CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE: CHỮ NỌC MỘT NỌC QUE (phần 1).

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE

CHỮ NỌC MỘT NỌC QUE.

(Nọc or Rod I letter).

(phần 1).

Nguyễn Xuân Quang.

(*xin xem trước bài viết về Chữ Nòng Một Vòng Tròn).

Như đã biết chữ nòng nọc vòng tròn-que có hai chữ cái căn bản là chữ Nòng vòng tròn O và chữ Nọc que I (xem Chữ Nòng Nọc: Khái Quát).

Nhìn tổng quát chữ nọc có tất cả ý nghĩa và chức vụ của chữ nòng nhưng chỉ khác tính nòng nọc (âm dương) đối ngược lại mà thôi.

Chữ nọc và chữ nòng là hình bóng của nhau qua tấm gương nòng nọc (âm dương).

Vì thế ta có thể suy ra nghĩa của chữ nọc một nọc que I dựa vào nghĩa của chữ nòng một vòng tròn O một cách dễ dàng và không lệch lạc.

Dù ở bất cứ dạng nào (chấm hay que) chữ nọc tổng quát, nói chung cũng có ý nghĩa là nọc, bộ phận sinh dục nam, dương, lửa, mặt trời, thái dương… chỉ có tính sinh tạo khác nhau về nòng nọc, âm dương ở các tầng sinh tạo khác nhau trong qui trình Vũ Trụ Tạo Sinh, dịch của ngành nọc. Chữ nọc một nọc que có tính sinh tạo mang tính chủ ở tầng lưỡng nghi.

Chữ nọc một nọc que trong thời phụ quyền cực đoan về sau nổi trội hơn chữ nòng thuần âm vì lúc đó xã hội mẫu quyền bị lép vế và có thể đã bị đẩy lui vào bóng tối (chữ nòng thuần âm lúc đó được thay thế bằng chữ nòng âm nam đại diện).

Thêm nữa, chữ nọc một nọc que là biểu hiện, tiêu biểu, đại diện cho cả phía nọc nên thấy nhiều hơn là chữ nọc chấm đặc.

Trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn chữ nọc que (và nọc chấm đặc) ngự trị hơn chữ nòng thuần âm, chữ nọc xử dụng nhiều hơn chữ nòng thuần âm bởi vì trống đồng nòng nọc (âm dương) là trống biểu tượng của ngành nọc mặt trời thái dương (trống có một nghĩa là trống, là đực, là dương).

Vì vậy ở đây nói về chữ nọc một nọc que, tôi xin viết ngắn gọn hơn, đi thẳng vào những điểm chính không cần phải lặp lại những điều căn bản đã giải thích.

Lưu ý

Để ngắn gọn tôi dùng nhóm từ chữ nọc que thay cho nhóm từ chữ nọc một nọc que.

Qui Trình Tiến Hóa của Chữ Nọc Que Trong Vũ Trụ Tạo Sinh.

Chữ nòng nọc vòng tròn-que là chữ dùng diễn đạt vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo, dịch vì thế ta dựa vào khung cái sườn đó để nghiên cứu chữ nòng nọc vòng tròn-que.

Như đã nói ở chữ nòng chấm rỗng, vũ trụ khởi đầu từ hư vô và theo lẽ ‘tự nhiên’, luật thiên nhiên thì âm có trước, không gian có trước mặt trời, xã hội mẫu quyền có trước phụ quyền. Theo quan niệm âm có trước này thì hư không, vô cực diễn tả bằng vòng tròn đứt đoạn, định hình lại thành vòng tròn liền kín, vốn trung tính, vô tính rồi cực hóa thành lưỡng tính phái nòng nọc, âm dương. Theo duy âm, hư vô chuyển qua âm trước, qua mầm âm trước, qua bầu không gian trước rồi sau đó mầm dương, hạt dương (nguyên thể của mặt trời) mới xuất hiện sau.

Tuy nhiên, theo duy dương, ở các môn phái, dòng tộc theo duy dương cực đoan, ở xã hội phụ quyền ngự trị thì lại quan niệm dương có trước, mầm dương nguyên tạo, mặt trời nguyên tạo có trước mầm âm, không gian. Ví dụ trong Thiên Chúa giáo, thần tổ loài người sinh ra trước tiên là ông Adam, một người nam có dạng lưỡng tính phái, trong người dương của ông có âm. Vì vậy ông mới sinh ra bà Eva. Ông lấy xương sườn cong mang âm tính của mình tạo ra bà Eva. Rõ ràng dương có trước sinh ra âm sau.

Ở tầng lưỡng nghi nọc chấm đặc nguyên tạo phân sinh vô tính phái tách ra thành hai nọc chấm đặc. Nối lại ta có nọc que.

Như thế chữ nọc có hai dạng tùy theo ở giai đoạn nào của qui trình của Vũ Trụ Tạo Sinh, của qui trình sinh tạo muôn sinh. Ở giai đoạn nguyên tạo, tạo hóa chữ nọc có dạng một chữ nọc tí hon tức một vòng tròn tí hon đặc hay một nọc chấm đặc (.) và ở giai đoạn thứ tạo, trưởng thành có dạng một nọc que (I).

CHỮ NỌC QUE (I).

Theo ký tự, chnọc que được diễn tả ở dạng (I) (tôi dùng chữ i hoa cho tiện đánh chữ).

Chữ nọc que I theo duy dương khi âm hoá cực đại cuộn lại thành chữ nòng vòng tròn O. Ngược lại chữ nòng O dương hóa cực đại mở ra thành nọc que I.

Nọc que trong qui trình vũ trụ tạo sinh dạng trưởng thành, biểu hiện ở vào giai đoạn lưỡng nghi, lưỡng cực biểu tượng cho nọc, đực, dương, cực dương

Tóm gọn lại, vì ở tầng lưỡng nghi có một nghĩa biểu tượng cho cực dương nên nọc que mang tính cách tiêu biểu, đại diện chung cho phía nọc dương (cho tất cả các dạng chữ nọc). Đây là lý do tôi gọi là hệ thống chữ nòng nọc vòng tròn-que (chứ không gọi là hệ thống chữ nòng nọc chấm đặc và chấm rỗng). Tổng quát khi nói chữ nọc que là ám chỉ chữ nọc trưởng thành mang tính sinh tạo vũ trụ ở tầng lưỡng nghi đối ứng với chữ nòng vòng tròn.

Ý Nghĩa Chữ Nọc Que.

Bây giờ ta hãy nhìn chữ nọc que dưới lăng kính vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo.

Hư Vô, Vô Cực.

Như đã biết, hư vô là một bọc, bao, túi, lỗ trống không, trong mặt bằng được diễn tả bằng một vòng tròn. Khi còn ở trạng thái hỗn mang là vòng tròn đứt đoạn và khi đã định hình là vòng tròn liền, kín.

Theo nguyên lý thì hư vô trung tính. Nhưng theo tiến hóa thì hư vô đã hàm chứa tính sinh. Mọi thứ đều từ hư vô sinh ra và trở về lại hư vô. Hư vô là điểm trục (con số zero) của hiện hữu, sống (nọc, dương) và vô hữu, chết (nòng, âm).

Theo duy âm, hư vô trung tính tiến hóa tới nòng âm trước, không gian trước, biển vũ trụ trước.

Theo duy dương (thường ở tôn giáo hay xã hội phụ quyền cực đoan) hư vô chuyển qua vòng tròn dương hay nọc chấm đặc trước, mặt trời trước. Dưới dạng cực đoan nhất, hư vô chuyển qua nọc que, mặt trời số 1 hình nọc que trước sau đó mới sinh ra nòng âm, không gian. ‘Vòng tròn thường tiêu biểu cho vô cực. Không đầu hay đuôi, không cạnh hay góc, vòng tròn cũng liên hợp với số một’(‘Circles commonly represent infinity. Without beginning or end, without sides or corners, the circle is also associated with the number one) (.http://altreligion.about.com/od/symbols/ig/Geometric-Shapes/Circles.htm).

Như thế theo duy dương cực đại hư vô hàm tính sinh tạo dương trội chuyển qua nọc que. Điểm này thấy rõ ở các vị thần nam sinh tạo, tạo hóa, mắn sinh phía nọc, dương, nam.

Ví dụ:

-Ai Cập .

Nam thần Min của Ai Cập cổ là thần tạo hóa, sinh tạo, mắn sinh, thần sinh ra tất cả các vị thần khác và loài người. Nam Thần Tình Dục, Mắn Sinh Min-Amon có dương vật đang cương cứng mang tính cường dương.

clip_image001

clip_image002Tác giả đứng trước trụ cột có khắc Nam Thần Tình Dục, Mắn Sinh Min-Amon, ở Karnak, Luxor, Ai Cập.

Thần chỉ có nửa người bên phải (dương), tay phải thần là tay dương đưa lên trời, hướng dương và trên có cây néo (flail) hình chữ nọc mũi mác, mũi tên cũng mang tính nọc dương, thái dương sinh động. Tất cả nhấn mạnh tính nọc, dương, nam, thái dương, mặt trời diễn tả thuần dương.

Vì là thần tạo hóa, mắn sinh Min có một khuôn mặt hư vô, thái cực, mặt trời cực dương hàm tính dương sinh tạo khâu nọc, dương.

Việt Nam

Việt Nam có một thứ cây nêu gọi là que bông. Que bông là một cây nõ nhọn một đầu, một đầu chuốt còn để lại vỏ dăm bào tua tủa, xoắn tít, rũ xuống, xù ra. Ở vài vùng, nhất là ở một số sắc tộc, nông dân đem cắm  que bông ngoài ruộng đồng để cầu được mùa. Khi dựng nhà treo trên cột cái để cầu xin che chở, phù hộ,  nhà xây xong ở được hạnh phúc, ăn nên làm ra. Ví dụ tiêu biểu là sào cà của ông Dóng. Theo truyền thuyết thì ông Dóng Phù Đổng Thiên Vương thích ăn cà. Ông Dóng sinh ra cứ nằm dài trên chõng đá, không biết nói cho tới lúc 3 tuổi, khi có sứ giả của triều đình đi rao tìm người ra giúp đánh giặc Ân, mới mở mắt “sáng như sao” và mở miệng cất tiếng nói đầu tiên “ầm vang như sấm” đòi ra đánh giặc Ân. Ông nói với sứ giả:

Bay về bay dổng vua bay,

Cơm thời bay thổi cho đầy bảy nong.

Cà thời muối lấy ba gồng,

Ngựa sắt, vọt sắt ta thời dẹp cho.

Ông Dóng ăn bẩy nong cơm ba gồng (gánh) cà xong uống hết một khúc sông:

Bẩy nong cơm, ba gồng cà,

Uống một hơi nước, cạn đà khúc sông.

Cà là một thứ quả hình trứng (egg-plant) mang biểu tượng bầu Trứng Vũ Trụ và pháo là vật nổ đùng đùng như sấm. Ông ăn cà pháo là nuốt cả hư vô, khí gió, Trứng Vũ Trụ và nuốt cả lửa vũ trụ, nuốt cả pháo vũ trụ vào người nên từ cậu bé vươn vai đứng dậy trở thành con người khổng lồ có sức mạnh vô song như dông tố, như sấm dông. Rõ ràng ông Dóng có cốt sấm dông tố. Phù Đổng Thiên Vương có nghĩa là Vua Nhà Trời (Thiên Vương) Sấm (Đổng, Động) Dông Gió (Phù). Ông Dóng là ông Dóng Trống. Trống biểu tượng cho sấm. Dóng trống, đánh trống tạo ra sấm. Ông Dóng Phù Đổng Thiên Vương là ông Thần Sấm Dông Nhà Trời.

….

Nên tại làng Dóng nơi sinh của ông Dóng thường trồng một sào cà cho ông Dóng. “Theo các cụ, trước và trong ngày ấy (ngày sinh nhật, phụ chú của tác giả) bao giờ cũng có gió bão, sấm chớp và có mưa to. Các cụ nói: đó là ‘ông Đổng về hái cà’ hay ‘gió hái cà’. Cũng từ lâu làng Dóng được gọi là kẻ Đổng có tục trồng riêng một sào cà để dành cho ông Đổng về hái. Ở các ruộng khác, người ta thường cắm cạnh mỗi cây cà một “que bông”, tức là những que tre dài ở một đầu có vót thành xơ xoắn xít dính vào thân que như hoa cà, ngụ ý để dành cho ông Đổng kẻo ông trẩy cà, gây thiệt hại tới mùa cà”… (Cao Huy Đĩnh, Đất Nước Trung Châu Kể Chuyện Ông Dóng, Hùng Vương Dựng Nước, NXB KHXH, HN, 1972 t I, tr.110) (xem Ý Nghĩa Ngày Vía Phù Đổng Thiên Vương).

Thổ dân Ainu (Hà Di) ở bắc Nhật Bản có các cây nêu gọi là Inau dùng trong tế lễ, tang, ma, hiếu hỉ, sinh đẻ, trị bệnh… gần như dùng trong mọi sinh hoạt của đời sống. Họ cũng có inau xù và được coi là loại có nhiều thần lực bảo vệ, che chở, hộ mạng. Phần xù này tùy theo vị trí ở trên ngọn, dưới ngọn hay giữa cây nêu inau, tùy theo cách đẽo ngược hay xuôi mang một ý nghĩa khác nhau. Loại inau có một đầu xù như gọi là inau kike. Inau kike  chính là que bông của Việt Nam.

clip_image004Inau kike, que bông, .

Theo duy dương que bông, nêu đầu xù kike diễn tả nõ, bộ phận sinh dục nam. Cọc là nõ và phần xù trên đầu là lông (Cây Nêu, Một Cái Nêu Nhân Chủng Học, Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Que bông, inau đầu xù kike là nõ, nọc que, bộ phận sinh dục nam có lông là ở dạng hoạt dục (sexual active), (trẻ em không có lông), mang tính sinh tạo có một khuôn mặt đội lốt thần tạo hóa, sinh tạo nam, thần mặt trời sinh tạo nam vì thế giúp hoa quả, mùa màng được mùa, sinh sôi nẩy mở, sản xuất nhiều… Nhìn rộng ra, que bông, inau kike có khuôn mặt tạo hóa như thần Min Ai Cập cổ.

Ainu còn có loại inau có vòng xù ở thân nọc chứ không ở đầu trên (xem dưới đây).

Thái Cực

Hư không tiến tới giai đoạn nòng nọc, âm dương hóa và khi nòng nọc, âm dương còn quyện vào nhau ở dạng Nhất Thể ta có thái cực. Ở đây ta cũng thấy nọc que có một khuôn mặt nhất thể thái cực.

Ví dụ:

-Số một ở dạng nọc que 1, I (I là số 1 La Mã).

Như đã biết, số một được diễn tả dưới hai hình thức: số một ở dạng nguyên tạo bậc một (primary) được diễn tả bằng chữ nọc chấm đặc và ở dưới dạng sinh tạo thứ hai, bậc hai (secondary) được diễn tả, theo duy dương là nọc que 1, I.

-Anh ngữ Universe, vũ trụ.

Universe có gốc uni– = Latin unus, ruột thịt với Pháp ngữ un, Tây Ban Nha ngữ uno, Anh ngữ an, one, Việt ngữ ên, ơn có nghĩa là một và –verse ruột thịt với Latin versus, vặn, quay, trở về. Như thế Universe là “xoay, quay về một”, qui về Nhất Thể (Unity, Totallity). Universe (Vũ Trụ) là từ trạng thái hỗn mang quay về một mối, về nhất thể, về thái cực. Như thế theo duy dương Universe có một khuôn mặt nọc chấm đặc hay nọc que.

Rõ ràng số 1 nọc que có một khuôn mặt nhất thể thái cực.

-Dùi trống lưỡng tính nòng nọc (âm dương) nhất thể.

Vì trống đồng của đại tộc Đông Sơn là trống nòng nọc (âm dương) nên dùi trống cũng mang tính nòng nọc (âm dương). Những người đánh trống đồng ở dàn trống bên ngôi nhà nọc, mặt trời trên trống Iọc Lũ I và các trống họ hàng như trống Hoàng Hạ dùng dùi trống lưỡng tính nòng nọc (âm dương).

clip_image006Dàn trống trên trống Hoàng Hạ có các dùi trống nọc que nhất thể nòng nọc thái cực. Đầu dưới hở âm đánh xuống mặt trời dương ở tâm trống cho nòng nọc (âm dương) giao hòa.

Dùi trống hình nọc que có đầu kín, đặc là đầu dương và đầu hở là đầu âm. Như thế dùi trống là dùi nòng nọc (âm dương) nhất thể có một khuôn mặt thái cực của khâu nọc que. Khi đánh xuống mặt trời ở tâm trống phải đánh đầu hở âm để cho nòng nọc (âm dương) giao hòa. Khi lật trống đống lên ta có cối hay gồng nồi mang âm tính, lúc đánh phải dùng đầu đặc dương của dùi đánh xuống (xem Ý Nghĩa Hình Nhà trong Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc Âm Dương Đông Nam Á).

Dùi trống nọc que hai đầu kín dương và hở âm là một ví dụ điển hình cho nọc que mang tính nòng nọc (âm dương) nhất thể, thái cực.

-Linga lưỡng tính phái.

Như đã biết, shiva có một khuôn mặt là Trụ Lửa, biểu tượng bằng dương vật linga nhưng Shiva cũng có một khuôn mặt lượng tính phái, ái nam ái nữ.

clip_image007Shiva Ardhanarinara ái nam ái nữ (nguồn: hubpages.com).

Vì thế linga nọc que đôi khi cũng diễn tả dương vật-âm hộ dưới dạng nhất thể, có một khuôn mặt thái cực.

Môn phái mật giáo Ấn Độ có tantric linga lưỡng tính phái: ‘According to Tantric traditions, the lingam represented the unification of male and female energies; or expressed differently, as opposite energies united. In this regard, the body of the lingam represented male energy, characterized as knowledge; and the markings symbolized female energy, characterized as wisdom’…(Lost in the Depths – Tantric Lingams from the Narmada River, be.primitive.com).

Tantric linga có dạng hình trứng:

clip_image009

Tantric linga ở Sông Narmada (nguồn: be.primitve).

Lưu ý phần vết nâu ở chỏm đầu diễn tả qui đầu. Vết nâu ở thân diễn tả lỗ âm hộ.

Tantric linga nhìn dưới dạng nhất thể có một khuôn mặt thái cực. Với dạng trứng tantric linga lưỡng tính phái này mang tính sinh tạo tầng tạo hóa thái cực.

Linga lưỡng tính phái cũng ở dạng nọc que mang tính chủ sinh tạo của khâu nọc que.

clip_image010(nguồn: pinterest.com).

-Inau lưỡng tính phái.

Như đã nói ở trên người Ainu còn có loại inau có vòng xù dăm bào ở dưới đầu nọc hay giữa thân.

clip_image011Inau nõ nường giao hợp.

Vòng xù này diễn tả lỗ bộ phận sinh dục nữ có lông. Điểm này thấy rõ trong các nghi thức tế lễ, phụ nữ chỉ đeo quanh cánh tay trên những vòng tua dăm bào xoắn như phần xù ở thân cây inau, dùng như một thứ bùa. Cây inau có phần xù bao quanh ở dưới đầu hay giữa thân inau diễn tả nọc nõ đâm qua vòng nòng xù nường ở dạng nõ nường, nòng nọc (âm dương) giao phối. Nhìn dưới dạng nhất thể nòng nọc (âm dương) có một khuôn mặt thái cực. So sánh, nêu nõ nường này giống với linga-yoni lưỡng tính phái vừa nói ở trên.

-Lưỡng Nghi:

1. Cực dương nọc que.

Nọc que có nghĩa chính là nọc, dương, cọc, bộ phận sinh dục nam, lửa, mặt trời… mang tính sinh tạo biểu hiện ở tầng lưỡng nghi.

./Nọc que biểu tượng cọc, nọc, bộ phận sinh dục nam.

Như đã biết chữ nọc que phát nguồn từ bộ phận sinh dục nam và chữ nòng vòng tròn phát nguồn từ bộ phận sinh dục nữ.

Vì nọc que mang tính biểu hiện, đại diện cho phía nọc, dương nên nọc que biểu hiện tức diễn tả phần lộ ra bên ngoài của bộ phận sinh dục nam thấy nhiều nhất trong các chữ nòng nọc vòng tròn-que diễn tả bộ phận sinh dục nam. Nọc que hầu như đã thấy từ thuở sơ khai khi con người còn sống trong hang động cho tới mọi nền văn hóa thế giới sau này.

Việt Nam

Như đã nói ở trên, nhìn theo duy dương que bông Việt Nam, nêu đầu xù kike Ainu diễn tả nõ, bộ phận sinh dục nam.

Thổ dân Úc châu.

clip_image013Biểu tượng thổ dân Úc châu.

clip_image014Hình ngữ đàn ông.

Hình khắc trên đá hình noc que thẳng đứng diễn tả nõ, cọc của thổ dân Úc châu có nghĩa là đàn ông, phái nam. Như đã biết chữ đàn bà, phái nữ hình vòm U ngược diễn tả âm đạo.

clip_image016Bốn nhóm người nam nữ ở một giếng nước.

Hình trên hiện nay được giải thích là bốn nhóm người nam nữ ở chung quanh một giếng nước.

Theo tôi phải nhìn theo vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo. Hai vòng tròn ở tâm diễn tả thượng thế (hư vô, vô cực, thái cực, lưỡng nghi nhìn chung) của phía nòng âm sinh ra bốn tộc người nam nữ, tứ dân ở bốn phương ứng với tứ tượng.

Rõ ràng nọc que mang hình ảnh nõ, dương vật biểu diễn tả phái nam.

-Hình khắc trên đá ở Núi Âm Sơn Trung Quốc.

Hình người bắn cung khắc trên đá thấy ở Trung Quốc  có bộ phận sinh dục sinh dục nam là nọc que nhọn, mũi tên.

clip_image017Người bắn cung khắc trên đá ở Âm Sơn, Trung Quốc (Wang Hongyuan).

Peru

.Gốm Moche

Nọc que diễn tả bộ phận sinh dục nam nguyên hình thấy rõ trong gốm Moche, Peru :

clip_image019

Gốm Moche, Peru, Bảo Tàng Viện, Lima (ảnh của tác giả).

.Thần Tổ Nõ Peru.

Văn hóa Recuay tiền Columbus, tiền Inca (Inca là Đế Quốc Mặt Trời) ở mạn Tây Bắc vùng Trung Peru vào khoảng 200 TTL đến 600 STL, cùng thời với văn hóa Moche là hàng xóm ở vùng duyên hải phía bắc Peru (xem Gốm Tình Dục Peru Cổ). Văn hóa Recuay nổi tiếng về đồ gốm có các hình nổi gắn trên mặt và tạc đá. Nghệ thuật tạc đá rất cao thường tạc các nhân vật quan trọng như thần tổ, chiến sĩ và các hình ảnh liên quan tới Vũ Trụ Tạo Sinh thường để ở các đền đài, lăng mộ. Điều này cho thấy họ có tục thờ cúng tổ tiên trong Vũ Trụ giáo như Việt Nam.

Nổi bật nhất là những tượng đá tạc thần tổ hình dương vật.

clip_image021Tác giả chụp với tượng đá tạc thần tổ dương vật tại khu vườn Viện Bảo Tàng Larco, Lima, Peru.

Các tượng này thường thấy ở các đền đài của nền văn hóa Recuay của Peru cổ.

Thần tổ này cũng thấy trong đồ gốm Recuay:

clip_image022(http://michaelruggeri.com).

Về sau văn hóa Inca bị ảnh hưởng văn hóa này tương đồng với văn hóa Chim-Rắn, Tiên Rồng của Việt Nam. Họ thờ đa thần và sau đó thờ các thần tổ theo vũ trụ giáo dựa trên nguyên lý nòng nọc (âm dương) là hunan và huri. Họ cũng có hai vật tổ tương ứng là chim-rắn (chim condor và trăn)…

Các tộc Inca Peru nhận mình là con cháu của thần mặt trời Inti như người Việt là người mặt trời con cháu thần mặt trời Viêm Đế. Rặng núi Andes nơi họ sống, tiếng thổ dân gọi là Anti, phía mặt trời mọc.

Vì thế thần tổ của họ là mặt trời giống như tổ tiên chúng ta là Lang Hùng mặt trời, Hùng Vương, Vua Mặt Trời.

Do đó thần tổ của những tộc dòng mặt trời Recuay ở Peru là thần nõ, dương vật.

Ai Cập

Thần Osiris

clip_image023Sự thụ tinh theo lối linh sản giữa xác ướp Osiris và Isis.

Theo truyền thuyết Ai Cập cổ Osiris là một trong bốn người con của Keb và Nut và là chồng của Isis, (em sinh đôi với Nepthys). Osiris bị anh là Seth giết để chiếm ngôi. Seth chặt xác Osiris ra từng mảnh rồi đem quăng xuống dòng sông Nile, mỗi nơi một miếng để thủ tiêu. Isis hóa thành chim bay đi tìm nhặt các mảnh xác chồng. Isis tìm được hết những mảnh xác chồng ngoại trừ bộ phận sinh dục của Osiris đã bị một loài cá chép ở sông Nile ăn mất.

Hình trên cho thấy xác của Osiris trông như một xác ướp sau khi đã được Isis đi nhặt các mảnh xác trên sông Nile tái tạo lại. Con chim ở trên giả vật dương vật của Osiris là hiện thân của Isis. Vì dương vật bị cá ăn mất, ở đây phải làm một giả vật dương vật (penile prothesis) cương cứng đầy cường dương hình nọc que cắm vào vòm âm đạo hình chuông úp tạo bởi đuôi và cánh chim của biểu tượng chim Isis để giao hợp. Đây diễn tả cách thụ tinh theo linh sản (sacred birth) để sinh ra Horus.

Ấn Độ

Thần Shiva của Ấn giáo có một khuôn mặt là nọc, trụ lửa, có biểu tượng là linga hình nọc que đứng như thấy qua:

./Linga

.Thánh địa Mỹ Sơn.

clip_image024Một linga ở thánh địa Mỹ Sơn Việt Nam (ảnh của tác giả).

./Thần Shiva tay phải cầm dương vật hình nọc que và tay trái cầm vật hình cầu, hình túi hình bao biểu tượng của dạ con, âm đạo.

clip_image026Thần Shiva (ảnh của tác giả chụp tại một Bảo Tàng Viện ở Sydney, Úc châu).

Jordan

-Một tảng đá thần dương vật:

clip_image028Tảng đá thần hình dương vật (Nabataea. net)

-Một tảng đá thần thờ một vị thần diễn tả bằng hình trụ que nọc có một khuôn mặt biểu tượng cực nọc, dương, bộ phận sinh dục nam.

clip_image030Một tảng đá thần thờ thần Nọc que (Nabataea.net).

Đại Hàn

Thần tổ Haruebang.

clip_image032Dol hareubang, Đảo Tế Châu, Nam Hàn (ảnh của tác giả).

clip_image034Tác giả và các dol hareubangs.

Dol có nghĩa là đá, hareubang là ông hay người già, lão nhân (hàm nghĩa tổ tiên).

Ngày nay người Đại Hàn hiểu theo nghĩa duy tục thì các vị thần dol hareubang này được coi là các vị thần che chở, phù hộmắn sinh. Tượng thường được để ở cổng nhà. Nếu sờ mũi thần và cầu tự thì sẽ sinh được con trai. Theo nhà phân tâm học Sigmund Freud thì mũi là hình bóng của bộ giống phái nam. Ta cũng thấy rõ điều này qua ngôn ngữ Việt. Qua từ kép đồng nghĩa mũi nõ (ngày nay nói sai là mũi lõ. Nõ là tiếng cổ của lõ), ta có mũi = nõ. Nõ là nọc là cọc là bộ phận sinh dục nam (ngày nay nói c…c lõ, đúng ra phải nói là c…c nõ). Mũi nõ là mũi đâm ra như cây nõ và cũng cho thấy mũi là hình bóng của nõ, bộ phận sinh dục nam. Sờ mũi là sờ nõ của thần nõ để cầu sinh con có nõ (đúng ra phải sờ đầu thần hình đầu rùa).

Như đã biết qua bài viết Sự Tương Đồng Giữa Cổ Sử Đại Hàn và Cổ Sử Việt là Đại Hàn có một gốc rễ ruột thịt với Lạc Việt Việt Nam. Các tộc phía nam của Đại Hàn cũng có truyền thuyết các vua tổ của họ sinh ra từ một bọc trứng giống như các Lang Hùng, các Hùng Vương của Việt Nam. Sự thờ phượng mặt trời cũng giữ một vai trò đặc biệt trong văn hóa Đại Hàn.

Người Việt con cháu Tổ Hùng thần mặt trời Viêm Đế và Hùng Vương Vua Mặt Trời nên từ Việt có một nghĩa là Rìu, một vật nhọn, ruột thịt với bộ phận sinh dục nam, mặt trời. Người Việt là Người Mặt Trời.

Các tộc hải đảo Nam Hải, Đa Đảo, Thái Bình Dương.

Trong các tộc hải đảo Nam Hải, Đa Đảo, Thái Bình Dương có những tộc Lạc Việt hải đảo hay liên hệ với văn hóa mặt trời Việt cổ nên cũng có thần tổ dương vật này.

-Nam Dương

Ở Thung Lũng Bada, miền trung đảo Sulawesi (tên Pháp là Celèbres), Nam Dương trong những cự thạch (megaliths) có những tượng thần tổ hình dương vật. Một số dân địa phương cho là chúng liên hệ với tín ngưỡng thờ phượng tổ tiên. Một số khác cho là chúng giống như các tượng ở Đảo Phục Sinh (Easter) hay ở Đảo Tế Châu, Nam Hàn (unspecial.org).

clip_image036Maturu (‘Sleeping’).

(http://www.moxon.net/indonesia/badavalley).

clip_image037Palindo (‘The Entertainer’) (deanmayerson.org).

Lưu ý tượng chôn nghiêng ở tư thế dương vật đang “nõ” đâm ra từ thân người nam.

-Đảo Raivavae.

Đảo này nằm trong nhóm đảo Polynesia thuộc Pháp. Tại đây cũng có những cự thạch trong đó có các tượng thần tổ hình dương vật.

clip_image039Hình thần dương vật ở đảo Raivavae

-Đảo Easter

Tiến xa hơn nữa đến sát nách Nam Mỹ châu là đảo Phục Sinh Easter (Đảo được khám phá nhằm vào ngày 5 tháng tư, lễ Phục Sinh), trước đó đảo có tên là Rapa Nui (Đảo Lớn).

Nhiều nghiên cứu về di truyền học, khảo cổ học và ngôn ngữ cho thấy, nhìn tổng thể, dân Đa Đảo đến từ Á châu… Có nhiều bằng chứng khác nhau nêu ra rằng con người khởi sự di dân về hướng đông (từ Đông Nam Á, ghi chú thêm của tác giả) vào khoảng 5.500 năm trước, rồi xuống Đa Đảo khoảng 2.500 sau đó, trước khi cuối cùng tới Đảo Phục Sinh sau 1.500 năm nữa.

Trong trường hợp này, dĩ nhiên những tộc này cũng liên hệ với văn hóa Việt cổ.

Nét đặc thù nhất của đảo Easter là các tượng đá gọi là Moai.

Các thổ dân bản địa cho rằng có những tượng moai biểu tượng cho dương vật.

clip_image043Mũ Moai hình đầu dương vật (art.com).

clip_image045Moai quì gối hình dương vật (highonadventure.com)

Các nhà khảo cứu nhìn theo diện duy tục cho là họ dựng những tượng này để thờ mắn sinh, phồn thực. Tuy nhiên gần đây có nhiều khảo cứu cho thấy các moai này liên hệ với đạo thờ mặt trời, thiên văn học, Vũ Trụ Tạo Sinh.

./Nọc que mang nghĩa mặt trời.

-Người mặt trời Sapa.

Ở bãi đá cổ Sapa có những hình khắc người mặt trời ứng với người Việt mặt trời.

clip_image047Người có bộ phận sinh dục nam hình nõ, nọc que.

Người này đứng dưới hình mặt trời chấm-vòng tròn sinh tạo có nọc tia sáng hơi cong mang âm tính và khoảng không gian giữa các nọc tia sáng hình sọc diễn tả không gian (mang hình ảnh giống tâm trống đồng nòng nọc).

Rõ hơn ở các hình khác trên đầu người mặt trời có các nọc tia sáng tỏa ra.

clip_image048Người mặt trời ở bãi đá cổ Sapa.

Người ở đây rõ như dưới ánh sáng mặt trời là người Việt mặt trời vì ở giữa hai chân có bộ phận sinh dục nam hình nọc que cong mang hình ảnh một thứ rìu Việt.

-Người mặt trời Lạc Việt ở Hoa Sơn, Quảng Châu, địa bàn cũ của Bách Việt.

clip_image050Người mặt trời Lạc Việt Tráng Zhuang đang cung nghinh mặt trời vẽ trên vách đá Hoa Sơn với nõ đang ‘lõ’, cương cứng (ảnh của tác giả).

-Thụy Điển

Hình người hay thần mặt trời vẽ trên đá có dương vật cường điệu, cương cứng ở Vitlycke, Bohuslan, Thụy Điển.

clip_image052Người mặt trời cầm rìu (việt) khắc trên đá ở Vitlycke, Bohuslan, Thụy Điển (H.R. Ellis Davidson, p.62-63).

Hình khắc trên đá ở Val Camonica trên rặng Alps của Ý có hình mặt trời ở giữa hai chân dính vào bộ phận sinh dục nam. Có tác giả giải thích cho là có mang biểu tượng cho mắn sinh.

clip_image053Người hay thần mặt trời có hình mặt trời ở giữa hai chân dính vào bộ phận sinh dục nam ở Val Camonica, Ý (Madanjeet Singh).

Vòng tròn là đĩa mặt trời tròn chữ thập do hai nọc que ghép lại mang nghĩa thái dương. Ngày nay chữ thập này có nghĩa là dấu cộng, dấu dương (phản ứng cộng là phản ứng dương).

-Linga mặt trời

Linga là bộ phận sinh dục nam là nõ, cọc, cặc có một khuôn mặt nọc que biểu tượng cho mặt trời thấy rõ trong trong Ấn giáo. Giáo phái thờ linga là mặt trời gọi là Surya-Linga như thấy ở đền Navagraba.

clip_image055

Ở đây cho thấy rõ mặt trời là nọc que, đực, bộ phận sinh dục nam, linga. Ở đây phải hiểu mặt trời nõ, nọc này với nghĩa sinh tạo, tạo hoá ở ngành nọc dương, mặt trời. Ở đây mặt trời là số 1 hình nọc que, hình nõ, hình cọc, hình cặc. Như đã biết số 1 hình nọc que cũng có nghĩa là mặt trời.

…….

Dĩ nhiên còn vô số kể nữa…

Dưới Dạng Đi Đôi Với Nòng O Diễn Tả Hai Cực Nòng O Nọc I Đối Ngược.

-Linga nọc que I-yoni nòng vòng tròn O.

clip_image057Linga-yoni của Champa, Bảo Tàng Viện Champa Đà Nẵng (ảnh của tác giả).

Linga nọc que cắm trên yoni vòng tròn nhìn dưới dạng phân cực riêng rẽ ứng với lưỡng nghi. (nhìn dưới dạng nhất thể, ứng với thái cực).

Trong trường hợp linga ở có dưới hình vuông thì ta có một dạng nòng nọc lưỡng nghi hay nhất thể thái cực mang tính thái dương, của ngành thái dương bởi vì hình vuông là khuôn mặt thái dương của nòng O.

-Nhóm thạch bản lưỡng tính Mexcico.

Trở lại nhóm thạch bản lưỡng tính Mexico, theo James Churchward, trong The Children of Mu, nhóm thạch bản sau đây của Niven khai quật được ở Mexico có những Chữ Viết Thiêng Liêng của Mu (Sacred Writings of Mu), Lục Địa Mẹ, diễn tả hai nguyên lý lưỡng tính của Đấng Tạo Hóa.

clip_image058Một nhóm thạch bản biểu tượng nguyên lý lưỡng tính của đấng Tạo Hóa (James Churchward, The Children of Mu).

Liên hệ ở đây là hình ở giữa clip_image060. Hình biểu tượng cho lưỡng tính phái ở dạng đĩa nọc que-vòng tròn nòng O mang tính sinh tạo lưỡng nghi.

Đĩa này đi với các hình thái diễn tả lưỡng tính nòng nọc (âm dương), Khôn-Càn khác còn lại (xem chữ Nòng Chấm Rỗng).

.Dấu tắt/mở điện.

Ta cũng thấy dấu tắt/mở điện dùng thời kỹ thuật số ngày nay cũng có một khuôn mặt lưỡng nghi nọc que-nòng vòng tròn của khâu nọc que.

clip_image062Nút tắt/mở điện.

Dấu này có hai chức vụ nòng vòng tròn âm là tắt và nọc que là mở. Ở dạng phân cực riêng rẽ ứng với lưỡng nghi (ở dạng nhất thể là tắt/mở âm dương nhất ứng với khuôn mặt thái cực dạng vòng tròn nòng nọc que).

./Bầu nậm nòng nọc (âm dương).

Nọc que mang nghĩa nọc, dương đi với nòng O dưới dạng nòng nọc (âm dương) nhất thể, lưỡng nghi thường thấy qua các cấu trúc hình bầu nậm có phần cổ hình nọc que mang dương tính và phần bầu tròn ở dưới là nòng O mang âm tính.

Ví dụ:

-Những kiến trúc thờ phượng ở phương Đông trên nóc thường có quả bầu nậm có cổ hình nọc que I cắm trên phần bầu ở dưới hình tròn nòng O diễn tả thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh của vũ trụ giáo dựa trên nguyên lý nòng nọc, âm dương. Dưới diện nhất thể, bầu nậm có một khuôn mặt thái cực, nhìn dưới diện phân cực có một khuôn mặt lưỡng nghi.

HN

Trên nóc tháp rùa ở Hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội, trước đây có quả bầu nậm nòng nọc, âm dương.

clip_image066Đèn đá Cây Vũ Trụ có quả bầu nậm nòng nọc, âm dương ở chỏm nóc.

-Hình chuông úp.

Những tháp Phật (stupa) có hình chuông có cán úp xuống  mang hình ảnh bầu nậm biến thể.

clip_image068Tháp Phật hình chuông có cán úp ở Borobudur, Nam Dương mang hình chuông có cán úp nòng nọc, âm dương.

Các kiến trúc Tây Phương tân thời như điện Capitol của Hoa Kỳ có chỏm vòm trông giống hình chuông có cán úp.

clip_image070Điện Capitol ở Washinton, Hoa Kỳ.

Ngôn Ngữ Học

-Việt ngữ

.Ke, Que

Trong từ Điển Việt Bồ La của Alexandre de Rhodes có từ ke chỉ bộ phận sinh dục nữ và nam. Theo duy dương, ke biến âm với kẻ (kèo nhỏ, thước kẻ), với que chỉ bộ phận sinh dục nam, với (palm), loài cây thân không có cành thẳng như nọc, trụ, cột, vời , cừ (nọc đóng ở bờ nước)…

.Nõ.

Tiếng cổ Việt nõ chỉ bộ phận sinh dục nam như nõ nường (nọc nòng). Nõ là cọc, nọc như đóng cọc mít cho mau chín gọi là đóng nõ mít. Nõ nam hóa thành lõ. Trong từ Điển Việt Bồ La của Alexandre de Rhodes có từ “lõ”: ‘làm dương vật cương lên như khi con vật giao cấu. Blỏ cùng một nghĩa’ và có từ “lô”, “con lô”: ‘cơ quan sinh dục của đàn ông’. Hiển nhiên lõ, lô là biến âm của nõ. Lõ trong tiếng Việt hiện kim chỉ vật gì đâm ra như cái cọc nhọn ví dụ mũi lõ, cặc lõ hay lõ cặc. Nõ đẻ ra từ nỏ, vật bắn mũi tên (một thứ nọc, cọc nhọn). Thời cổ con người dùng cây nõ, cây cọc nhọn đâm thú vật mãi về sau mới phát minh ra cây nỏ, cây ná bắn mũi tên.

Heo nọc là heo đực.

.Cọc

Cọc chỉ bộ phận sinh dục nam như thấy qua thơ Hồ Xuân Hương:

        Quân tử có thương thì đóng cọc,

        Xin đừng mân mó nhựa ra tay.

                (vịnh Quả Mít).

Hay

Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không.

                        (vịnh Cái Đu).

Anh ngữ cock gà sống cũng có nghĩa là bộ phận sinh dục nam, có coc– chính là cọc.

.Cặc

Trung Nam gọi bộ phận sinh dục nam là cặc. Cặc là biến âm của cược, cọc như tiền đặt cọc là tiền đặt cược (Lê Ngọc Trụ, Việt Ngữ Chính Tả Tự Vị). Từ cặc liên hệ với những từ chỉ bộ phận sinh dục nam của Tây Ban Nha carajo, Latin dân dã caracium, Hy Lạp karas (pointed stake, cọc nhọn, REW. 1862) có car– là cặc; với Breton kalc’h, Cornish cal, Welsh col (sting, ngòi, nọc), Ái Nhĩ Lan colg (sword, gươm, kiếm, Pederson 1.105), giáo hội Slavic kocanu (c và u có dấu ă), Albanian kotsh (rod, stalk, que, roi, cọng cây, Berneker 536); Phạn ngữ kaprt(h)– (r có chấm ở dưới) (Walde –P. 1.348, 2.49). . .

Buồi

Miền Bắc dùng từ buồi chỉ bộ phận sinh dục nam không dùng từ cặc. Buồi biến âm với bổ, búa (búa đây là búa có mỏ nhọn tức búa chim) cũng là vật nhọn. Buồi liên hệ với Anh ngữ bur (mũi khoan), ebur (ngà voi), spur (mấu nhọn như cựa gà, mấu nhọn ở gót giầy để thúc ngựa). Buồi biến âm thành “bòi »: trong từ Điển Việt Bồ La của Alexandre de Rhodes có từ bòi: ‘cơ quan sinh dục của đàn ông’. Buồi ngày nay cũng nói trại đi thành “bòi” như “Đứa nào cười tớ nó ăn bòi”. Buồi, bòi liên hệ với Anh ngữ boy (con trai). Thằng “boy” có bòi, có buồi. Theo biến âm b=v, bòi = vòi. Vòi cũng mang nghĩa bộ phận sinh dục nam. Nhìn chung buồi là  bổ, búa, vật nhọn liên hệ với gốc tái tạo Ấn-Âu ngữ *pes-, *pesos– (Walde-P. 2.68, Ernout-M 7520. Anh ngữ penis có gốc pen- có một nghĩa là  cây bút, viết. Bút là bót, vót, viết là vót, vọt, cái que vót nhọn, nguyên thủy cái que vót nhọn dùng làm viết vạch lên đất sét, đá mềm. Pháp ngữ verge, Latin virga phát xuất từ gốc rod (roi), stalk (que, cọng cây) ta thấy rõ gốc ver-, vir– liên hệ với Việt ngữ vọt. Hòa Lan ngữ roed (penis) liên hệ với Việt ngữ roi

.Chông

Chông là cái cọc nhọn cũng chỉ bộ phận sinh dục nam:

. . . . . .

Thịt chó tiểu đánh tì tì,

Bao nhiêu lỗ tội tiểu thỉ cắm chông.

Nam mô xứ Bắc xứ Đông,

Con gái chưa chồng thì lấy tiểu tôi.

(ca dao).

(xem thêm Ý Nghĩa Những Từ Thô Tục Trong Việt Ngữ).

-Lang, Hùng

Như đã biết, Lang là Chàng, có một nghĩa là vật nọc que nhọn chàng, đục (chisel).

Hùng ruột thịt với Hun. Như đã biết Hun là một (Lahun là hai). Một có thể diễn đạt bằng nọc chấm đặc (.) hay nọc que (I), có một nghĩa là mặt trời (Anh ngữ solo, Pháp ngữ seul, Việt ngữ son… là một, một mình ruột thịt với sol, soleil, Đức ngữ sunn…, mặt trời). Các nhà làm văn hóa ở Việt Nam hiện nay hiểu Hùng theo nghĩa là thủ lãnh. Thủ lãnh là người đứng đầu, số một. Hùng hiểu theo nghĩa thủ lãnh là hiểu theo nghĩa suy diễn, nghĩa phụ không dám ngửa mặt nhìn mặt trời.

Hùng có một nghĩa đực, nọc, cọc (I), dương (thư hùng, hùng trĩ), mặt trời (dương có một nghĩa là mặt trời). Uighur ngữ hun là mặt trời.

Người Việt con cháu Tổ Hùng thần mặt trời Viêm Đế và Hùng Vương Vua Mặt Trời là Người Mặt Trời nên từ Việt có một nghĩa là Rìu, một vật nhọn, ruột thịt với bộ phận sinh dục nam, mặt trời. Người Việt thờ trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn. Trống đồng nòng nọc (âm dương), theo duy dương là trống, đực, có hình nõ, dương vật, biểu tượng cho mặt trời (xem dưới).

-Chữ A là di duệ của chữ viết nòng nọc. Chữ A Ả Rập là một nét thẳng, là một chữ phát gốc từ chữ nọc que:

clip_image072

A có một nghĩa là 1, hạng nhất, đứng đầu như trứng hạng A.

Và chữ A ở tất cả các dạng [một nọc que, hai nọc que ghép lại thành nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) Ʌ à ba nọc que ghép lại thành A cũng có nghĩa biểu tượng mũi nhọn, vật nhọn, cọc, cây, nọc (đực, dương)], thấy rõ qua Phạn ngữ ak, đục, xuyên (bằng vật nhọn), nhọn sắc, qua gốc  Hy Lạp ake, nhọn (xem acacia, adze-, axe, rìu, arrow, mũi tên, arbor, cây, arm, cánh tay tương đương với cành cây, xem những chữ này); lưỡi a (dụng cụ nhọn) của Việt Nam: Rèn một lưỡi A bằng ba lưỡi hái (Tục ngữ)…
A biểu tượng cho lửa, mặt trời như gốc Phạn ngữ ar, đốt; agni, lửa, arson, đốt lửa gây hỏa hoạn, ace, một (một là mặt trời), châu Á là châu lửa, phía mặt trời mọc. Những tổ phụ dòng lửa, mặt trời của nhiều tộc trên thế giới có tên khởi đầu bằng mẫu tự A như vua mặt trời Ai Cập là Atum, Atom, các thần dòng thái dương của Maya đều có tên khởi đầu bằng từ Ah như Ah Kinchil, thần mặt trời, Ah Puch, Diêm Vương, Ahmakiq, thần nông nghiệp… Thái dương thần nữ Âu Cơ và Amaterasu của Nhật cũng khởi đầu bằng chữ A, người đàn ông đầu tiên trên trái đất của Thiên chúa giáo là Adam, cổ ngữ Việt, áng là cha, ánh là ánh sáng mặt trời, anh thuộc phái nam,  đực (Từ Điển Tương Đồng Việt-Ấn-Âu Ngữ).

-Hán Việt vũ trụ.

Rõ hơn, người Trung Quốc vốn là tộc du mục, võ biền theo xã hội phụ quyền cực đoan nên có từ Vũ Trụ tương ứng với Universe. Ta thấy rất rõ Vũ Trụ có một khuôn mặt là Không Gian-Mặt Trời với Vũ là Vỏ là bao là bọc là nang là Nòng O ứng với bầu Không Gian, bầu trời (bầu là bao, là bọc) và Trụ là cột, là Nọc I. Vũ Trụ là nòng O-nọc que I, âm dương ứng với không gian-mặt trời có một khuôn mặt khi còn quyện vào nhau dưới dạng nhất thể là thái cực.

Ta thấy rõ vũ trụ với Trụ có một khuôn mặt nọc que.

-Càn khôn

Như đã biết trong Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt, tên tám quẻ trong Bát quái xa lạ với ngôn ngữ Trung Quốc nhưng lại là cốt tủy với Việt ngữ. Tất cả tên các quẻ trong dịch ruột thịt với Việt ngữ, chỉ là những biến âm, biến dịch của Việt ngữ mà thành. Richard Wilhelm (The I Ching or Book of Changes, New York) cũng xác nhận Trung Quốc không phả là xuất xứ của dịch vì tên các quẻ trong Bát Quái không được dùng trong ngôn ngữ của Tầu.

Càn

Theo dịch Hoa Hạ, Càn vi thiên, là Trời.

Quẻ Càn là trời, cha, vua, con trai…

Ta thấy rõ như ban ngày, Càn biến âm mẹ con với cần (như cần câu), cành, chành, chánh (cây), với Anh ngữ cane, Pháp ngữ canne là que, gậy, cọc, Hán Việt can là que, cọc , gậy, nọc… Càn như thế hàm nghĩa nọc, cọc bộ phận sinh dục nam… Nhân vật Đá Cần của Mường Việt cổ là hình bóng của Càn.

Quẻ Càn gồm ba nọc que tức mang tính dương gấp 3 lần nọc que, là siêu dương (super male). Chúng ta có đòn càn (còn gọi là đòn xóc) là nọc que hai đầu vát nhọn (tục ngữ Việt có câu đòn càn hai mũi, đâm bị thóc, chọc bị gạo).

Nọc que là một dương và hai đầu nhọn là hai dương, vị chi là ba dương ứng với quẻ Càn. Đòn càn là nọc que mang tính siêu dương diễn tả quẻ Càn.

Tóm lại Càn là nọc que mang tính nọc, đực siêu dương, lửa thái dương, lửa, mặt trời cõi quẻ ba vạch (trigram) tức bát tượng, bát quái…

Ba nọc que ghép lại thành hình tam giác thuận, nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) cũng mang đủ nghĩa của ba nọc que, của Càn. Ta thấy rõ nghĩa nọc, đực siêu dương của nọc tam giác qua hình ảnh bảng hiệu phòng vệ sinh phái nam ở Hoa Kỳ hiện nay. Nếu hiểu câu nói ‘ba que xỏ lá’ theo nghĩa ở đây thì ba que là nọc, cọc, cặc mang tính siêu dương (cương cứng mang tính dương đòn càn) xỏ lá… đa!

Càn (Khôn) hiểu là Trời (Đất) với nghĩa Trời rất mơ hồ vì trời có nhiều loại trời: ông trời, bà trời, trời âm u, trời mưa, trời gió… các nghĩa này không thích hợp với tính siêu dương của quẻ Càn ba nọc que.

Khôn

Theo dịch Hoa Hạ, Khôn vi địa, là Đất.

Quẻ Khôn là đất, đàn bà…

Hai quẻ chính của bát quái là Càn Khôn mà hiện nay tất cả những nhà dịch học Việt Nam theo Trung Quốc đều cho là có nghĩa là Trời Đất.

Không hiểu người Trung Hoa và các nhà thông thái về dịch giải nghĩa nguyên ngữ từ Khôn như thế nào mà có nghĩa là Đất?

Trong Việt ngữ, Khôn hiển nhiên là dạng giảm thiểu của Không. Không có những nghĩa là trống không, thinh không, không gian, vũ trụ âm. Theo qui luật biến âm kh=n (khô = nỏ), không = nông, nòng (bộ phận sinh dục nữ, nàng, nường, nữ, đàn bà) (xem Từ Nòng Ba Vòng Tròn).

Khôn bắt cặp với Càn là nọc, đực cực nóng, lửa vũ trụ, mặt trời… thì Khôn là nòng, âm, cái, không gian…

Như thế Càn Khôn dưới dạng nhất thể chính là trứng vũ trụ, thái cực, khi phân cực thành hai cực nòng nọc (âm dương). Rõ như “con cua tám cẳng hai càng một mai hai mắt rõ ràng con cua” là Khôn không phải là đất như người Trung Hoa đã quan niệm. Đối với chúng ta Khôn không phải là Đất.

Khôn là không, khoảng không, không gian. Khôn tuyệt nhiên không phải là đất. Cho Khôn là đất là gán ghép. Cho Khôn là đất là sai. Chu dịch là loại dịch muộn, dịch thế gian đã mang nam tính ngự trị của thời phụ quyền cực độ. Đất xuất hiện rất muộn sau này vào thời hậu thiên. Khôn không thể là ‘vi địa’ được.

Ngoài ra trong dịch đã có hai quẻ với nghĩa đất là Li đất dương, lửa đất và Cấn, đất âm.

-Dịch

Trong Việt dịch nòng nọc và dịch que Trung Quốc nọc que là hào dương.

2. Cực âm

Trong khâu nọc que ngành nọc, dương thì nọc que âm hóa thành nọc dạng que mang tính âm. Khi âm hóa cực đại nọc que cuộn lại thành nòng O. Để tránh nhầm lẫn nên nọc que mang âm tính thường biến dạng (có hình cong, có lỗ…) hay có kèm theo các dấu chỉ thị tính âm.

Ví dụ:

-Hào âm dịch Trung Quốc.

Tiêu biểu nhất là hào âm của Dịch Trung Hoa clip_image074

Hào âm này do hào dương nọc que đẻ ra vì Trung Quốc vốn là dân du mục, võ biền theo chế độ phụ quyền cực đoan. Hào âm này do hào dương nọc que mang hình ảnh que, ke (Việt ngữ cổ của que, theo biến âm q=c=k như quốn = cuốn, ta có ke = que) là cọc, cặc, bộ phận sinh dục nam) sinh ra bằng cách âm hóa. Để phân biệt nên cho đứt rời ra tạo thành cái khe, cái lỗ hình ảnh của khe, lỗ bộ phận sinh dục nữ.  Việt ngữ ke cũng có nghĩa là bộ phận sinh dục nữ (từ diển việt bồ la,Aalexandre deRrhodes), theo duy âm ke là kẽ, là khe chỉ bộ phận sinh dục nữ .

Hiển nhiên hào âm này có một khuôn mặt biểu tượng cho cực âm của khâu nọc que ngành nọc dương.

Một lần nữa cho thấy dịch Hoa Hạ là dịch mang dương tính của xã hội phụ quyền cực đoan, là thứ dịch muộn về sau vì xã hội phụ quyền có sau xã hội mẫu quyền. Dịch Hoa Hạ có sau dịch Việt. Việt dịch nghiêng về dịch xã hội mẫu quyền và dịch nòng nọc với nòng nọc (âm dương) đề huề còn khắc ghi lại trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn. Các nhà nghiên cứ dịch hiện nay cho rằng Việt Nam có Việt dịch mà vẫn cứ dùng ký hiệu hào âm có lỗ này của dịch Trung Quốc thật là tréo cẳng ngỗng và tự… chửi mình. Xin hãy theo tôi dùng ký hiệu chữ nòng nọc vòng tròn-que. Hào âm phải viết bằng chữ nòng vòng tròn O.

-Nõ nọc que cong Rìu Việt.

Như đã nói ở trên người mặt trời khắc trên đá ở bãi đá cổ Sapa có bộ phận sinh dục nam hình nọc cong như rìu Việt.

clip_image048[1]Người mặt trời ở bãi đá cổ Sapa.

Đây là người Việt mặt trời. Rìu nọc cong mang âm tính. Đây có thể thuộc ngành Việt nọc âm thái dương Thần Nông thái dương-Lạc Long Quân mang tính chủ.

-Nọc tia sáng âm.

Tia sáng dương hình nọc que thẳng. Mặt trời có nọc tia sáng nọc que thẳng là mặt trời nọc dương thái dương.

mt

Ngược lại nọc tia sáng  âm có hình nọc que cong. Mặt trời có nọc tia sáng âm hình nọc que âm là mặt trời nọc âm thái dương.

ví dụ:

mt am

Mặt trời mang âm tính nọc âm thái dương. 

Mặt trời khắc trên đá ở Sapa như đã nói ở trên

clip_image047

có nọc tia sáng cong là mặt trời trời nọc âm thái dương.

Lưu Ý

Cần phải phân biệt nọc que ngành nọc dương với nọc que do nòng O ngành nòng âm dương hóa mở ra thành nọc que. Phải dựa vào bài bản và các chi tiết nòng nọc (âm dương) khác để phân biệt.

Ví dụ cho thấy nòng O dương hóa thành nọc que cong.

Trăng thuộc về đêm mang âm tính nên khuôn mặt chính của trăng là âm, nữ (nàng trăng, chị Hằng) vì thế mới ví ‘Khuôn trăng đầy đặc nét ngài nở nang’ (Nguyễn Du, Kiều). Lịch theo mặt trăng là âm lịch.

Theo duy âm thì trăng tròn mang âm tính nòng O dương hóa, mở ra thành trăng lưỡi liềm.

Trăng lưỡi liềm hình sừng có hai đầu nhọn là hình ảnh của một nọc que cong nhọn hai đầu mang tính thái dương có một khuôn mặt là ông trăng thái dương, tương đương với mặt trời đêm. Ví dụ Lạc Long Quân là mặt trời lặn và cũng là ông trăng,

Ngược lại theo duy dương ông trăng lưỡi liềm âm hóa thành trăng tròn nữ phái.

(còn nữa).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: