CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE: CHỮ MỘT NỌC QUE (phần 3) TRÊN TĐ.

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE.

CHỮ NỌC.

CHỮ NỌC QUE (I).

(phần 3).

Nguyễn Xuân Quang

CHỮ VÀ DẤU NỌC QUE TRÊN TRỐNG ĐỒNG NÒNG NỌC CỦA ĐẠI TỘC ĐÔNG SƠN.

Chữ và dấu nọc que thấy rất nhiều và viết rất chuẩn trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn.

Trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn chữ nọc que cũng mang trọn vẹn ý nghĩa thuyết vũ trụ tạo sinh, dịch lý như chữ nọc chấm đặc nhưng mang tính sinh tạo biểu hiện ở tầng lưỡng nghi.

.Cõi Tạo Hóa: hư vô, thái cực, lưỡng nghi nhìn chung.

Như đã biết hư vô ở khâu nọc que này đã hàm tính sinh tạo mang dương tính, chuyển qua dương trước, qua mầm mặt trời trước.

Ví dụ:

.Thái cực

-Trống đồng của đại tộc Đông Sơn như đã biết là trống nòng nọc (âm dương). Nếu nhìn theo duy dương dưới lăng kính Mặt Trời giáo thì trống có hình giống dương vật.

clip_image002[1]

Theo duy dương trống Cây Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI có hình dương vật. Phần vòm chỏm nấm (đất sét) diễn tả vòm vũ trụ Thượng Thế. Phần này đập dẹp xuống thành phần diễn tả vũ trụ ở tâm mặt trống.

Như thế trống Nguyễn Xuân Quang VI tức Heger I nhìn theo Vũ Trụ giáo có hình nấm và nhìn theo Mặt Trời giáo có hình dương vật. Những trống có mặt và tang trống bầu phình lên trông rất rõ như chiếc trống thấy trong Bảo Tảng Lịch Sử và Cách Mạng Thừa Thiên. Trống có hình nấm/dương vật:

clip_image005Trống  hình nấm/dương vật ở Bảo Tảng Lịch Sử và Cách Mạng Thừa Thiên.

Còn lật ngược lên thành vật đựng hay cối và nhìn theo duy âm từ mặt đáy hổng thì có hình bộ phận sinh dục nữ (âm hộ, âm đạo và dạ con).

clip_image007Nhìn theo chiều âm hở đáy trống có hình bộ phận sinh dục nữ (âm hộ, âm đạo và dạ con).

Nhìn theo góc cạnh nõ nường này ta thấy rõ mồn một trống đồng của đại tộc Đông Sơn là trống nòng nọc, âm dương.

Khi nhìn dưới dạng nòng nọc (âm dương) nhất thể, trống đồng có một khuôn mặt thái cực.

Áp dụng vào khâu nọc que ở đây, trống Nguyễn Xuân Quang Loại II (NXQ.II) hình trụ ống, một dạng nọc que chính là trống có một khuôn mặt thái cực của khâu nọc que. Ta thấy rõ trống loại này có hình ống hay hình trụ tròn thẳng tuột như ống tròn (nhìn với phần chỏm trống chưa đập dẹp xuống trông giống dương vật đang cương cứng) với đáy để hở, nhìn dưới dạng nhất thể có một khuôn mặt thái cực giống như tất cả các trống khác nhưng ở đây thuộc khâu nọc que.

Ví dụ một trống đồng nòng nọc Lào hình trụ.

 

clip_image011Trống trụ ống Lào (ảnh của tác giả chụp tại Vientiane).

-Dùi trống nòng nọc (âm dương).

Trống đồng của đại tộc Đông Sơn là trống nòng nọc nên dùi trống cũng là dùi nòng nọc. Dùi trống mang tính nòng nọc khác nhau cũng còn thấy rõ ở các tộc thổ dân Mỹ châu. Họ có hai loại dùi trống dương và âm khác nhau dùng trong tế lễ.

clip_image013

Dùi trống tế lễ mang tính nòng nọc. Số 1: dùi trống tế của thổ dân Mỹ châu, hình bên trái đầu dùi bịt kín diễn tả đặc, dương là dùi dương, xác thực bằng hình chạm khuôn mặt đàn ông. Dùi bên phải hở mang âm tính là dùi âm, xác thực bằng hình chạm khuôn mặt đàn bà. Dùi ống tre tái tạo lại dùi trống đồng của tác giả có đầu đặc dương và đầu hở âm. Dấu tính của loại dùi ống tre này còn thấy qua các ống tre thờ (số 2) của tộc Dayak, Nam Dương (một tộc Lạc Việt hải đảo).

Trống là dương nên trên trống đồng nòng nọc đi đôi với nhà nọc, mặt trời (trong khi cối là âm đi đôi với nhà nòng, không gian). Nhà nọc thường có trống hay trang trí các vật hình trống gọi là “nhà trống” “haus tambaran” (còn thấy ở Nam Dương) hay bên cạnh nhà có dàn trống (trên trống đồng Đông Sơn). Dàn trống này mang biểu tượng tín ngưỡng, một thứ tín ngưỡng thờ trống tức Vũ Trụ giáo nên trống, dùi trống và cách đánh trống phải tuân thủ theo triết thuyết vũ trụ tạo sinh dựa trên nguyên lý nòng nọc (âm dương).

Trống đồng là trống nòng nọc, mặt trống đặc, dương, thấy rõ ở tâm trống có mặt trời là dương. Dùi trống là một khúc cây cũng là dùi nòng nọc, âm dương có đầu đặc dương (đặc là đực, tre đặc là tre đực) và đầu hở là đầu âm. Đầu âm này thấy rõ trên trống đồng âm dương như ở trống Ngọc Lũ I và các trống họ hàng.

clip_image015Dùi trống nòng nọc trên Trống Ngọc Lũ I. Đầu dưới hở, âm đánh xuống mặt trời dương.

clip_image016Dùi trống nòng nọc có đầu âm hở đánh xuống mặt trời dương thấy rõ trên trống đồng âm dương Hoàng Hạ.

Đánh trống theo cách âm dương là đánh theo chiều thẳng đứng từ trên đâm đầu âm hở của dùi trống xuống mặt trời dương của mặt trống.

Những người này đánh trống theo cách đánh nòng nọc, âm dương giao hòa với nhau để khơi động dậy quá trình Vũ Trụ Tạo Sinh (xem Ý Nghĩa Hình Nhà Trên Trống Ngọc Lũ I )

Hiển nhiên nhìn dưới dạng nhất thể, dùi trống nòng nọc có một khuôn mặt thái cực.

.Lưỡng nghi riêng rẽ.

Chữ nọc que diễn tả lưỡng nghi, hai cực.

a. Cực dương

-Trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn.

Theo duy dương ngành trống (đực) trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn có một khuôn mặt là trống, nọc, bộ phận sinh dục nam biểu tượng cho cực dương.

Như đã nói ở trên nếu nhìn theo duy dương dưới lăng kính Mặt Trời giáo thì trống có hình giống dương vật. Ở khâu nọc que này, trống hình trụ Nguyễn Xuân Quang II đích thực mang hình ảnh dương vật đang cương cứng thẳng đơ.

Hiển nhiên nhìn theo duy dương trống hình trụ ống Nguyễn Xuân Quang II có một khuôn mặt là cực dương của khâu nọc que.

-Trang phục đầu bầu nậm.

Trên trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn, ở trống Ngọc Lũ I có nhóm nhẩy múa 7 người ở bán viên dương.

clip_image018Nhóm 7 người nhẩy múa trên trống Ngọc Lũ.

Người cuối  cùng của nhóm này có trang phục đầu hình bầu nậm mang tính nòng nọc (âm dương).

clip_image020Người Vũ Trụ trên trống Ngọc Lũ I.

Ta thấy ngay người này trên trống đồng Ngọc Lũ I theo nghĩa tổng quát là Người Vũ Trụ, càn khôn, Người Mặt Trời-Không Gian, Người Tiểu Vũ Trụ con của Đại Vũ Trụ sinh ra từ bầu vũ trụ. Người Tiểu Vũ Trụ ở đây mang trọn ý nghĩa Vũ Trụ thuyết.

Đối chiếu với truyền thuyết Việt, cổ sử Việt, người có trang phục đầu hình bầu nậm này chính là người cổ Việt sinh ra từ một quả bầu, khôn càn, Vũ Trụ. Người Việt chui ra trước nên có mầu da sáng còn người Mường và các tộc khác chui ra sau có mầu da xậm.

Người Vũ Trụ này thuộc họ Viêm Đế-Thần Nông nhất thể (một nhân vật, vì thế mới nói là Viêm Đế có hiệu là Thần Nông hay ngược lại). Viêm Đế-Thần Nông nhất thể ứng với đại vũ trụ.

Người vũ trụ có trang phục đầu hình quả bầu nậm là con cháu của Viêm Đế-Thần Nông đại vũ trụ.

Họ người Vũ Trụ chia ra làm hai hệ hay ngành nòng, âm là Vũ (Khôn, Không Gian) và hệ hay ngành nọc, dương là Trụ (Càn, Mặt Trời). Theo nòng nọc (âm dương) đề huề thì ngành nòng ứng với Thần Nông thái âm và ngành nọc ứng với Viêm Đế thái dương.

Những người trên mặt trống (12 người còn lại sau khi trừ ra người vũ trụ ở cuối nhóm 7 người nhẩy múa) đều có trang phục đầu hình chim có nét nọc que, có góc cạnh thái dương cho thấy họ là những Nguời Mặt Trời thuộc về ngành nọc thái dương.

Ngành người Nọc mặt trời trên mặt trống này ứng với phần nọc cổ quả bầu nậm nòng nọc, âm dương. Người trên thuyền ở vùng nước có trang phục đầu hình chim có nét cong thuộc về ngành nọc âm ứng với phần bầu của quả bầu. Những người trên trống trống đồng âm dương Hoàng Hạ cũng vậy (xem trống này).

Kiểm chứng lại ta cũng thấy đúng trăm phần trăm. Người Vũ Trụ có trang phục đầu hình bầu nậm ở nhóm 7 người trên trống Ngọc Lũ I tay phải cầm dùi nọc có mấu nhọn thái dương mang nghĩa nọc thái dương ứng với Trụ và tay trái cầm mõ hình chữ U là nòng O thái dương mang nghĩa nòng thái dương, ứng với Vũ (ngành thái dương). Dùi và mõ xác thực người này là Người Vũ Trụ ngành nọc thái dương.

Rõ ràng dùi dánh mõ hình nọc que dương (có mấu nhọn) cũng có một khuôn mặt biểu tượng cho cực dương.

Người Vũ Trụ chia ra là hai nhánh: nhánh nòng thái dương 6 người Vũ và nhánh nọc thái dương Trụ 7 bẩy người.

….

(xem Ý Nghĩa Hình Người Trên Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á).

Hiển nhiên phần cổ bầu hình nọc là một chữ nọc que có một khuôn mặt diễn tả Càn, cực dương.

-b. Cực âm.

Như đã biết gậy nọc que thẳng âm hóa thành gậy hình cong, cung, vòm hay có các yếu tố chỉ thị âm tính như đứt đoạn thành có lỗ, có khe (như hào âm của dịch que Trung Quốc).

.Gậy cong

Ví dụ trong nhóm 6 người nhẩy múa ở bán viên âm trên trống Nagọc Lũ I, người thứ 2, 3 và 4 tay trái cầm nọc que cong (trong khi ở bán viên dương cầm nọc que thẳng).

clip_image021Nhóm 6 người nhẩy múa ở bán viên âm tay trái cầm nọc que cong.

Ở nhóm nọc âm 6 người có trang phục đầu hình chim có góc cạnh mang dương tính, có sừng cao (mang hình ảnh chim cắt thể điệu hóa, chim biểu của ngành nọc dương thái dương mặt trời Càn ứng với Viêm Đế) giống nhóm 6 người ở nhóm 7 người nhẩy múa cho biết họ cùng ngành nọc dương thái dương Càn-Li. Điểm này thấy rõ qua sự kiện là cả hai nhóm người nhẩy múa ở hai bán viên, tay phải đều cầm phách hình nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) có nghĩa là lửa thái dương, mặt trời Càn, núi tháp nhọn đất dương Li. Phách để ở vị chỉ thiên, núi tháp là biểu tượng của ngành nọc dương thái dương.

Vì ở nhóm âm nên ta có thể suy ra ngay nhóm 6 người nhẩy múa này thuộc nhánh nọc âm thái dương (số 6 là số Tốn, OII, tức âm O thái dương II. Đây là lý do tại sao tay trái của họ cầm gậy cong mang âm tính.

Hiển nhiên gậy cong có một khuôn mặt diễn tả nọc que âm, cực âm.

.Hình cung, vòm.

Như đã nói ở trên, trên trống Ngọc Lũ I và các trống họ hàng có các ngôi nhà mái vòm, nhà rùa là nhà nòng, không gian. Rõ nhất thấy ở trống Cổ Loa I.

clip_image023Nhà nòng không gian mái vòm cung trên trống Cổ Loa I.

Mái vòm theo duy dương là hình nọc que âm hóa uốn cong lại.

Như thế hiển nhiên nọc que âm hóa thành hình vòm diễn tả nhà nòng, không gian có một khuôn mặt biểu tượng cho cực âm.

….

.Tứ tượng

1. Tứ tượng nhìn chung.

Như đã nói ở trên, nọc que mang tính nhất thể và lưỡng nghi thì hiển nhiên có một khuôn mặt sinh ra tứ tượng diễn tả bằng:

.Một nọc que

Một trụ hình nọc que trên có phụ chú bằng hình vuông dùng làm trụ hiến tế tứ phương,‘vái tứ phương’ giữ chức vụ của trụ nọc diễn tả trụ tứ tượng. Ví dụ như trụ tế lễ vũ trụ, tứ phương ứng với tứ tượng thấy trong tục tế Bay Quanh Trụ Palo Volador (pole flying) của người Maya qua tế vụ Người Bay Quanh Trụ:

clip_image024Tục tế lễ vũ trụ, mặt trời du bay quanh trục tứ phương [Danza de los Voladores (Dance of the Flyers) hay Palo Volador (pole flying)] của người Maya (ảnh của tác giả chụp tại Playa del Carmen, Mexico).

Tục tế lễ này ngày nay có khi giải thích là lễ cầu mưa tránh hạn hán. Đây là cách giải thích theo duy tục, duy thực, vị cái vị (bao tử, tỳ vị). Thực ra đây là cảnh tế lễ trời đất, vũ trụ thuận hòa, giao hòa. Có 5 người tham dự. Người ở giữa đứng trên trục thế giới thổi sáo đánh trống cầu nguyện còn 4 người đu bay quanh trục ứng với tứ phương, tứ tượng. Lễ tục này được thừa nhận là Một Di Sản Văn Hóa Tinh Thần (intangible cultural Heritage) bởi UNESCO. Hiển nhiên vũ trụ thuận hòa thì đem lại mưa thuận gió hòa, được mùa.

Tế vụ Người Bay này cũng thấy rõ qua tục tế lễ của người chim-mặt trời Bách Việt đu bay quanh trục tế tứ phương trên một trống đồng nam Trung Quốc thuộc địa bàn cũ của Bách Việt. Trên đầu trục có hình mặt trời thượng đỉnh. Những người hóa trang chim có trang phục đầu lông chim tỏa sáng như mặt trời. Khố là đuôi chim bay trong gió.

Bay 2

Tục tế lễ đu bay quanh trục thế giới ở một thân trống đồng (nguồn đã dẫn và ảnh của tác giả chụp hình vẽ chi tiết tại Viện Bảo Tàng Tỉnh Vân Nam).

Ta thấy rõ như dưới ánh sáng mặt trời:

bay quanh truc

Dĩ nhiên trụ tứ phương ứng với tứ tượng có mặt trời thượng đỉnh này cũng có một khuôn mặt là trục thế giới.

Đây là khuôn mặt chính thống một nọc que diễn tả tứ tượng chung, ngoài ra tứ tượng còn được diễn tả bằng bốn trụ nọc ở vị trí tứ phương.

.Bốn trụ nọc que ở vị trí tứ phương.

Ví dụ: bốn trụ nhà cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) trên nhiều trống đồng.

clip_image028

clip_image030Nhà, đền thờ trên trống đồng làm theo kiến trúc tam thế, cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) có 4 cột ứng với tứ tượng.

2. Tứ tượng nhìn riêng rẽ.

Tượng Lửa.

Nọc que thuộc ngành nọc, dương nên tượng nọc que lửa là khuôn mặt chính thường thấy.

./Trống trụ ống Nguyễn Xuân Quang II, như đã nói ở trên, có một khuôn mặt biểu tượng cực dương thì cũng có một khuôn mặt là trống biểu tượng cho tượng Lửa dương, lửa vũ trụ, trống mặt trời lửa, trống thái dương, Trống Càn.

Trống Lửa hình trụ ống Nguyễn Xuân Quang II có một khuôn mặt biểu tượng tượng Lửa, Càn.

/Tia sáng nọc que

Như đã biết, nọc que có một khuôn mặt biểu tượng cho tia sáng mặt trời nọc thái dương.

.Mặt trời có tia sáng nọc que trên trống Quảng Xương.

Như đã biết trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn là trống biểu của ngành trống, nọc, mặt trời dương. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn là trống biểu của Hùng Vương dòng thần mặt trời Viêm Đế. Vì thế người trên trống đồng là người mặt trời ứng với người Việt mặt trời, thường hóa trang thành người chim-mặt trời. Nhưng thấy rõ nhất là ở trống Quảng Xương, người mặt trời này có con mắt là hình mặt trời có những tia sáng nọc que.

clip_image031Người mặt trời trên trống Quảng Xương.

Các nhà nọc ở trống Quảng Xương thấy rõ trăm phần trăm là nhà, đền mặt trời vì có mặt trời có tia sáng nọc que ở hai bên cửa.

clip_image032Đền thờ mặt trời trên trống Quảng Xương.

Hiển nhiên ở đây cho thấy người và nhà, đền thuộc ngành mặt trời nọc dương thái dương trăm phần trăm.

Tia sáng nọc que có một khuôn mặt diễn tả tương lửa, Càn.

-Gậy nọc que thẳng ở tay trái 7 người nhẩy múa.

Gậy nọc que thẳng cầm ở tay trái nhóm 7 người nhẩy múa như đã nói ở trên có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng lửa.

-Nọc que ở chim đứng.

Vành chim ở gần ngoài biên trống Ngọc Lũ I có 18 cò bay và 18 chim đứng diễn tả các ngành, đại tộc, tộc cò và chim. Trong 18 chim đứng hiển nhiên có tộc chim nọc Lửa.

clip_image034

Cò bay và chim đứng trên trống Ngọc Lũ I.

Trong năm con chim đứng ở đây, duy nhất trên người con chim đầu tiên ở tận cùng bên phải có nọc que, các con khác không có. Con chim này có mỏ nhọn nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) chỉ lên trời có nghĩa là nọc, đực, dương, lửa thái dương sinh động… Đây là con chim mang tính nọc lửa. Đối chiếu với đồng dao Việt thì đây là con chim di sừng (finch) biểu tượng cho nọc lửa thái dương Càn:

Bổ nông là ông bồ cắt.

Bồ cắt là bác chim di…

Rất tiếc không có hình vẽ đủ cả 18 con chim đứng nên không biết rõ đây là chim nọc lửa của ngành hay đại tộc hoặc tộc. Nhưng dù có là chim biểu tượng của ngành (ứng với lưỡng nghi), hoặc của đại tộc hay tộc thì hiển nhiên cũng có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng lửa.

-Thân thú vật.

Ở thân thú vật thường có hình nọc que (có khi vẽ hơi cong theo thân con vật) diễn tả tính nọc, thái dương, cho biết thú cá, chim thuộc ngành nọc thái dương. Ví dụ:

clip_image036Hình hươu trên trống Ngọc Lũ I có chữ nọc que trên người cho biết thuộc ngành nọc dương thái dương.

Ở đây hai bên nọc que có hai hàng DẤU nọc chấm đặc cho biết chắc chắn nọc que là CHỮ nọc que.

clip_image038Hình cá trên trống Ngọc Lũ I có chữ nọc que trên người cho biết thuộc ngành nọc dương thái dương.

Cá có mỏ nọc mũi mác Ʌ xác thực tính nọc thái dương nhưng quay về phía tay trái, âm và mũi mác không nhọn lắm tức mang một chút âm. Con cá này thuộc về phía nọc âm thái dương. Điểm này rõ như ban ngày. Cá sống dưới nước thái âm có nọc que mang tính nọc và mõm nọc mũi mác mang tính thái dương thì tất nhiên thuộc ngành nọc âm thái dương.

Ở đây một lần nữa cho thấy các hình dấu, chữ nòng nọc (âm dương) trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn viết, vẽ hết sức chuẩn, hết sức đúng ngữ pháp.

-Tượng Đất

.Chim cắt đất.

Trên mặt trống Duy Tiên có những con chim có mũ sừng, mỏ rất cường điệu diễn tả mỏ rìu, bộ phận sinh dục nam.

clip_image040Chim cắt đất trên trống Duy Tiên.

Đây là những con chim rìu, chim mỏ sừng lớn (great hornbill) chim biểu tượng của mặt trời, của thần mặt trời Viêm Đế có họ Khương có một nghĩa là Sừng (khương cũng có một nghĩa là gừng vì củ gừng có hình sừng). Người Mường gọi chim cắt, chim mũ sừng là chim Khướng. Khướng biến âm mẹ con với Khương. Chim đứng trên mặt đất nên có một khuôn mặt là chim cắt đất. Ở dưới chân chim có vành sóng chữ vòng tròn-chấm có một nghĩa là thiếu dương, nguyên thể của đất, mang tính chuyển động sinh tạo. Vành này xác thực chim cắt đừng là chim cắt đất.

Trong mỏ chim có chữ nọc que, ở đây mang nghĩa trụ đất biểu tượng cho tượng đất dương. Nọc que diễn tả núi nọc đất dương ứng với Li.

-Khoảng không gian giữa các nọc tia sáng ở trống Thanh Hóa.

clip_image042Khoảng không gian giữa các nọc tia sáng trên trống Thanh Hóa.

Khoảng không gian giữa các nọc tia sáng ở trống Thanh Hóa diễn tả tứ tượng chia ra làm hai ngành với hai hình thái khác nhau, tức hình thái lưỡng ngành. Ngành nòng âm có hình hai giọt nước dương hình hạnh nhân Chấn và bờm chim Đoài vũ trụ khí gió. Ngành nọc dương gồm có 7 hay 6 nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) không có đầu diễn tả lửa thái dương Càn (đúng ra tất cả phải là 7 nọc mũi mác vì số 7 là số Càn. Ở đây là trống muộn nên có lỗi kỹ thuật). Phần còn lại là nọc que ở trên có các yếu tố hình dấu nọc mũi mác có một khuôn mặt diễn tả đỉnh núi tháp nhọn biểu tượng núi dương, núi lửa đất dương Li. Nọc que xuyên qua các đỉnh nhọn này trông giống như một rặng núi dương nhọn đỉnh.

Như vậy hình thái nọc que với các đỉnh nhọn này diễn tả tượng đất dương Li.

Tương tự cũng thấy ở khoảng không gian giữa các nọc tia sáng trống Phú Phương II.

clip_image044Khoảng không gian giữa các nọc tia sáng trên trống Phú Phương II.

Hình thái ngành nọc dương Càn Li ở trống này thấy đơn giản và rõ hơn. Sáu nọc mũi mác (đáng lẽ 7) diễn tà lửa thái dương Càn và nọc que xuyên qua đỉnh các nọc mũi mác diễn tả tượng đất dương Li.

.Tượng Nước.

Nọc que âm hóa thành nọc cong mang âm tính có một khuôn mặt biểu tượng cho nước thái âm của ngành nọc thái dương.

– Cò Nước trên trống Hàng Bún.

clip_image046

clip_image047Cò mỏ cong trên trống Hàng Bún.

Cò trên trống Hàng Bún diễn tả mỏ cong mục đích cho biết cò thuộc tộc cò âm, nước (trong thực tế cò có mỏ thẳng và dài hình nọc que mang dương tính không có cò mỏ cong, ở đây là diễn tả theo chữ nòng nọc vòng tròn-que). Trên cánh cò có nhiều nọc que nằm ngang song song biểu tượng cho nước không gian. Ở đây có 8 nọc que ngang. Số 8 là số Khôn tầng 2 (0, 8) xác thực nước là nước không gian. Cò này là cò nước không gian sinh tạo khôn càn.

Kiểm chứng ta thấy rõ trống này là trống sấm mưa vì có các hình dóng sấm (búa thiên lôi), có mặt trời 12 nọc tia sáng Cấn/Chấn (Chấn vi lôi, là sấm), vành sóng nhọn đầu nước lửa Chấn sinh động…

Trống Hàng Bùn là trống sấm mưa nên cò là cò nước, cò sấm mưa.

Hiển hiên cò nước có hình mỏ nọc que cong lên và các sọc nằm ngang song song là những nọc que có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng nước.

-Nọc lõm cong biểu tượng nước dương.

Nọc que cong xuống thình hình lõm, hình lòng chảo, hình vật đựng như đĩa, hình thuyền, hình trăng lưỡi liềm, hình sừng trâu… có một khuôn mặt biểu tượng nước.

-Nhà nọc mặt trời trên trống đồng nòng nọc (âm dương).

Trên trống Ngọc Lũ I và các trống họ hàng các ngôi nhà nọc có mái lõm xuống thường cho là có hình thuyền.

clip_image049

Nhà nọc, mặt trời trên trống Ngọc Lũ I có mái lõm cong xuống.

Thật ra có thể là hình sừng trâu của tộc trâu, hình mặt trăng lưỡi liềm (của tộc mặt trời đêm tức trăng).

clip_image051Nhà nọc mặt trời có mái trăng lưỡi liểm hay sừng trâu trên trống Sông Đà.

Thuyền, trâu nước, trăng… đều liên hệ với nước, biểu tượng cho nước. Mái có hai đầu đao nhọn mang tính thái dương. Như thế nhà nọc mặt trời có một khuôn mặt là nhà của đại tộc nước thái dương, mặt trời nước thái dương ứng với Lạc Long Quân. Vì thế trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn có một khuôn mặt là trống biểu của Lạc Việt.

-Nọc que móc nước.

Nếu nhìn theo duy dương, coi hình móc nước chỉ là một nọc que âm hóa cong lại thì nọc que cong thành móc nước loại này cũng biểu tượng cho tượng nước

Lưu Ý

Như đã biết ở bài Từ Hai Nòng OO, theo duy âm, hai nòng OO một nòng O dương hóa cực đại thành nọc que và một nòng O dương hóa một phần chỉ mở ra thành hình móc cũng tạo ra hình móc nước. Cần phân biệt hình móc nước theo duy dương ngành nọc do một nọc que I và theo duy âm ngành nòng do hai nòng OO.

.Ví dụ hình móc nước nhìn theo duy dương do một nọc que cong lại thấy ở dóng sấm hình thoi trên trống Nam Ngãi II.

clip_image052Dóng sấm hình thoi trên trống Nam Ngãi II.

Nếu theo diện phía nọc dương, coi hình móc nước clip_image053 chỉ do một nọc que âm hóa thành thì diễn tả nước dương, chuyển động. Nọc que móc nước chuyển động mang tính sinh tạo này hôn phối với nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) Ʌ của đỉnh hình thoi có một nghĩa là lửa thái dương. Nước-lửa là chớp lửa trong mưa tạo ra sấm có một khuôn mặt sinh tạo như tiếng sấm big bang. Bốn đỉnh hình thoi diễn tả bốn sấm chuyển động bốn phương trời mang tính sinh tạo (hình thoi mang tính chuyển động trong khi hình vuông mang tính tĩnh tại).

.Tương tự, nếu coi chữ móc nước chỉ do một nọc que âm hóa mà thành thì đuôi cá sấu Dao ở trống Hòa Bình và đuôi giao long trên đồ đồng Đông Sơn cũng vậy.

clip_image054Sấu mõm dao trên trống Hòa Bình.

clip_image056Dao long Đào Thịnh (trái), Đông Sơn (giữa) và Ninh Bình (phải).

….

-Nhiều nọc que nằm ngang song song diễn tả nước không gian.

Như đã biết vòng tròn trong có các nọc que nằm ngang song song diễn tả nước không gian. Rõ nhất là khi có phụ chú thêm hình con rắn bơi trong đó.

clip_image057Không gian nước diễn tả bằng nhiều nọc que nằm ngang song song có phụ chú thêm hình con rắn bơi trong đó.

Hình cò trên trống Hàng Bún đã nói ở trên có các nọc que nằm ngang song song trên cánh cho biết là cò nước.

clip_image058Cò nước trên trống Hàng Bún.

…..

.Tượng Gió.

Khí Gió là dương (I) của âm (O) tức thiếu âm (.O hay IO). Thái dương II của âm O là gió dương IIO, Đoài vũ trụ khí gió. Âm O thái dương II là OII, Tốn có một khuôn mặt gió âm.

-Hình thái nấc thang.

Nhiều nọc que bằng đầu mang âm tính, thẳng đứng IIIIII… tạo thành vành hình nấc thang, hình thanh ngang đường rầy thường gọi là ‘răng lược’ (không đúng vì hở cả hai bên còn răng lược thì phải hở một bên và có một đầu nhọn), theo duy dương là Khôn dương tức thiếu âm khí gió (xem Chữ Nhiều Nọc Que).

Ví dụ vành nấc thang trên trống Hích.

clip_image060Hai vành nấc thang hay thanh ngang đường rầy trên trống Hích.

Trống này có khoảng không gian giữa hai tia sáng hình hai giọt nước lồng vào nhau tức hai nòng âm thái âm, Khôn âm. Giọt nước mưa nhọn đầu mang dương tính. Hình giọt nước đen nhọn đầu ở giữa ‘phụ đề’ cho biết rõ là nước thái âm mang dương tính. Ta có nước dương Chấn . Hình các sọc nọc que hình bờm chim (ở đây không có vành cung) diễn tả khí gió dương Đoài vũ trụ tức nòng dương thiếu âm, Khôn dương. Hai hình thái này diễn tả nước Khôn âm và gió Khôn dương ngành thái dương, nói chung là ngành nòng Khôn mang âm tính. Tính Khôn này được diễn tả bằng bốn vành mang tính nòng, âm ở mặt trống. Hai vành nấc thang diễn tả Khôn dương thiếu âm khí gió và hai vành hai vòng tròn đồng tâm diễn tả thái âm Khôn âm nước.

Rõ như ban ngày các nọc que thẳng đứng song song hình nấc thang, hình mành gió mang ý nghĩa biểu tương khí gió.

-Hình bờm

Như đã nói ở trên, trống Hích này có khoảng không gian giữa hai tia sáng có hình thái đơn ngành nòng âm gồm hình hai giọt nước dương hình hạt hạnh nhân lồng vào nhau tức hai nòng âm thái âm mang tính thái dương Chấn và hình bờm do nhiều nọc que hợp lại diễn tả gió ứng với Đoài vũ trụ khí gió.

Rõ như ban ngày hình bờm mang ý nghĩa biểu tương khí gió.

-Nọc que nghiêng gió tạt.

Nọc que nghiêng cũng biểu tượng không gian dương, gió. Ví dụ:

.Hình cò gió trên Việt Khê.

clip_image062Trống Việt Khê.

Cò trên trống này bờm có các nọc que nghiêng gió tạt. Cánh hình vòm trời hình vung cũng có các nọc que nghiêng gió tạt. Đây là con cò gió.

Kiểm chứng ta cũng thấy trống Việt Khê có mặt trời 8 nọc tia sáng Khôn tầng 2 (0, 8). Khoảng không gian giữa các nọc tia sáng là hình thái đơn đồng nhất gồm nhiều nọc mũi mác mang dương tính và các vành giới hạn có nọc chấm đặc mang dương tính cho biết Khôn ở đây là Khôn dương, khí gió…

Trống Việt Khê là trống biểu của một tộc gió (chỉ là một tộc vì hình thái ở khoảng không gian giữa các nọc tia sáng là hình thái đơn đồng nhất) của Liên Bang Văn Lang.

.Khoảng không gian giữa các nọc tia sáng nọc que nghiêng.

Trên trống Hà Nội III có những con cò gió.

clip_image064Cò ở Trống Hà Nội III.

Cò có bờm dải gió nọc que. Trong cổ có nọc que uốn gợn sóng chữ S choãi [một dạng khởi đầu của sóng dạng sin (sinusoid wave)] diễn tả gió chuyển động.

Trống có mặt trời 8 nọc tia sáng (Khôn tầng 2) tức mặt trời càn khôn. Các khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có những sọc nọc que nghiêng diễn tả không gian. Kiểm chứng lại ta thấy hai vành ngoài biên hình nấc thang diễn tả nọc âm thái dương cho thấy theo duy dương Khôn là khuôn mặt Khôn dương tức khí gió mang tính chủ, ăn khớp với khuôn mặt gió của khoảng không gian giữa các nọc tia sáng.

-Nọc que cong

Đôi khi nọc âm được diễn tả bằng hình nọc cong mang âm tính thiếu âm, nguyên thể của khí gió thành hình hơi gợn sóng mang tính sóng gió (rõ hơn là dạng sóng sin), hình vòng cung, hình vòm diễn tả bầu trời, vòm trời. Các hình cong này có hay không có ‘phụ đề’ thêm các yếu tố chỉ gió như bờm, lông chim. Ví dụ:

.Hình cung

Điển hình là hình ngữ gió trong hình thái tứ tượng ở các khoảng không gian giữa tia sáng mặt trời thấy trên nhiều trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn như trống Ngọc Lũ I mà hiện nay hiểu lầm là ‘họa tiết lông công’.

 clip_image002[4]

Chữ hình bờm chim biểu tượng cho gió trong hình thái tứ tượng ở khoảng giữa các tia sáng mặt trời trên trống đồng nòng nọc, âm dương Ngọc Lũ I (hiện nay gọi sai là ‘họa tiết lông công’).

Chữ bờm gió trong hình thái tứ tượng gồm hai phần. Phần bờm gồm các nọc que nghiêng gió tạt diễn tả gió như đã nói ở trên. Phần cung hình vòm diễn tả bầu trời.

-Vòm cong

Như đã biết nhà nòng không gian ở trống Cổ Loa I có mái hình vòm trời.

clip_image071Nhà nòng không gian ở trống Cổ Loa I.

…..

3. Tứ tượng  của một ngành, nhánh nhiều đại tộc.

-Cò Gió Lang Liên Bang Văn Lang Hùng Vương.

Liên Bang Văn Lang có biểu tượng là cò gió tôi gọi là Cò Lang (Lang là tên Lang Hùng vì Lang là chàng là đục, con trai có biểu tượng là con cò có một nghĩa là cồ, cu, con trai và Lang cũng có nghĩa là trắng như lang da. Không khí gió có mầu trong suốt, trắng). Hầu hết các trống đồng của đại tộc Đông Sơn đều có hình cò bay nên mỗi trống đồng là trống biểu của một ngành, nhánh, đại tộc, tộc của Liên Bang Văn Lang Hùng Vương.

Trên trống Ngọc Lũ I có vành 18 con cò bay có bờm hình phướn gió, cánh hình thảm bay giống như thảm thần (magic carpet) của Nghìn Lẻ Một Đêm Ả Rập, thân như cánh diều bay trong gió, hai chân không có màng như dải gió bay… (hiện nay gọi lầm là chim Lạc, xem Cò Lang Hay Chim Lạc?). Đây chính là 18 con cò Lang của đại tộc Liên Bang Văn Lang ứng với 18 tộc tương đương với hiện nay cho là 18 đời Hùng Vương.

clip_image073

Trong 18 con cò của Liên Bang Văn Lang Cò Lang này có ít nhất bốn đại tộc cò Việt ứng với tứ tượng là Cò Lửa Man Việt, Cò Nước Lạc Việt, Cò Gió Lang Việt, Cò Đá (Đất dương) Kì Việt ứng với tứ tượng.

./Tượng Lửa đại tộc Cò Lửa Man Việt.

Trống đồng Đông Sơn IV có chim biểu là Cò Lửa có mỏ dài, to, khỏe, trông cương cường giống bộ phận sinh dục nam đang cương cứng.

clip_image074

Cò không có bờm (cò có bờm thường là cò thuộc ngành nòng âm gió, nước) mang tính dương, cường dương.

Ở cổ cò có nọc que cường điệu nghiêng về diễn tả nọc lửa. Điểm này ăn khớp với hai vành mũi mác diễn tả nọc dương thái dương. Ngoài ra trống có mặt trời 8 nọc tia sáng (Khôn tầng 2) tức mặt trời càn khôn. Các khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có những sọc nghiêng tả không gian dương khí gió. Với sự hiện diện của hai vành mũi mác nọc dương thái dương cho thấy khuôn mặt lửa thái dương Càn mang tính chủ, ăn khớp với khuôn mặt cò lửa.

Trong mỏ cò có viết chữ nọc que mang nghĩa cọc, dương. Nọc que ở đây cường điệu, dài nghiêng hẳn về chữ hơn là dấu.

Cò này là cò lửa biểu tượng cho đại tộc lửa của Cò Lang Liên Bang Văn Lang Hùng Vương).

Hiển nhiên nọc que ở đây có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng lửa.

./Tượng Nước đại tộc Cò Lạc Lạc Việt.

Như đã nói ở trên, cò trên trống Hàng Bún diễn tả mỏ cong biểu tượng cho nước dương và trên cánh cò có nhiều nọc que nằm ngang song song biểu tượng cho nước không gian.

Trống Hàng Bùn là trống sấm mưa nên cò là cò nước, cò sấm mưa, cò Lạc.

Đây là cò biểu của tượng Nước Lạc Việt.

./Tượng Gió đại tộc Cò Gió Lang Việt.

Hình cò ở trống Đông Sơn I.

clip_image002Cò ở Trống Đông Sơn I.

Cò có bờm tua gió chẻ hai nọc que. Ngoài biên có hai vành nấc thang nọc âm thái dương, theo duy dương diễn tả gió dương. Ngoài ra trống có mặt trời 8 nọc tia sáng (Khôn tầng 2) tức mặt trời càn khôn. Nọc tia sáng cũng có hình búp măng cạnh thon tròn mang âm tính.  Các khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có 7 nọc mũi mác chồng lên nhau. Số  7 là số Càn cho biết rõ mặt trời không gian mang tính càn khôn và không gian Khôn mang dương tính khí gió.

Với hai vành ngoài biên hình nấc thang diễn tả nọc âm thái dương cũng cho thấy khuôn mặt Khôn dương tức khí gió mang tính chủ, ăn khớp với khuôn mặt cò gió.

Trong cổ có hình nọc que uốn theo chiều gió dạng sóng sin (sinusoid wave) diễn tả gió chuyển động.

Trong mỏ có chữ/dấu nọc que cho biết tính nọc, dương, ngành nọc thái dương. Ở đây dùng nọc que thay vì dấu mũi mác vì khí gió mang âm tính (xem dưới).

Hiển nhiên bờm chữ nọc que sóng gió dạng sin ở đây có một khuôn mặt biểu tượng cho nọc que âm thái dương khí gió.

Đây là cò biểu của tượng Gió đại tộc Lang Việt.

./Tượng Đất đại tộc Cò Đá Kì Việt.

a. Trống Giảo Tất.

clip_image078Cò đất dương trên trống Giảo Tất (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Cò trên trống Giảo Tất mỏ rất nhọn mang dương tính lửa, không có bờm thuộc ngành nọc dương thái dương Càn Li. Cánh và thân hình chữ T có một khuôn mặt là trụ chống trời, trục thế giới có một khuôn mặt biểu tượng cho Núi Thế Gian, cho đất dương gian Li. Trong cổ cò có hình nọc que (đầu cong vì đầu bẻ cong theo cổ) có đáy choãi to ra thành hình tháp nhọn (giống chữ Y nằm) biểu tượng cho núi dương, đất dương Li.

Kiểm chứng thêm ta cũng trống có mặt trời 10 nọc tia sáng Khảm/Li . Ngoài biên có hai vành nọc mũi mác nọc dương  thái dương, (Càn Li). Các khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có 5 nọc mũi mác chồng lên nhau. Số l5 là số Li cho biết rõ mặt trời không gian mang tính Li.

b. Trống Làng Vạc IV.

Trống này tương tự trống Giảo Tất nhưng diễn tả ‘bình dân học vụ’ hơn vì muộn hơn.

Trong người cò có hình nọc que diễn tả hình núi tháp với các sọc thấy rõ hơn.

clip_image002[4]Trống Làng Vạc IV.

Cò cũng không có bờm, mỏ ngắn hình rìu. Cánh và thân hình chữ T mang hính ảnh trục thế giới, núi trụ chống trời.  Trống có mặt trời 10 nọc tia sáng Khảm/Li, khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có những sọc trông giống hình núi đá Li. Hai vành ngoài biên nọc mũi mác nọc dương thái dương. Trong có bỏ hai dấu nọc chấm đặc có nghĩa là hai dương, lửa sinh tạo cho biết rõ thêm tính lửa đất dương Li.

Tóm lại cò trên trống Làng Vạc IV có hình nọc que hình tháp nhọn có sọc diễn tả cò đất dương Li.

Lưu Ý

Chữ/dấu nọc que có hình nọc mũi mác núi tháp nhọn ở dưới (giống chữ Y nằm) mang nghĩa đất dương Li thấy rất rõ ở mõm các con bò trên trục trống Đồi Ro.

clip_image080Bò trên trục trống Đồi Ro.

Những con bò trong mõm có chữ/dấu nọc que có chữ/dấu nọc mũi mác ở dưới (giống chữ Y nằm) cho biết bò mang nghĩa nọc, đực, ngành nọc dương biểu tượng cho đất dương Li. Điểm này rất chí lí vì bò là thú bốn chân sống trên mặt đất có sừng có một khuôn mặt biểu tượng cho Đất dương gian Li như thấy qua con bò nandi của Shiva.

Kiểm chứng lại trống có 10 nọc tia sáng Khảm/Li. Các khoảng không gian giữa các nọc tia sáng gồm 4 nọc mũi mác đúng ra phải là con số 5 Li (có thể người làm trống kể cả nọc mũi mác do cạnh hai nọc tia sáng tạo ra nữa là 5. Hoặc có ý dùng số 4 là Cấn, núi âm có Li 5 núi dương làm đại diện. Hay đây là lỗi kỹ thuật vì đây là trống muộn). Ngoài biên có hai vành nọc mũi mác nọc dương thái dương Li-Càn. Tất cả các yếu tố nọc dương Li trên ăn khớp với cò đất dương Li.

Hiển nhiên nọc que hình tháp nhọn biểu tượng cho tượng đất dương Li.

Đây là cò biểu của tượng nhỏ tộc Đất Kì Việt .

-Mũi tên (hay cây lao) trên thuyền trống Ngọc Lũ I.

Tên (hay cây lao) mang hình ảnh một nọc que nhọn. Như đã biết, trên trống Ngọc Lũ I có 6 con thuyền trong đó có hai thuyền biểu tượng cho hai nhánh ngành nọc âm (mỗi thuyền này có cảnh phán xét hai linh hồn) và 4 thuyền còn lại biểu tượng cho 4 đại tộc (mỗi thuyền chỉ có một cảnh phán xét linh hồn) ứng với tứ tượng. Trên đài cao tam thế ở mỗi thuyền có một người gác cổng trời tay cầm cung (hay khiên, mộc) và mũi tên (lao). Hình dạng đầu tên và vị trí của tên diễn tả tính nòng nọc (âm dương) khác nhau. Mỗi tên vì thế là biểu tượng cho mỗi đại tộc khác nhau.

1Thuyền đại tộc Lửa thái dương Càn (thuyền số 3 theo thứ tự trong 6 thuyền).

clip_image082Thuyền đại tộc Lửa thái dương Càn/Khôn.

Một trong những mấu chốt đặc thù để nhận diện các thuyền là gầm đài cao tam thế, dưới sàn của người đứng gác cổng trời.

Ở thuyền này gầm đài trống không diễn tả Khôn. Khôn hôn phối với Càn cho biết thuyền này là thuyền Càn.

Chiếc tên của người gác cổng trời hướng về phía mũi thuyền, tay phải, dương, nghiêng chỉ lên trời. Mũi tên hình tam giác có ba đỉnh là ba chữ nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) Ʌ có nghĩa là nọc, đực, dương, lửa thái dương. Như thế mũi tên tam giác ba mũi nhọn nọc mũi mác diễn tả ba dương, Càn. Tên diễn tả nọc que mang tính Càn.

Đây là thuyền của đại tộc Lửa thái dương Càn.

2. Thuyền đại tộc Lửa thiếu dương Đất Li (thuyền số 4).

clip_image084Thuyền đại tộc Lửa thiếu dương Đất Li/Khảm.

Thuyền này ở gầm có bầu nước Khảm để trên lò lửa đất thế gian Li (Khảm với Li hôn phối với nhau) cho biết thuyền này là thuyền Li. Chiếc tên của người gác cổng trời hướng về phía mũi thuyền, tay phải, dương, nghiêng chỉ lên trời. Mũi tên hình tam giác cân có đáy bằng hình tháp nhọn diễn tả núi tháp nhọn lửa thiếu dương, Đất dương Li. Như thế tên mũi tam giác cân hình núi tháp nhọn diễn tả nọc que mang tính Li.

Đây là thuyền của đãi tộc Lửa thái dương Li.

3. Thuyền đại tộc Gió thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió (thuyền số 5).

clip_image086Thuyền đại tộc Gió thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió.

Thuyền này ở gầm có vật hình trống hay trống. Trống có một khuôn mặt theo duy âm (ở đây trên thuyền mang âm tính) biểu tượng cho không gian, khí gió. Việt ngữ có từ đôi trống không nghĩa là trống = khôngtiếng trống thu không. Vật này cho biết là thuyền Khí Gió âm Tốn/Đoài vũ trụ khí gió dương. Chiếc tên của người gác cổng trời chỉ thẳng lên bầu trời diễn tả khí gió thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió dương. Như thế tên chỉ thẳng lên bầu trời diễn tả nọc que mang tính Khí Gió Đoài vũ trụ khí gió.

Đây là thuyền của đại tộc Gió thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió.

4. Thuyền đại tộc Nước thái âm Chấn (thuyền số 6).

clip_image088Thuyền đại tộc Nước thái âm Chấn.

Thuyền này ở gầm có hai chiếc bình. Vật đựng mang âm tính nòng O. Hai bình là OO, thái âm, có một khuôn mặt là nước. Chiếc bình bên trái thon hình trụ mang dương tính nọc que. Như thế ta có IOO, Chấn.

Hai chiếc bình cho biết thuyền này là Nước dương Chấn. Ở đây không có tên tức không có yếu tố dương. Người gác cổng trời chỉ cầm cung hai chữ D ngược lồng vào nhau diễn tả hai giọt nước chuyển động. Hai đầu cung nhọn nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) có nghĩa là nọc, hai nọc, hai dương, thái dương. Cung diễn tả nước thái dương ứng với Chấn. Người này quay về phía đuôi thuyền âm nên cung cũng quay về phía âm.

Như thế không có tên mà chỉ có cung Chấn diễn nước dương, thái dương Chấn.

Đây là thuyền của đại tộc Nước dương Chấn.

…..

(còn nữa).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: