CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE: CHỮ NỌC MỘT NỌC QUE (phần 2).

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE

CHỮ NỌC MỘT NỌC QUE.

(Nọc or Rod I letter).

(phần 2).

Nguyễn Xuân Quang.

-Tứ Tượng

-Tứ tượng nhìn chung.

Như đã nói ở trên, nọc que mang tính nhất thể và lưỡng nghi thì hiển nhiên có một khuôn mặt sinh ra tứ tượng diễn tả bằng:

.Một nọc que

Một trụ hình nọc que diễn tả trục thế giới bao hàm nghĩa tứ tượng (tứ tượng sinh ra tam thế thông thương bằng trục thế giới) thấy rõ qua các trục hiến tế tứ phương, ‘vái tứ phương’ như tục tế lễ vũ trụ, tứ phương Bay Quanh Trụ Palo Volador (pole flying) của người Maya qua tế vụ Người Bay Quanh Trụ:

clip_image002Danza de los Voladores (Dance of the Flyers) hay Palo Volador (pole flying) (ảnh của tác giả chụp tại Plaza del Carmen, Mexico).

Hiện nay được cho đây là tế vũ bốn phương trời để cầu mưa, tránh hạn hán. Cầu xin thần mưa Xipe Toltec và các vị thần khác để có mưa, được mùa, phồn thịnh.

Tế vụ Người Bay này cũng thấy trên một trống đồng nam Trung Quốc thuộc địa bàn cũ của Bách Việt (xem dưới).

Đây là khuôn mặt chính thống một nọc que diễn tả tứ tượng chung, ngoài ra tứ tượng còn được diễn tả bằng bốn trụ nọc ở vị trí tứ phương.

.Bốn trụ nọc que ở vị trí tứ phương.

Ví dụ: Gốm vũ trụ tạo sinh Moche.

clip_image004Bình gốm “hai người quí tộc” làm tình có bốn người hầu chầu rìa.

Mẫu gốm này được cho là diễn cảnh là “hai người quí tộc” đang làm tình’ có bốn người hầu chầu rìa. Đây cũng có thể là hai vị thần đang giao hoan với bốn vị thần con ở tứ phương. Nhìn dưới góc cạnh truyền thuyết sáng thế, đây là một cảnh diển tả triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh (xin nhắc lại người Moche và ngay cả người Inca sau này không có chữ viết, họ diễn ghi lại sử truyền thuyết bằng đồ gốm). Hai vị thần nam nữ tạo hóa giao hợp ứng với lưỡng nghi nòng nọc (âm dương) giao hòa sinh ra bốn vị thần con Tứ Trụ ngồi ở bốn cột ở vị trí tứ phương ứng với Bốn Nguyên sinh Động Lực Chính, ứng với Tứ Tượng. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử việt, Thần Nông giao hòa với Viêm Đế sinh ra thần Viêm Lửa, Đế Đất, Thần Nước và Nông Gió ở cõi tạo hóa.

Phía sau có một trụ có mặt như mặt trống là trục thế giới thông thương tam thế (giống người Điền Việt dùng trống đồng nòng nọc làm trụ thờ-trục thế giới).

Cảnh này diễn tả trọn vẹn thuyết vũ trụ tạo sinh là lưỡng nghi, tứ tượng, tam thế, trục thế giới, sinh tạo…

Ở đây ta thấy rõ như ban ngày trụ nọc que có bốn khuôn mặt nòng nọc (âm dương) khác nhau diễn tả tứ tượng qua các chi tiết nòng nọc (âm dương) khác nhau.

-Tứ tượng nhìn riêng rẽ.

a.Tượng Lửa:

Vì ở đây là từ nọc que ngành nọc dương nên tượng lửa mang tính chủ trong bốn tượng.

Nhìn chung, các yếu tố biểu tượng cực dương ở lưỡng nghi nói ở trên có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng lửa nọc que. Ví dụ mặt trời nọc que, số 1 có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng lửa nguyên tạo.

Nhìn riêng nọc que cũng biểu tượng cho lửa vũ trụ, tia sáng ứng với tượng lửa Càn. Ví dụ:

-Những cự thạch (megalith) thờ mặt trời và tổ tiên (J. E. Cirlot).

-Nọc tia sáng

./Thạch bi Obelisk

Thạch bi Ai Cập diễn tả tia sáng (sunray) là một thứ trụ nọc nhọn đầu hình nọc que.

clip_image005Trụ thạch bi ở Đền Luxor, Ai Cập.

Trụ thạch (thạch bi, obelisk) của Ai Cập hình trụ nọc que diễn tả tia sáng mặt trời.

Qua trụ thạch obelisk nọc tia sáng này ta cũng thấy rõ nọc que có một khuôn mặt mang ý nghĩa biểu tượng mặt trời.

Đài tưởng niệm Washington ở Washington D.C. mang hình ảnh của một thạch bi Ai Cập cổ.

clip_image002[1]

(ảnh của tác giả).

Ngày nay hiểu là biểu tượng cho sức mạnh, chiến thắng… nghĩa là hiểu theo ý nghĩa hùng, mạnh, nọc, cọc, đực, mặt trời. Phái nam là phái khỏe (phái nữ là phái yếu). Mặt trời là sức mạnh, dũng mãnh, là chiến thắng tất cả…

./Tia sáng mặt trời được diễn tả bằng nọc que.

Như đã nói ở trên, nọc tia sáng thấy qua các hình mặt trời nọc thái dương.

clip_image009Mặt trời có những tia sáng hình nọc que.

./Hình ngữ ánh sáng, nắng của Ai Cập cổ diễn tả bằng vòng tròn có ba tia sáng hình nọc que.

clip_image011

Ở đây nắng do ba nọc que tức lửa thái dương Càn hàm ý nắng chói chang, nóng bỏng nhất. Vì thế, như đã biết, hình ngữ này còn có nghĩa là nắng giữa ban ngày, giữa trưa, chính ngọ.

-Ông Thần Dùi Lửa.

Thần thoại Mường Việt có thần Dùi Lửa là Tá Tắm Cọt, có lúc viết là Đá Cắm Cọt. Cọt biến âm với Cọc, đọc thêm hơi vào là Chọt, Chọc. Thần Lửa Tá Cắm Cọt là ông Cắm Cọc, ông Đâm Chọc, ông Dùi Cọc lửa. Việt ngữ gầy lửa cũng nói lên cách lấy lửa bằng que, gậy dùi vào nhau. Chữ gầy cùng với chữ gậy một vần.

Hiển nhiên ở đây cho thấy rõ nọc que làm lửa có một khuôn mặt biểu tượng cho lửa, tượng lửa.

b. Tượng Đất.

Nọc que có một khuôn mặt biểu tượng cho núi nọc, núi dương, núi nhọn đỉnh, núi lửa thấy rõ qua Việt ngữ nổng (núi nọc, núi dương), gò nổng là ‘mô đất, núi’, Nam Dương ngữ gunung là núi. Nổng biến âm với nốngnọc chống đỡ. Ta có câu nói ‘cứ nống nó lên’ có nghĩa là cứ chống, cứ nâng, cứ tâng nó lên.

Núi nổng có khuôn mặt là núi trụ nọc nhọn, núi trụ chống trời, núi trụ thế gian nên biểu tượng cho đất dương, đất dương gian, tượng đất.

Ví dụ:

-Trụ Chống Trời

Theo truyện thần thoại Việt Nam: “Thuở trời đất còn mịt mù hỗn độn, tự nhiên hiện lên một vị thần to lớn khác thường, đầu đội trời, chân đạp đất, đào đất vác đá đắp thành một cái cột to cao để chống trời lên mà phân chia ra trời đất. Trời như một cái vung úp, đất bằng như một cái mâm vuông…

Dấu vết cột chống trời ngày nay người ta cho là ở núi Thạch Môn, thuộc về tỉnh Sơn Tây, Bắc Việt cũng gọi là núi Không Lộ (Đường Lên Trời) hay Khổng Lồ hoặc là Kình Thiên Trụ (Cột Chống Trời). Dân chúng còn câu hát lưu hành nhắc nhở đến công việc của ông trụ trời vào thuở khai thiên lập địa:

Nhất ông đếm cát,

Nhì ông tát bể,

Ba ông kể sao,

Bốn ông đào sông,

Năm ông trồng cây,

Sáu ông xây rú,

Bẩy ông trụ trời”.

Bài hát này kể các vị thần làm việc lúc khai thiên lập địa không theo thứ tự sinh đẻ (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Núi Kình Thiên Trụ (Núi Chống Trời) mang ý nghĩa biểu tượng cho Núi Trụ Thế Gian, cho cõi đất Trung Thế.

-Thần Đất Keb của Ai Cập.

Thần đất Keb hay Geb liên hệ với gốc Hy Lạp ngữ Geo (đất). Keb = kẻ = kè = que tức nọc, cọc bộ phận sinh dục nam. Nên thần Đất Keb có bộ phận sinh dục đặc thù mang hình ảnh nọc, Trụ Chống Trời, biểu tượng cho Núi Trụ Thế gian.

clip_image012Thần Đất Keb và nữ thần Bầu Trời Nut.

Nữ thần Bầu Trời Nut uốn cong người thành hình vòm bầu trời.

Nhìn hình này có nhiều người cho là thô tục nhưng nếu ta hiểu rõ truyền thuyết ta thấy rất chí lý và đây là một tài liệu rất quí dùng để kiểm chứng những khuôn mặt thần Đất trong các nền văn hóa khác.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt Keb chính là hình ảnh Kì Dương Vương. Theo k = s, ta có Ke(b) = ke, bộ phận sinh dục nam (Từ Điển Việt Bồ La, Alexandre de Rhodes) = kè (loài cây thân không có cành nhánh, hình cột trụ, palm) = kẻ (thước kẻ) = que (bộ phận sinh dục nam) = Kì, Ki (cây, nọc). Kì Dương Vương,Vua  Núi Trụ thế gian có một khuôn mặt là thần Đất cõi giữa thế gian, có thú biểu là con hươu sừng gọi là con Cọc (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc).

Đối chiếu với truyền thuyết Ấn Độ, theo k = sh, ta có Ke(b) = Kì = Shi(va). Thần Shiva có một nghĩa là Cọc Lửa (Pillar of Fire), có biểu tượng là bộ phận sinh dục nam linga. Thần Shiva có một khuôn mặt là Trụ Chống Trời, Núi Trụ thế gian nên cho là sinh ra từ Núi Trụ thế gian Kailash ở Himalaya… Linga của Shiva vì thế có một khuôn mặt diễn tả Núi Trụ Thế Gian.

clip_image014Linga hình trụ nọc biểu tượng của Shiva ở Viện Bảo Tàng Quốc Gia Bangkok có một khuôn mặt Núi Trụ Thế Gian, Trục Thế Giới (ảnh của tác giả).

So sánh với thần Keb, Việt Nam có Núi Nam Giới (nôm na là Núi Nõ) ở Hà Tĩnh mang ý nghĩa biểu tượng cho Núi Trụ Thế Gian, cho cõi đất Trung Thế. Núi Nam Giới chính là hình ảnh bộ phận sinh dục nõ của Keb chống bầu trời.

Nói tóm lại các vị thần Đất đều có khuôn mặt là Núi Trụ thế gian, núi Trụ Chống Trời, có khuôn mặt là cọc là cặc, là linga…

.Các thạch trụ có một khuôn mặt biểu tượng cho đất thế gian.

Ví dụ chữ thổ (tủ) trên giáp cốt cũng có hình thạch trụ, hình trụ nọc que cắm trên mặt đất bằng.

clip_image016(nguồn: Wang Hongyuan).

Ông Bàn Cổ là ông Trụ Chống Trời. Thần Thoại Mán nói về vũ trụ tạo sinh có kể rằng khi trời đất còn mù mờ, đầu tiên có hai người xuất hiện là Nhiêu Vương và Bàn Cổ. Hai con mắt của Nhiêu Vương sinh ra mặt trời, mặt trăng. Còn loài người do tâm của Bàn Cổ sinh ra trong đó có Bàn Vũ. Bàn Vũ sau là tổ người Mán (Hoàng Trọng Miên, Việt Nam Văn Hóa Toàn Thư tr.131).

Bàn Cổ Bangu, cắt nghĩa theo Việt ngữ có Bàn là tảng đá lớn bằng phẳng ví dụ như vững như bàn thạch hay thạch bàn và Cổ ruột thịt với Việt ngữ ‘cồ’ (đực, nọc) là cột, trụ, nọc. Cổ người là cột, trụ để cắm đầu vào thân người. Cổ là trụ, nọc thấy rõ qua Hán Việt cổ là trống. Trống nguyên thủy làm bằng khúc cây (nhiều khi thấy pháp làm từ cây bị sét đánh cho được linh thiêng). Vì trống làm từ cây, cọc nên có một nghĩa chống (gậy chống đỡ), là trống (đực).

Bàn cổ là trụ thạch, trụ đá cắm trên tảng đá bằng. Nhìn theo diện nòng nọc (âm dương) chính là linga-yoni của Ấn giáo. Vì thế mà Bàn Cổ trong tay cầm trứng hỗn mang âm dương, đĩa thái cực là vậy.

clip_image018Bàn Cổ cầm đĩa thái cực .

Nhìn dưới diện đất thế gian thì Bàn Cổ là Trụ cắm trên đế bằng tức chữ Thổ trên giáp cốt, là ông Trụ Chống Trời, ông Núi Trụ Thế Gian, biểu tượng ông tổ cõi đất thế gian.

.Các tháp trụ trong các tôn giáo.

Trong nhiều nền văn hóa các tháp trụ tròn hay vuông (dạng nhìn theo đất vuông) cũng có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng Đất.

Ví dụ:

-Người Champa thờ Ấn giáo ngành Shiva nên có loại tháp mang hình ảnh linga, có một khuôn mặt biểu tượng cho trục thế giới, núi trụ thế gian, tượng đất. Theo sh = k, ta có Shi(va) = Ki (cây, cọc), Kì, Kì Dương Vương, Vua cõi Đất thế gian.

c. Tượng Nước.

Nhìn chung, các nọc que biểu tượng cực âm nói trên có thể có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng nước của khâu nọc que.

Ngoài ra cũng thấy nọc que biểu tượng riêng rẽ cho nước dương.

Ví dụ:

– Nọc que mang âm tính Chử Đồng Tử.

Việt Nam có truyền thuyết Chử Đồng Tử con một người thuyền chài nghèo Chử Vy Vân ở làng Chử Xá lấy công chúa Tiên Dung, con gái Hùng vương đời thứ 3.

Hán Việt Chử nghĩa là bãi sông, chầy để giã… Trước hết hãy hiểu theo nghĩa Chử là bãi sông. Chử ruột thịt với cừ (với h câm Chử = cừ) là cọc, nọc đóng ở bờ nước. Đóng cừ là đóng kè (về sau đổ đá cũng gọi là kè đá). Cây cọc, nọc cắm ở bờ nước để cột thuyền sau trở thành bến thuyền tầu nên ta có Anh ngữ quay (phát âm là /ki/) = Anh ngữ key (phát âm là /ki/) = quai (Pháp ngữ phát âm là /ke/) = kè, cừ = bến, chỗ tầu đậu.

Vùng biển Caribe gọi là cay, caya (cũng vẫn phát âm là /ki/), chỉ cù lao, hòn đảo nhỏ, bến nước như Key West, Coco cay ở Florida chẳng hạn cũng vậy.

Chử Đồng là người con trai sống ở bãi sông. Chử Xá là xã ở bãi sông. Nghĩa này ăn khớp với Chử Đồng người làng Chử Xá và sống ở bãi sông và với bố tên Vân là Mây liên hệ với mưa, nước. Chử Đồng là người con trai, cậu Nõ sống ở bãi sông, một thứ cừ, ‘cọc nước’.

Nghĩa thứ hai Chử là chầy để giã. Chầy là biểu tượng cho dương, đực, nọc đối ứng với cối, âm, nữ, nòng. Với h câm chầy = cầy (nguyên thủy là khúc cây nhọn xới đất) = cây. Với nghĩa là chầy, cây này, Chử Đồng Tử cũng có nghĩa là cây, gậy, nõ. Tóm lại nguyên nghĩa chính của Chử Đồng Tử là cậu con trai, cậu nõ sống ở bãi sông thuộc tộc Long nhân, Giao nhân, Người-Nước đại tộc Lang Lạc, Lạc Việt ngành Lạc Long Quân.

Còn Tiên Dung với Dung biến âm với Dong (bao dung = bao dong) là bao, bọc. Lá dong là lá dùng bao bọc, gói bánh chưng. Bao, bọc là nang, nòng, nường, O. Bao, bọc, nòng biểu tượng cho bầu vũ trụ, bầu không gian, bầu trời. Tiên Dung con Hùng Vương thứ 3. Số 3 là số Đoài vũ trụ khí gió nên Dung là nòng O mang dương tính tức không gian dương ngành âm tức gió âm Tốn, một khuôn mặt Tốn của Âu Cơ. Tiên Dung dòng

Nòng O thái dương.  Tóm lại nguyên nghĩa chính của Tiên Dung là nàng con gái, O Nường thuộc đại tộc Lang Lửa, Lang Việt ngành Tiên Âu Cơ.

Như vậy tổng quát hiểu theo tận cội nguồn thì Chử Đồng Tử là Cọc, Nõ mang âm tính dòng Nước, một thứ Nọc Que và Tiên Dung là Nường, Nàng, Nang mang dương tính dòng Lửa, một thứ Nòng O.

Đối chiếu với dịch thì Chử Đồng Tử ngành Lạc Long Quân có dòng máu Chấn và Tiên Dung ngành Âu Cơ có dòng máu Tốn. Chấn và Tốn giao phối với nhau thấy trong Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy Sử Truyền Thuyết Việt.

clip_image020Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy Sử Truyền Thuyết Việt.

(Việt Dịch: Việt Dịch Sử Truyền Thuyết).

Vì vậy mà hai ‘nõ Chử nường Dung’ là do “duyên trời định” giao hòa với nhau mới có Đầm Dạ Trạch.

Trong truyện có yếu tố chính là cây gậy và cái nón thần do một vị sư (đúng hơn phải là một vị đạo sĩ của Đạo giáo) cho Chử Đồng Tử. Cây gậy là biểu tượng Nọc Nước Chấn của Chử Đồng Tử và cái nón hình vòm trời có chóp nhọn mang dương tính biểu tượng cho vòm trời dương Nòng Gió Tốn Tiên Dung. Cho nên ‘Một hôm đi đến giữa đường, nơi hoang vu, trời đã tối, hai người phải ngủ lại. Họ cắm cây gậy và úp cái nón lá lên. Đến canh ba, thành quách, đền đài… bỗng dựng lên … Hùng vương nghe tin cho là con gái mình làm loạn mới phát binh đi đánh… Quan quân kéo đến đóng ở bãi Tự Nhiên chỉ cách thành quách của Tiên Dung-Chử Đồng một con sông. Chừng nửa đêm trời bỗng nổi cơn dông gió lớn nhổ thành quách của hai người bay lên trời, làm quan quân đại loạn, đất chỗ ấy sập xuống thành một cái đầm gọi là Nhất Dạ Trạch (Đầm Một Đêm)… nay ở Phủ Khoái Châu, Hưng Yên (Lĩnh Nam chích quái).

-Nước chuyển động rơi từ trời xuống (mưa).

.Linh tự Mưa của Ai Cập.

clip_image022Linh tự Mưa Ai Cập cổ.

Linh tự vòm trời hình nắp thạp có góc cạnh và hai nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) ở hai đầu mang tính thái dương (trong khi vòm trời cong mang âm tính).

clip_image024

Các nọc que thẳng đứng biểu tượng cho nước mưa rơi từ vòm trời xuống mang tính chuyển động, dương tính.

.Hình Mưa khắc trên đá của thổ dân Mỹ châu.

Tương tự, hình ngữ Mưa khắc trên đá của thổ dân Mỹ châu ở Tây Nam Hoa Kỳ cũng vậy.

clip_image025Hình mưa khắc trên đá của thổ dân Tây Nam Hoa Kỳ (Rick Harris Easy Field Guide To Rock Art Symbols of Southwest, 1995).

Mưa diễn tả bằng mây hình hai thùy (hình chữ M viết tròn) hình vòm dính vào nhau do hai nòng OO dính nhau mở ra. Ba nọc que đứng diễn tả giọt nước rơi xuống từ mây.

.Chữ Mưa yù (vũ) trên giáp cốt, cổ văn, triện văn.

Các chữ Mưa yù (vũ) trên giáp cốt, cổ văn, triện văn cũng có hình nọc que thẳng đứng diễn tả giọt nước chuyển động rơi từ trời xuống.

clip_image027(nguồn: Wang Hongyuan).

d. Tượng Gió

1.Nọc que giữ nguyên dạng.

Nọc que có thể giữ nguyên dạng hình nọc que và chỉ có thêm các yếu tố mang âm tính ví dụ như có đầu bằng như chữ i hoa (I) có một khuôn mặt diễn tả nọc âm, thiếu âm khí gió, không gian, bầu vũ trụ, bầu trời dương (dương của âm là thiếu âm, nguyên thể của khí gió). Một chuỗi nọc que bằng đầu I này tạo thành hình thanh thang hay thanh ngang đường rầy có đầu bằng IIIII… mang âm tính, hiện nay gọi lầm là hình răng lược (răng lược có một đầu nhọn). Ví dụ:

Thường thấy nhất trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn (xem dưới).

2. Nọc que biến dạng mang tính thiếu âm.

Để khỏi lầm lẫn với nọc que mang tính dương của phía nọc que dương như lửa thái dương Càn, lửa thiếu dương đất Li, nọc que mang tính biểu tượng thiếu âm khí gió nhiều khi âm hóa dưới dạng nghiêng gió tạt, cong hình vòm cung, hình vung như bầu vũ trụ, bầu trời… Khôn dương tức thiếu âm khí gió.

Ví dụ:

-Cánh djeneh Ai Cập.

clip_image029Cánh chim thông thường diễn tả khí gió, bầu trời, không gian và các vị thần liên hệ.

Cánh djeneh Ai Cập cổ nhìn theo vũ trụ quan diễn tả thượng thế (heaven) là cánh chim ưng vĩ đại (great falcon) của thần Horus có hình chim ưng. Từ Triều Đại V, hình mặt trời đĩa tròn để ở giữa hai cánh chim là biểu tượng của thần mặt trời Re (như đã biết Re là thần mặt trời sinh tạo mang âm tính phía nòng âm, không gian, vũ trụ âm trong khi Ra ngược lại. E mang âm tính, A mang dương tính).

Tính âm này thấy rõ qua sự kiện cánh chim cũng thấy đi với các thần nữ như Isis và Nephthys với nghĩa bao bọc, che chở, sinh tạo trong việc thờ phượng tang ma (funerary cult). Xin nhắc lại Isis có một khuôn mặt chim như Tiên Âu Cơ, tức có một khuôn mặt Tốn, gió âm. Nephthys và Isis là chị em song sinh vì thế có chung cánh chim này.

-Con mắt wedjat.

Mắt là biểu tượng của mặt trời. Trời có mắt. Việt ngữ mắt có nghĩa là sáng. Người có mắt là người sáng, người mù là người tối. Người đui (mù) là người tối thui (theo đ = th như đùng đùng = thùng thùng, ta có đui = thui), Mắt biến âm mẹ con với mặt, vật sáng (mặt trời, mặt trăng, mặt gương…). Trời, chời biến âm mẹ con với chói (sáng). Mặt trời là mặt sáng chói (trong khi mặt trăng là mặt sáng trắng). Vì thế từ nòng nọc vòng tròn-que chấm vòng tròn clip_image031 có nghĩa là mặt trời sinh tạo và cũng có nghĩa là mắt (xem từ chấm-vòng tròn).


clip_image032
Con mắt Wedjat (Uchat).

Giải tự con mắt wedjat này ta có tròng mầu và tròng trắng là biến dạng của từ chấm-vòng tròn clip_image031[1]. Nhìn theo duy dương là mặt trời tạo hóa nhất thể Ra. Nhìn dưới diện theo nòng nọc (âm dương) đề huề là vũ trụ, thái cực, lưỡng nghi (nhìn chung). Phần còn lại quanh con mắt diễn tả tứ tượng: lông mày cong biểu tượng cho vòm trời, gió (lông mày cũng có thể coi như một thứ bờm biểu tượng cho gió), nọc trụ có mấu hay hình chấm nọc biểu tượng cho Lửa vũ trụ, chữ hình móc câu đầu xoắn biểu tượng cho Nước và nọc nằm ngang đuôi con mắt biểu tượng cho đất bằng.

Con mắt Utchat có một khuôn mặt là mắt vũ trụ, tạo hóa, con mắt nhìn thấy bốn phương, thấy tất cả, con mắt thần, con mắt phán xét, con mắt bảo vệ sinh mạng… vì thế ở các thuyền phán xét linh hồn trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I và các trống họ hàng có những chiếc trống Cây Vũ Trụ, Cây Đời Sống dùng trong việc định giá linh hồn có hình con mắt biến dạng hình lục giác. Trong các tôn giáo khác như Cao Đài có con mắt “Thiên Lý Nhỡn”…
. . . . . .

Ở đây lông mày là hình ảnh nọc que âm hóa mang tính thiếu âm gió thành nọc cong hình luồng gió.

-Nọc que hình ống

Nọc cũng biểu tượng cho gió dương, dông gió, thường thấy dưới dạng hình ống tức nọc tròn (như ống thổi lửa), hình dóng như dùi trống. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, ông Dóng là vị anh hùng văn hóa hay ông Thần Sấm Dông của chúng ta liên hệ với trống đồng (xem chương Ý Nghĩa Của Trống Đồng).

-Nọc cong có các yếu tố bổ nghĩa gió.

Đôi khi được diễn tả bằng hình nọc cong mang âm tính thiếu âm, nguyên thể của khí gió thành hình vòng cung. Ví dụ:

-Cung biểu tượng cho bầu trời, khí gió.

Cung ruột thịt với cong là do cây nọc que bẻ cong xuống mang âm tính có một khuôn mặt biểu tượng cho bầu trời, khí gió như bầu trời thường diễn tả bằng hình vòm, cung, hình vung, hình nóc ô, dù, hình nón lá.

clip_image033Cây dù Payang diễn tả cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) của Người Ngaju, Dayak, Borneo, một thứ Lạc Việt hải đảo. Vòm dù biểu tượng thượng thế, cõi trời, không gian, khí gió.

Quạt biểu tượng cho gió. Theo biến âm qu = v (quấn = vấn), ta có quạt = vạt. Ở Hà Đông có làng Vạt, Vát chuyên làm quạt. Ta cũng có quạt = vạt = Phạn ngữ vâta, gió, Vatu, thần gió. Theo v=m như váng = màng, ta có vat, quạt = vâta (gió) = mát. Quạt tạo ra gió, ra mát. ‘Mát mặt anh hùng khi tắt gió’, (Hồ Xuân Hương, Vịnh Cái Quạt)… Việt Nam có cái quạt mo. Mo là bao bọc như mo nang là bao, bọc hoa cau. Bao bọc diễn tả túi, bao, bầu vũ trụ, bầu trời, bầu không gian, khí gió. Vì thế mà quạt mo có hình vòm, hình bán cầu hay hình tròn diễn tả bầu trời, bầu không gian khí gió.

clip_image035Làm quạt mo (nguồn: giacngo.vn).

Ta cũng thấy hình bóng quạt mo qua hình ngữ quạt, bóng mát của Ai Cập có hình vòm trời.

clip_image037

Chiếc nón lá của Việt Nam như đã nói ở trên diễn tả vòm trời mang dương tính khí gió. Ở phái nam (như nón của quan, quân) là gió dương Đoài vũ trụ khí gió thường chỏm nhọn phân biệt rõ hoặc có thêm nọc nhọn hay lông gà sống để nhấn mạnh thêm, xác thực tính dương.

clip_image039Nón phái nam: nón dấu lông gà (nguồn: slideshare.net).

Trong khi ở phái nữ chóp ít nhọn hơn là gió âm Tốn).

clip_image041Nón lá phái nữ: tranh ‘collage’ 30-4-1975 làm từ chiếc nón lá của thân mẫu tác giả đã đội khi vượt biển tới Hoa Kỳ lúc hơn 75 tuổi.

Thần bầu trời Sumer có biểu tượng bằng cây cung.

clip_image042Thần bầu trời Sumer

Lưu ý thần chỉ cầm cung cong ở tay trái, âm mang âm tính không cầm mũi tên mang dương tính (không ở dạng nòng nọc, âm dương giao hòa) có chủ ý chỉ diễn tả nọc que cong biểu tượng bầu trời, khí gió.

3. Nhiều khi có thêm các yếu tố chỉ gió.

-Lông chim biểu tượng của thấn Gió Shu Ai Cập.

Thần gió Shu Ai Cập có biểu tượng là chiếc lông chim.

clip_image044Lông chim biểu tượng cho Không Khí Shu.

(Alberto Carlo Carpiceci, Art and History of Egypt, Casa Editrice Bonechi, Florence Italy, 1989).

Ta thấy rõ phần chính của lông chim là phần nọc cứng hình nọc que có đầu cong lại mang âm tính thiếu âm gió.

Nọc que ở đây âm hóa thành nọc que thiếu âm gió.

-Bờm chim

Bờm có nghĩa liên hệ với gió. Thằng Bờm là thằng Gió, con cháu Hùng Vương có mạng bầu trời, khí gió. Thằng Bờm có cái quạt mo. Như đã nói ở trên, quạt mo diễn tả bầu trời ruột thịt với gió.

Bờm biến âm với buồm, vật dùng sức gió đẩy thuyền đi, với bướm. Bươm bướm là con bay liệng, Anh ngữ là butterfly (con bay người có phấn nhờn như bơ)…

Rõ như ban ngày Thằng Bờm là Thằng Gió có cái quạt mo ruột thịt với quạt, với mo, với gió là con cháu Hùng Vương có một khuôn mặt thần bầu trời, khí gió sinh ra từ bọc trứng vũ trụ (xem Thằng Bờm Có Cái Quạt Mo).

Nhưng ví dụ thấy rõ nhất là chữ gió hình bờm trong hình thái tứ tượng ở các khoảng không gian giữa tia sáng mặt trời thấy trên nhiều trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn như trống Ngọc Lũ I mà hiện nay hiểu lầm là ‘họa tiết lông công’.

 clip_image002[4]

Chữ hình bờm chim biểu tượng cho gió trong hình thái tứ tượng ở khoảng giữa các tia sáng mặt trời trên trống đồng nòng nọc, âm dương Ngọc Lũ I (hiện nay gọi sai là ‘họa tiết lông công’).

(xem dưới).

e. Tam Thế,

Nọc que biểu tượng cho Ba Cõi Tam Thế như thấy rõ qua loại linga jatalinga chia tầng diễn tả tam thế.

clip_image051Một linga jatalinga phân ra làm ba tầng ứng với tam thế ở thánh địa Mỹ Sơn Việt Nam (ảnh của tác giả).

Phần trên qui đầu (đầu rùa) biểu tượng thượng thế, cõi trên của ngành Shiva, phần giữa là trung thế và phần đế là hạ thế. Toàn thân có một khuôn mặt là trục vũ trụ, trục thế giới. Khuôn mặt trục thế giới thấy rõ ở những linga có thân cường điệu (xem dưới). Linga phân chia ba tầng này ứng với tháp Champa hình linga phân chia ba tầng.

f. Trục Thế Giới.

Trong nhiều trường hợp trục thế giới được diễn tả bằng hình trụ nọc que đi xuyên qua Ba Cõi.

Ví dụ:

-Những trụ nọc đâm trâu (của các sắc tộc ở Việt Nam) để tế vũ trụ mang hình ảnh nọc trụ que, Trục Thế Giới.

-Trụ hiến tế người ở các đền miếu thờ (marea) của các tộc ở Đa Đảo.

clip_image053Nọc trụ đá dùng hiến tế người ở đền Taputapuatea ở đảo Raitea trong nhóm Đa Đảo Thuộc Pháp (French Polynesia) (ảnh của tác giả).

-Nọc que nõ linga loại jatalinga như đã nói ở trên phân ra làm ba tầng ứng với tam thế có một khuôn mặt mang hình ảnh Trục Thế Giới. Rõ nhất khi linga loại này có thân rất cường điệu như nọc linga ở Viện Bảo Tàng Bangkok đã biết.

-Tháp Trục Thế Giới

Vì tháp nguyên thủy là một ngôi mộ nên tháp phải có Trục Thế Giới để hồn người chết đi về ba cõi nhất là cõi trên Thượng Thế. Tháp Phật vì vậy phải có một khuôn mặt là Trục Thế Giới.

Đức Phật cũng được tôn thờ như một trụ lửa biểu tượng cho Trục Thế Giới, Trục Vũ Trụ.

clip_image055Tôn thờ Phật như một trụ lửa biểu tượng cho Trục Thế Giới, Trục Vũ Trụ (Gummadhidurru, thế kỷ thứ 3, Ấn-Độ, Archaeological Survey of India, New Dhelhi), (ảnh của tác giả chụp tại Bảo Tàng Viện Văn Minh Á Châu Singapore).

Đây là tảng đá ở chân Đại Tháp ở Amaravati, Ấn-Độ có hình cầu tròn đã nói ở trên. Trên đỉnh trụ lửa có hình Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng). Dưới chân trụ có hình dấu chân Phật ở chỗ gác chân trước chiếc ngai trống biểu tượng cho sự có mặt của Phật. Trên ngai có hai chiếc gối biểu tượng cho nòng nọc, âm dương, có hai chữ vạn chuyển động biểu tượng cho tứ hành nòng nọc, âm dương ứng với bát tượng vận hành, bát quái.

Như thế tháp có hình cầu tròn mang biểu tượng cho hư vô, có thêm chỏm nọc nhọn mang nghĩa thái cực, lưỡng nghi, có gối tứ tượng, có Tam Bảo ứng với ba cõi Phật, có trụ lửa Trục Thế Giới nghĩa là tháp mang trọn vẹn ý nghĩa của Vũ Trụ Tạo Sinh Vũ Trụ giáo.

Bên cạnh có hình hai con hươu biểu tượng cho buổi thuyết pháp đầu tiên ở vườn Lộc Uyển. Xung quanh có các tín hữu Phật giáo.

Tháp biểu tượng cho Trục Thế Giới có thể có hình trụ tròn, hình trụ vuông hay hình kim tự tháp. Tháp Bút ở chùa Bút Tháp (Ninh Phúc), Bắc Ninh; Tháp Phong Hòa hình trụ vuông ở có một khuôn mặt Trục Thế Giới mang tính chủ.

-Như đã biết Kì Dương Vương có một khuôn mặt là Núi Trụ Thế Gian nên có một khuôn mặt là trục thế giới, trục “xa lộ” nối liền ba cõi tam thế. Cũng vì thế mà “Kì Dương Vương có nhiều phép lạ, có thể đi lại trên trời và dưới nước được”, cũng vì “có tài đi dưới thủy phủ“nên Kì Dương Vương xuống cõi nước lấy nàng Long Nữ (Lĩnh Nam Chích Quái).

.Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống).

Nọc que có một khuôn mặt là thân cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) nên có một khuôn mặt là Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) ở dạng nọc que tầng lưỡng nghi.

Nhà của thổ dân Haida, ở Alaska Tây Bắc Hoa Kỳ có cột trụ chính của nhà là  Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống).

clip_image044

Cấu trúc một căn nhà Haida cho thấy các tầng vũ trụ, tam thế (theo Nabokov và Easton).

Trụ chính giữa nhà là Cây Vũ TrụTrên là cõi Trời, Thượng Thế, nền nhà là Trung Thế với bốn hướng ứng với tứ tượng và đầu dưới, rễ Cây Vũ Trụ là cõi âm, Hạ Thế.

Ngoài ra các tộc này cũng dùng trụ thờ totem để chôn các nhân vật quan trọng như tù trưởng, pháp sư. Các trụ này khoét rỗng phía sau để xác vào. Loại totem này coi như là quan tài cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) để hồn người chết được trở về cõi hằng cửu hay tái sinh [con người sinh ra từ cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống như Dạ Dần sinh ra Mường Việt ) khi chết lại trở về cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống)].

Trường hợp này giống các tộc Mường và Tây Nguyên chôn người trong các quan tài thân cây khoét rỗng.

Trụ diễn tả cây vũ trụ có khi là trụ tròn hay trụ vuông. Ví dụ các trụ tháp tròn hay vuông trong tôn giáo như Ấn Độ giáo, Phật giáo nhiểu khi diễn tả cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) (Ý Nghĩa Tháp Chùa).

-Trụ Pháp Ashoka

Ashoka (A Dục) (269-232 TTL), vị vua thuộc triều đại Mauryan. Vua Ashoka đã cho dựng rất nhiều trụ tháp và hàng ngàn tháp Phật (stupa) ở nơi Phật tích, tu viện Phật giáo, địa điểm hành hương và những nơi ông thăm viếng, trong đó có Varnath. Trụ Pháp Ashoka ở Varnath được dựng lên để đánh dấu sự viếng thăm Sarnath của vua Ashoka vào thế kỹ thứ 3 TTL. Theo Phật giáo, trụ tháp là biểu tượng của Trục Vũ Trụ và là trục mỗi ngày mọc lên từ hồ huyền thoại Anavatapta (theo vũ trụ luận của Phật giáo thì hồ là trung tâm của vũ trụ) cho tới khi đụng tới mặt trời. Ta thấy rõ đây là Trục Vũ Trụ trong Vũ Trụ giáo.

Trụ Pháp gồm có ba phần:

clip_image056Đầu trụ Pháp Ashoka ở Sarnath (250 TTL) hiện trưng bầy ở Bảo Tàng Viện Sarnath(wikipedia).

Phần thứ nhất dưới cùng hình hoa sen, biểu tượng phổ quát của Phật giáo. Hoa sen mọc dương nước cũng biểu tượng cõi nước.

Phần hình trống ở giữa có khắc bốn con thú biểu tượng cho bốn phương trời: ngựa (hướng Tây, bò (Đông), voi (Nam) và sư tử (Bắc). Bốn con sư tử ở trên trống, mỗi con quay về một hướng. Miệng há to đang gầm rống như đang truyền pháp, truyền Tứ Diệu Đế đi ra khắp bốn phương. Sư tử biểu tượng cho Phật, ngày xưa tộc Shakyamuni (Thích Ca Mâu Ni) là một chi của tộc Shakya có nghĩa là Sư Tử (vì thế mà ở cửa chùa nhất là chùa Phật Tổ Cồ Đàm thường để tượng sư tử).
Nguyên thủy bánh Xe Pháp để trên đầu bốn con sư tử, ở đây để ở dưới.

Dấu tích trụ tháp chính gốc còn giữ lại được Bánh Xe Pháp ở trên đầu sư tử thấy qua hình tháp làm phỏng theo của vua Mangrai dựng ở chùa U Mong gần Chiêng Mai, Thái Lan.

clip_image057Trụ Pháp ở Chiangmai, Thái Lan (Wikipedia).

Nhìn theo Vũ Trụ giáo, trụ có ba phần. Phần trên cùng là Bánh Xe Pháp hình mặt trời nằm trong không gian, nhìn theo nòng nọc, âm dương nhất thể ứng với thái cực và nhìn theo nòng nọc, âm dương phân cực riêng rẽ ứng với lưỡng nghi diễn tả vũ trụ, tạo hóa ứng với Thượng Thế. Phần chỏm tháp có hình sư tử có bờm biểu tượng cõi trời thế gian, vành bệ tròn hình trống (có khi vuông) với bốn tượng thú ở bốn hướng ứng với tứ tượng biểu tượng cho cõi đất thế gian và phần hình bầu có hình cánh hoa sen biểu tượng cho cõi nước thế gian. Đây là ba tiểu thế của Trung Thế. Đế trụ ứng là cõi âm Hạ Thế và thân trụ là Trục Thế Giới.

Nhìn tổng thể trụ Ashoka có một khuôn mặt Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống).

Trụ Ashoka đã có từ lâu trước thời Ashoka nên không phải do ông sáng tạo ra mà chỉ biến đổi đi cho thích ứng với Phật giáo. Chúng có lẽ đã chịu ảnh hưởng của các cây trụ Achaemenid Persia (Wikipedia). Ngoài ra nhiều biểu tượng và thực hành của Phật giáo phát xuất từ kinh Vệ Đà (kiến thức bằng Phạn ngữ bao gồm những thi ca, kinh cầu nguyện và các công thức lễ chế của văn bản thiêng liêng Ấn Độ) (Karen Shellby).

Phật giáo cũng như các tôn giáo lớn khác là di duệ của vũ trụ giáo

Như thế trụ Ashoka rõ ràng mang ý nghĩa của Vũ Trụ Tạo Sinh của Vũ Trụ giáo (Ý Nghĩa Tháp Chùa).

-Chùa Nhất Trụ Ninh Bình.

Việt Nam ở Ninh Bình có Chùa Nhất Trụ còn gọi là Chùa Một Cột xây vào thế kỷ X thuộc di tích Cố Đô Hoa Lư. Đặc biệt nhất là trước sân chùa có cây cột bằng đá khắc kinh Lăng Nghiêm.

clip_image059Cột kinh Lăng Nghiêm (nguồn: vtc.vn).

Cột chia ra làm ba phần ứng với tam thế.

1. Thượng Thế

Thượng Thế là phần trên cùng chia ra ba tiểu thế:

Phần chóp hình bầu nậm nòng nọc (âm dương) diễn tả cõi tạo hóa, cõi trên của thượng thế.

Phần giữa hình giống như chiếc trống hình núi trụ có chóp tròn biểu tượng cho cõi đất, cõi giữa của thượng thế. Phần dưới cùng hình hoa sen có 8 đỉnh nhọn. Hoa sen là loài hoa mọc dưới nước biểu tượng cho cõi nước. Với tám đỉnh nhọn diễn tả 8 cánh chính. Số 8 là số Khôn tầng 2 (0, 8) cho biết hoa sen nước ở cõi tạo hóa Khôn-Càn. Nói một cách khác là hoa sen này diễn tả cõi nước tạo hóa ở thượng thế.

1. Trung Thế

Thân trụ nọc diễn tả trung thế, cõi đất thế gian.

Trung thế chia ra làm ba tiểu thế, ba cõi. Phần chóp tròn hình vòm, vung diễn tả cõi trời thế gian. Thân cột diễn tả cõi đất thế gian. Phần tròn dưới cùng có hình hoa sen diễn tả cõi nước thế gian.

3. Hạ thế

Phần đế cột là tảng đá vuông biểu tượng hạ thế.

Kiến trúc cột là một dạng giống kiến trúc đèn đá cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) mà tôi đã mổ xẻ rõ trong bài Cơ Thể Học Trống Đồng.

image

Cấu trúc đèn đá cây vũ trụ và trống Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I).

Rõ như ban ngày cột trụ kinh có một khuôn mặt cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống).

Cột kinh hoa nghiêm ruột thịt với các trụ tháp Asoka. Vì vậy, dĩ nhiên cột này cũng có thể giải thích dưới lăng kính Phật giáo như đế vuông diễn tả tứ diệu đế, tám mặt diễn tả bát chánh đạo, hoa sen biểu tượng của Phật giáo… (sẽ có bài viết riêng chi tiết về Chùa Nhất Trụ này).

Chùa Một Cột ở Hà Nội được cho là có hình hoa sen mọc lên từ hồ nước cũng có một khuôn mặt diễn tả cây vũ trụ dưới một dạng biến đổi đi, gần cận hơn với cây đèn đá cây vũ trụ.

Ngoài ra ở Việt Nam có những tháp bút hay tháp trụ vuông trong chôn các vị cao tăng ở sân chùa. Các tháp này một dạng tháp Phật stupa có một khuôn mặt là cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống).

-Tháp Champa hình linga

Các tháp có hình dương vật diễn tả khuôn mặt biểu tượng của thần Shiva có thể chỉ diễn tả một khuôn mặt ở một khía cạnh đơn thuần của thần Shiva nhưng vài khi cũng diễn tả trọn vẹn cả thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh của Vũ Trụ giáo trong đó có một khuôn mặt cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) của ngành nọc, dương (xem Ý Nghĩa Tháp Champa và Vũ Trụ Giáo).

Ví dụ tháp có dạng giống linga gần như thật như Tháp Bằng An, Điện Bàn, Quảng Nam.

clip_image062Tháp Bằng An, Điện Bàn, Quảng Nam (nguồn vi.wikipedia).

Cũng dễ hiểu vì như đã biết linga có một khuôn mặt của Núi Trụ Chống Trời, Núi Trụ Thế Gian tức Núi Meru Shiva. Núi Meru trong Ấn Độ giáo và Phật giáo có một khuôn mặt cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống).

-Trụ Djinn của Nabataea, Petra, Jordan.

Nền văn hóa thuần gốc Nabataea kéo dài từ 60 TDL tới 200 SDL. Tín ngưỡng đặc biệt đầy huyền bí theo đa thần vật rồi chuyển qua vũ trụ giáo là người Nabataea là thờ các Trụ Đá và Thần Đá Tảng (baetyl, god blocks).

Ví dụ trên đường dẫn vào Khe Vực Petra có ba khối đá tạc đứng sừng sững như tháp trụ, được gọi tên là Trụ Đá Djinn, Trụ Đá Thờ Vong Hồn và được coi là rất linh thiêng (có khoảng 40 trụ Djinn ở Petra).

clip_image063Trụ vuông Djinn thờ vong hồn (ảnh của tác giả).

Trụ Djinn. Tiếng Ả Rập Djinn là vong hồn, hồn ma, thần linh, Anh ngữ jinx, bị dớp, bị huông, bị vía, bị ám, vật mang lại điều xấu, xui xẻo. Việt ngữ vía là một thứ hồn (hồn vía) nhưng có khi mang ý nghĩa hồn xấu, âm hồn. Phải vía là bị hồn xấu ám vì thế có tục đốt vía.

Ta phải hiểu trụ Djinn dùng chôn người chết là một thứ mộ tháp giống như mộ tháp stupa của Phật giáo. Stupa vốn nghĩa là mộ, mả. Trụ thờ vuông Djinn giống như những tháp stupa hình trụ vuông trong chôn các vị cao tăng ở sân chùa như đã nói ở trên, mang hình ảnh cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống), Núi Trụ thế gian trong có trục thế giới dùng làm mồ chôn người chết, giúp hồn người chết có đường lên cõi trên để được tái sinh, sống hằng cửu.

Ta thấy rõ Trụ Djinn trong có chôn người chết mang hình ảnh của một tháp Phật, tháp Champa trụ vuông cũng mang hình ảnh cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống).

(xem Nabataea, Petra, Jordan và Vũ Trụ Giáo).

.Sinh Sản, Tái Sinh, Hằng Cửu.

Nọc que có đủ các khuôn mặt từ hư vô tới tam thế, trục thế giới, cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) hiển nhiên theo duy dương nọc que cũng mang tất cả những ý nghĩa sự sống, tái sinh, hằng cửu.

Ví dụ:

-Nọc que có một khuôn mặt là bộ phận sinh dục nam sinh ra loài người ở ngành nọc như thấy qua thần Min-Amen Ai Cập cổ đã nói ở trên. Min là thần sinh dục, mắn sinh có một khuôn mặt là thần sinh sản, sinh tạo phía nọc, nam.

-Nọc que có một khuôn mặt là mặt trời sinh ra muôn vật, muôn sinh ngành nọc. Những người theo đạo mặt trời, thờ lửa cho rằng mặt trời là nguồn gốc của vạn vật, tạo ra sự sống, tàn phá, thiêu hủy gây ra chết chóc và dĩ nhiên cũng tạo ra tái sinh, vĩnh cửu.

-Nọc que có khuôn mặt cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) hiển nhiên biểu tượng cho sinh sản, tái sinh, hằng cửu.

…..

Tóm lược

Ở ngành nọc dương, nọc que mang tất cả ý nghĩa của thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh ở dạng sinh tạo biểu hiện, theo chính thống, thường dùng diễn tả nọc dương ở cõi sinh tạo hóa lưỡng nghi trở xuống.

Phải tìm lấy nghĩa chữ nọc que theo vũ trụ tạo sinh, dịch lý tùy theo bài bản, tùy theo trường hợp. Hiện nay nọc que I chỉ được nhìn theo một vài góc cạnh của vũ trụ tạo sinh với ý nghĩa không đầy đủ.

.Âm Hóa của Nọc Que.

Theo quan niệm ở xã hội phụ quyền cực đoan, có muộn về sau, cho rằng nọc que I có trước nòng O. Nọc que có trước sinh ra nòng O. Nọc que chuyển động cong lại mang âmg tính. Ví dụ điển hình: như đã nói ở trên, hình ngữ đàn ông khắc trên đá của thổ dân Úc là hình nõ nọc que thẳng đứng clip_image065 và hình ngữ đàn bà hình vòm nường, nòng chữ U ngược clip_image066 (dạng nòng âm thái dương của O).

clip_image064Hình khắc trên đá của thổ dân Úc châu: Bốn nhóm người hai phái ở vị trí tứ phương quanh một giếng nước.

Ở phía nọc dương, nọc que I âm hóa cong lại thành U hay U ngược clip_image067 rồi âm hóa cực đại cuộn tròn lại thành O. Ở hình trên, đọc theo chiều dương, nam tức chiều ngược kim đồng hồ ta có theo thứ tự đàn ông-đàn bà clip_image068.

Ngược lại ở phía nòng âm, nòng O dương hóa mở ra thành U rồi dưong hóa cực đại thẳng ra thành I. Ở hình trên đọc theo chiều âm, nữ cùng chiều kim đồng hồ ta có theo thứ tự đàn bà-đàn ông clip_image069.

*Cần lưu tâm

Vì nọc mang trọn nghĩa vũ trụ thuyết nên theo chính thống đùng theo pháp ngữ của chữ nòng nọc vòng tròn-que thì nọc viết phải hiệp theo dương (thái dương, thiếu dương) và âm (thái âm, thiếu âm). Ví dụ nọc thái dương rất mỏng, mảnh khảnh, thẳng, nhọn đầu, nọc thiếu dương mỏng, có phần dưới to (như trụ chống), nọc thái âm to, dầy, đậm, cong, cong lõm có khi đầu cuộn hình móc nước và nọc thiếu âm nét vừa vừa, cong hình vòm, nóc dù, lọng v.v…

DẤU NỌC QUE.

Chữ nọc que cũng được dùng dưới dạng là một dấu (accent) như một chỉ định từ tố (determinative, indicator). Chữ nọc que có một ứng dụng dùng làm dấu với tất cả ý nghĩa của nọc, dương mang tính sinh tạo biểu hiện ở tầng lưỡng nghi. Trong phạm vi thu hẹp lại chỉ còn hiểu theo nghĩa đực cái thì dấu nọc que này tương đương với le trong Pháp ngữ (trong khi dấu nòng O tương ứng với la) (xem Dấu Nòng O).

Như đã biết, chữ và dấu nhiều khi dùng lẫn lộn khó phân biệt. Dấu thường thường nhỏ hơn chữ. Ví dụ các vòm hình củ hành tây thấy trong các kiến trúc tôn giáo như Ấn Độ giáo, Hồi giáo…

clip_image071Vòm củ hành tây và tháp minaret của một đền Hồi giáo.

Vòm có nọc chóp hình que rất nhỏ so với phần bầu vòm. Chỏm nọc que này là một dấu nọc que cho biết vòm mang tính dương, thái dương. Với chức vụ là một dấu thì vòm củ hành tây có nghĩa là bầu mang dương tính, vũ trụ có Vũ dương, Khôn dương, không gian dương, khí gió mang tính trội…

Ngược lại ở các kiến trúc hình quả bầu nậm, chuông có cán úp như đã nói ở trên có phần cổ bầu hình nọc que có độ dài bằng phần bầu tức có nòng nọc (âm dương) đề huề thì nọc que ở đây là một chữ.

Trên trống đồng có rất nhiều nọc que dùng như một dấu đích thực trong nagữ pháp của chữ nòng nọc vòng tròn-que (xem dưới).

Nhiều khi nọc que có thể đọc theo cả hai dạng chữ và dấu.

Dấu nọc que có thể ở dưới dạng hai nọc que, ba hay nhiều nọc que. Tuy nhiên tôi cố công đi khắp nơi truy tìm nhưng chưa thấy nhưng ngược lại thấy nhiều ở trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn (xem dưới).

Kết Luận

Chữ nọc que ở dưới dạng nọc thẳng mang tính sinh tạo bậc hai ở tầng lưỡng nghi. Chữ nọc que mang trọn vẹn nghĩa trong Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, Dịch ở cõi tạo hóa sinh tạo lưỡng nghi.

Chữ nọc que cũng mang nghĩa nọc, đực, dương, lửa, mặt trời, thái dương… mang tính sinh tạo bậc hai ở tầng lưỡng nghi trở xuống. Thường nọc que mang tính biểu hiện, biểu tượng ứng với phần nõ, cọc hiện ra bên ngoài của bộ phận sinh dục nam.

Phải tìm lấy nghĩa chữ nọc que theo vũ trụ tạo sinh, dịch lý tùy theo bài bản, tùy theo trường hợp. Hiện nay nọc que I chỉ được nhìn theo một vài góc cạnh của vũ trụ tạo sinh với ý nghĩa không đầy đủ.

Chữ nọc que cũng có thể dùng làm dấu.

Cần lưu ý tới sự khác biệt thứ bậc mang tính sinh tạo giữa chữ nọc que và nọc chấm đặc nguyên tạo.

Cần phân biệt nọc que ngành dương với nọc que do nòng O ngành âm dương hóa cực đại mở ra.

(Xem tiếp phần 3: Chữ Một Nọc Que Trên Trống Đồng Đông Sơn).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: