ có một vành hình uốn khúc gợn sóng chữ S kép chuyển động vô cùng vô tận.

clip_image028

clip_image030

Một phần vành sóng chữ S kép mang tính thái dương trên trống Hoàng Hạ.

Ở trong hai đầu cuộn của sóng có hai chữ chấm vòng tròn clip_image022[1]có một nghĩa dương, mặt trời, sinh tạo (nòng nọc, âm dương) chỉ cho biết trống biểu tượng cho một đại tộc nước dương dòng nòng nước ngành nọc thái dương. Ở ngoài hai đầu cuộn của sóng có hai chữ nọc que mang nghĩa thái dương. Nọc que này có thể là dấu hay chữ chỉ thị thêm, xác thực thêm sóng là sóng mang tính nọc thái dương, biểu tượng cho một đại tộc nước dương dòng nòng nước ngành nọc thái dương.

Ví dụ 3: chim đứng trống Ngọc Lũ I.

Vành chim ở gần ngoài biên trống trống Ngọc Lũ I có 18 cò bay và 18 chim đứng diễn tả các ngành, đại tộc, tộc cò và chim. Trong 18 chim đứng hiển nhiên có tộc chim nọc Lửa.

clip_image032Cò bay và chim đứng trên trống Ngọc Lũ I.

Con chim ở đây có mỏ nhọn nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) Ʌ hướng lên trời có nghĩa là nọc, đực, dương, lửa thái dương sinh động… Đây là con chim mang tính nọc lửa, nọc que có một khuôn mặt nọc dương, lửa biểu tượng cho tượng lửa, ngành nọc thái dương. Đây có thể là con chim di sừng biểu tượng cho tượng lửa thái dương Càn thấy trong bài đồng dao “Bổ Nông là ông Bồ Cắt”.

Trên người chim có nọc que xác thực thêm là chim thuộc ngành nọc dương thái dương. Nọc que ở đây có thể là chữ hay dấu.

Ví dụ 4: Cá trên trống Ngọc Lũ I.

Như đã nói ở trên hình cá trên trống Ngọc Lũ I có mỏ nọc mũi mác Ʌ xác thực tính nọc thái, của ngành nọc thái dương.

clip_image034

Hình cá trên trống Ngọc Lũ I có chữ nọc que trên người cho biết thuộc ngành nọc dương thái dương.

Trên người cá có nọc que xác thực thêm là cá thuộc ngành nọc dương thái dương. Nọc que ở đây có thể là dấu hay chữ.

Ví dụ 5: Người nhẩy múa ở thân trống Ngọc Lũ I.

clip_image036Bốn người nhẩy múa ở thân trống Ngọc Lũ I.

Trong những người nhẩy múa ở thân trống Ngọc Lũ I có một người cầm khiên phướn (người thứ 2 ở hình bên trái ở trên) có thêm một vật mũi đao âm thái dương clip_image037 (đao có đỉnh mũi mác Ʌ dương thái dương, ngắn và phần dưới hình chữ V âm thái dương dài hơn nên là mũi đao âm thái dương). Trong mũi đao âm này có chữ nọc que cho biết tính nọc, dương, thái dương. Kiểm chứng thêm ta thấy trang phục đầu của người này có hai sừng cong trong có dấu nọc chấm đặc diễn tả âm thái dương và rìu cũng hướng lên trời diễn tả dương tính. Trong đầu dưới khiên có chữ nọc tam giác có nghĩa là dương, lửa thái dương…

Nọc que ở đây có thể là dấu hay chữ.

-Chữ/Dấu nọc que mang âm tính.

Chữ và dấu nọc que cũng hiệp theo tính nòng nọc (âm dương). Ví dụ:

.Thiên cẩu, Lang Sói Trời trên trống Miếu Môn I.

clip_image039

clip_image041Lang Sói Trời trên trống Miếu Môn I.

Trên trống Miếu Môn I có hình thú bốn chân cõi đất thế gian là Thiên Cẩu, Sói Lang Trời biết tru, hú như gió  là thú biểu của khí gió ứng với thú biểu của Tổ Hùng Lang mạng khí gió, thần bầu trời đột lốt bầu vũ trụ (xem Trống Văn Lang Miếu Môn I).

Giống như hươu trên trống Ngọc Lũ I, trên người con sói lang thể điệu hóa này cũng có hình nọc que diễn tả nọc, dương, mặt trời, ngành nọc dương thái dương. Tuy nhiên ở người hươu hai bên nọc que có bổ túc thêm hai hàng dấu nọc chấm đặc mang tính nọc, dương thái dương, ở đây trên người Lang Trời hai bên bổ thúc thêm bằng hai hàng gạch (dạng dấu nọc que) nhưng nghiêng diễn tả gió thổi, gió tạt tức mang tính thiếu âm (thái dương của âm).

Những nọc que nhỏ là những dấu nọc que mang tính thiếu âm (đối ứng với các dấu nọc chấm đặc mang tính thái dương sinh tạo).

.Đầu thuyền trên trống Ngọc Lũ I có chim rìu chim mỏ sừng, mỏ cắt cắm vào miệng rắn ở dạng hôn phối thái dương lửa-thái âm nước.

clip_image043

Đầu thuyền trên trống Ngọc Lũ I có chim rìu chim mỏ sừng, mỏ cắt cắm vào miệng rắn. Rắn có sừng cong, bên trong sừng có chữ nòng nọc vòng tròn-que hình nọc que mang nghĩa nọc âm thái dương.

Rắn có sừng cong diễn tả nọc âm thái dương. Bên trong sừng có chữ nòng nọc vòng tròn-que hình nọc que cong mang nghĩa nọc âm thái dương. Nọc que cong vì hiệp theo tính âm thái dương của linh vật rắn nước có sừng cong mang tính nọc âm thái dương.

Nọc que cong này có thể là chữ hay dấu.

….

.Kết Luận

Tóm lại nọc que mang tất cả ý nghĩa của thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh, vũ trụ luận theo chính thống dùng diễn tả nọc dương ở cõi sinh tạo hóa lưỡng nghi trở xuống.

.Khi âm hóa tối đa tiến tới điểm cực âm, nọc que cuộn lại thành nòng O.

.Nọc que có hai khuôn mặt: chữ và dấu. Cần phải phân biệt chữ que với dấu nọc que. Nhiều khi phải dựa vào bài bản mới biết rõ là dấu hay chữ. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp chữ và dấu trong chữ nòng nọc rất khó phân biệt rõ ràng trắng đen được. Nhiều khi giữ chức vụ của cả chữ và dấu cùng một lúc.

.Chữ và dấu nọc que phải được đọc và lấy nghĩa đúng theo vũ trụ luận, dịch lý.

.Thoáng nhìn thấy trống nào có nhiều chữ hay dấu nọc que, ta biết ngay trống đó có một khuôn mặt nọc, dương hay thuộc ngành nọc dương thái dương.

.Chữ và dấu nọc que thấy rất nhiều trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Nhiều hơn bất cứ ở một nền văn hóa nào khác và được viết theo một ngữ pháp rất chuẩn của chữ nòng nọc vòng tròn-que.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, nọc que thấy có mặt rất nhiều ở những trống thuộc ngành nọc, dương, lửa, Viêm Đế, Đế Minh, Kì Dương Vương…

(Xem tiếp Từ Hai Nọc Que).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: