CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE: CHỮ NỌC CHẤM ĐẶC (.) TRÊN TRỐNG ĐỒNG (2 và hết).

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE.

CHỮ NỌC.

CHỮ NỌC CHẤM ĐẶC (.)

(2 và hết).

Nguyễn Xuân Quang

CHỮ VÀ DẤU NỌC CHẤM ĐẶC NGUYÊN TẠO TRÊN TRỐNG ĐỒNG NÒNG NỌC CỦA ĐẠI TỘC ĐÔNG SƠN.

Chữ và nhất là dấu nọc chấm đặc thấy rất nhiều trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn.

Trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn chữ nọc chấm đặc cũng mang trọn vẹn ý nghĩa thuyết vũ trụ tạo sinh, dịch lý như chữ nòng chấm rỗng nhưng ngược tính nòng nọc (âm dương) vì thuộc ngành nọc, dương.

.Cõi Tạo Hóa: hư vô, thái cực, lưỡng nghi.

Như đã biết hư vô ở khâu nọc chấm đặc này đã hàm tính sinh tạo mang dương tính, chuyển qua dương trước, qua mầm mặt trời trước.

Ví dụ:

-Dóng sấm trên trống Hích.

Như đã biết, theo James Churchward trong The Sacred Symbols of Mu, các tộc thổ dân Mỹ châu Xây Gò Đống (Mound Builders) có các biểu tượng như sau:

clip_image002

Biểu tượng của thổ dân Mỹ châu Xây Gò Đống

clip_image003

Đấng Tạo Hóa sinh ra Bốn Nguyên Sinh Động Lực Lớn

Theo James Churchward hình 17 diễn tả Bốn Nguyên Sinh Động Lực Lớn (Four Great Primary Forces) ứng với tứ tượng sinh ra từ thần Tạo Hóa. Rõ như ban ngày nọc chấm đặc mang những khuôn mặt sinh tạo hư vô, thái cực, lưỡng nghi (nhìn chung) của đấng tạo hóa ở thượng thế.

Nọc chấm đặc sinh ra chữ thập tứ tượng này thấy ở dóng sấm trên trống Hích.

clip_image005

Dóng sấm trên trống Hích.

Dóng sấm trên trống Hích có trục chữ thập diễn tả sấm bốn phương trời nhưng chỉ có hai tay diễn tả sấm trọn vẹn với vòm hai móc nước hình nóc ô dù và nọc nhọn chớp lửa. Còn hai tay ngang chữ thập không có vòm ô dù nước-nọc nhọn lửa, có lẽ vì thiếu chỗ. Điểm khiếm khuyết này dễ hiểu vì đây là một trống rất muộn.

Giữa chữ thập diễn tả tứ phương, tứ tượng trên dóng sấm của trống Hích có một chữ nọc chấm đặc. Chữ nọc chấm đặc này có khuôn mặt sấm ‘big bang’ khai thiên lập địa ứng với  Tạo Hóa gồm hư vô, thái cực và lưỡng nghi (nhìn chung) ngành nọc thái dương.

-Cục nổi (knob) trên mặt trống Pejeng Trăng Bali, Nam Dương.

clip_image007

Mặt trống Trăng Bali (nguồn: A.J. B. Kempers).

Mặt trời ở trống này có 8 nọc tia sáng Khôn/Càn (số 8 là số Khôn tầng 2) có một khuôn mặt biểu tượng tổng quát cho vũ trụ tạo sinh. Tia sáng hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) nhưng ngắn, không sắc cạnh, không nhọn, và khoảng hai phần ba phía đầu trở thành hình que, hình sợi dây (filiform) dài nên nọc tia sáng có hình chữ Y, hình chiếc phễu (funicular) hay cánh hoa kèn (trumpet flower) mang âm tính, êm dịu. Đây là mặt trời nọc thái dương âm nam êm dịu, mặt trời chiều tà, mặt trời lặn, mặt trời dòng nước, mặt trời Chấn thái âm ngành thái dương (như đã biết có tộc Nam Dương thuộc Lạc Việt Lạc Long Quân Chấn hải đảo).

Các khoảng không gian giữa tia sáng có các hình thái đồng nhất trông giống hình cánh hoa sen hay con mắt bao quanh bởi các hình sọc cong không gian, nước.

clip_image009

Chi tiết mộc góc trống.

Các khoảng không gian giữa tia sáng nhìn chung giống một đóa hoa sen tám cánh nở rộ. Trong các khoảng không gian giữa tia sáng cánh hoa sen này có một núm tròn như con mắt trong có một bán cầu nổi (hemispheral knob) hiện ra dưới mầu đậm mang âm tính, nửa còn lại mầu trắng mang dương tính tạo ra ấn tượng  đen trắng, thực hư, âm dương, khôn càn. Đây chính là hình ảnh đĩa nòng nọc, âm dương, một dạng của đĩa thái cực có vách ngăn nòng nọc (âm dương) là hình nọc que đứng.

Núm nòng nọc, âm dương này được bao quanh bởi ba vòng tròn tức là ba nòng OOO tức quẻ Khôn. Như thế núm đĩa nòng nọc, âm dương, thái cực của ngành khôn hay có một khuôn mặt Càn mang tính trội lưỡng hợp với ba nòng Khôn âm bao quanh.

Phần còn lại của khoảng không gian giữa tia sáng có các sọc cong (curved hatches) diễn tả không gian âm, nước.

Như thế núm tròn có một khuôn mặt là một nọc chấm đặc mang tính thái cực với khuôn mặt dương mang tính trội.

-Trống tạo hoá vành cầu Nguyễn Xuân Quang I (NXQ. I).

Qua bài Cơ Thể Học Trống Đồng Nòng Nọc (Âm Dương) Đông Nam Á ta đã biết trong cách xếp loại trống đồng của Nguyễn Xuân Quang thì trống Nguyễn Xuân Quang I (NXQ. I) là trống tạo hoá vành cầu hay trống trứng vũ trụ, trống thái cực.

clip_image010

Trống vành cầu hiện nay hiểu lầm là nắp thạp.

Trống vành cầu là trống hình cầu (có thiết diện chính là nòng vòng tròn O) cắt bỏ hai chỏm. Nếu nhìn dưới dạng loại trứng cầu tròn như trứng chim thì có một khuôn mặt biểu tượng cho trứng vũ trụ, thái cực. Theo duy dương trống hình cầu tròn có một khuôn mặt là hột, hạt mầm sinh ra cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống), muôn vật, muôn sinh.

Trống có một khuôn mặt là nọc chấm đặc nguyên tạo, mầm tạo sinh.

.Lưỡng nghi riêng rẽ.

Chữ nọc chấm đặc diễn tả lưỡng nghi, hai cực.

-Cục núm nổi ở mặt trống Trăng Bali đã nói ở trên nếu nhìn dưới dạng lưỡng nghi đã phân cực thì nửa phần trắng của núm nổi có một khuôn mặt là cực dương.

-Mặt trời trên trống Đào Xá.

Như đã biết, trống Đào Xá có mặt trời là một khối u nổi hình đĩa tròn có ánh sáng nòng vòng tròn âm là mặt trời nhánh nọc âm thái dương đại diện cho nhánh nòng âm thái dương trên trống đồng nòng nọc.

clip_image011

Mặt trời đĩa tròn trống Đào Xá.

Mặt trời mang hình của một nọc chấm đặc của nhánh nọc âm chứ không phải là mặt trời nọc chấm đen ngành thuần âm (vì theo đúng nguyên tắc trên đồng nòng nọc, âm dương biểu tượng cho ngành nọc nam mặt trời thì mặt trời đĩa tròn là mặt trời âm nam đại diện cho mặt trời đĩa tròn nòng nữ. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là mặt trời hoàng hôn Lạc Long Quân đại diện cho mặt trời tinh mơ (nhật tảo) Âu Cơ hay có một khuôn mặt mặt trời âm nam của một trong 50 Lang Hùng theo mẹ Âu Cơ lên núi.

Như thế mặt trời này mang hình ảnh của một nọc chấm đặc có một khuôn mặt là cực dương của khâu nhánh nọc âm thái dương.

Lưu ý khi diễn tả cực âm như đã biết nọc chấm đặc trở thành nọc chấm mầu đen. Tuy nhiên, vì trống là trống biểu tượng của ngành trống, nọc, dương thái dương nên khuôn mặt cực âm thuần âm mầu đen không thấy trên trống đồng nòng nọc (âm dương).

-Hòn cuội đánh mõ.

Người cuối cùng trong nhóm 6 người nhẩy múa trên trống Ngọc Lũ I tay trái cầm một vật cầu tròn như hòn cuội diễn tả bằng chấm-vòng tròn dùng làm vật gõ vào chiếc mõ ở tay phải.

clip_image013

Nhóm 6 người nhẩy múa trên trống Ngọc Lũ I.

Mõ rỗng  ở tay phải có hình vòm nóc nhà nhọn đỉnh mang dương tính diễn tả nòng âm không gian ngành nọc thái dương. Như thế vật đánh mõ hình cầu tròn như hòn cuội mang khuôn mặt nọc dương mặt trời nguyên tạo (chấm vòng tròn có một nghĩa là mặt trời tạo hóa) để lưỡng hợp nòng nọc (âm dương) với mõ không gian.

Hòn cuội hình nọc chấm đặc với nghĩa mặt trời nguyên tạo có một khuôn mặt là cực dương.

.Tứ tượng

Tượng Lửa.

/Nhà Nòng Không Gian ở Bán Viên Chấn 8 Người Nhẩy Múa trên trống Sông Đà.

Trong bài Giải Đọc Trống Âu Lạc Sông Đà ta đã biết ở bán viên Chấn 8 người nhẩy múa trên trống Sông Đà có ngôi nhà nọc Chấn lưỡng hợp với ngôi nhà nòng Càn dưới dạng lưỡng hợp thái âm, thái dương (xem trống này).

clip_image015

Nhà nòng không gian ở bán viên Chấn 8 người (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Trước mặt nhà có ba hàng 5 nọc chấm đặc lửa sinh tạo xen kẽ với ba hình sóng cuộn vòng tròn-chấm có tiếp tuyến.

Nhìn tổng quát ta thấy ngay những nọc chấm đặc có một khuôn mặt lửa vũ trụ sinh tạo Càn và các sóng có chấm nọc dương là nước dương Chấn. Như thế nhà có hai khuôn mặt Càn-Chấn lưỡng hợp thái dương với thái âm ngàng nọc dương thái dương.

Bây giờ đi vào chi tiết.

Ta thấy tổng cộng 3 hàng chấm nọc là 15 và 15 là con số Càn tầng 2 (7, 15) cõi đất thế gian. Ba hàng 6 hình vòng tròn-chấm nối kết lại với nhau vị chi là 18, là số Khảm nước tầng 3 cõi nước âm. Vì là Khảm nước nên các đường nối kết tiếp tuyến, ở đây mang khuôn mặt hình sóng nước. Đây là những hình sóng nước có hai chấm nọc dương diễn tả nước thá dương, một khuôn mặt của Chấn. Thật vậy, ta thấy rõ số 2 Khảm nằm giữa số 1 Chấn và số 3 Đoài (1—2—3). Như thế theo duy âm (số 1 Chấn nằm về phía âm tay trái của số 2) Khảm 2 đi đôi với Chấn 1. Đây là nhà nòng âm ở trên trống (dương) nên những hình sóng nước dương mang số Khảm có một khuôn mặt của Chấn ngành âm.

Rõ ràng các chữ viết nòng nọc hình nọc chấm đặc và sóng nước thái dương ở trước nhà cho thấy nhà này mang tính Càn-Chấn.

Đây là ngôi nhà nòng Càn của tộc Chấn phía nòng âm.

Ta thấy rõ các chấm đặc ở đây là những chữ nọc chấm đặc mang nghĩa lửa thái dương Càn, mặt trời nguyên tạo, có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng lửa.

./Vành nọc chấm đặc trên trống Làng Vạc II.

clip_image017

Trống Làng Vạc II.

clip_image019

Ba vành ngoài biên trống Làng Vạc II.

Ba vành ngoài biên gồm: ở giữa là một vành nọc chấm đặc có nghĩa là nọc, dương, lửa thái dương nguyên tạo (bụi lửa vũ trụ Càn), lửa thiếu dương thế gian (bụi đất lửa thế gian Li)… và hai vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) mang nghĩa dương, lửa, thái dương. Đặc biệt ở đây trong mỗi nọc có đánh dấu bổ nghĩa thêm hình ba chấm nọc xếp theo hình tam giác, hình núi tháp nhọn nhấn mạnh cho biết thêm có nghĩa là lửa đất dương Li mang tính chủ (xem dưới ở phần Dấu và Chữ). Ba vành ngoài biên này cho biết trống là trống nọc Lửa thiếu dương Li ngành nọc dương thái dương.

Thêm nữa ta cũng thấy rõ thêm là mặt trống không có các vành tứ hành nên trống không diễn tả trọn vẹn quá trình Vũ Trụ Tạo Sinh mà chỉ là trống biểu của một tộc đơn thuần tức chỉ là trống biểu của tộc đất dương Li.

Trống Làng Vạc II là trống biểu của một tộc lửa đất thế gian Li thuộc ngành nọc dương thái dương.

Vành nọc chấm đặc ngoài biên có một khuôn mặt tượng đất dương.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, đây là trống của một tộc thuộc nhánh Li/Khảm Kì Dương Vương có khuôn mặt là mặt trời thiên đỉnh, trên đỉnh Núi Trụ Thế Gian, Núi Kỳ, sáng chói của ngành mặt trời thái dương Viêm Đế. Tôi gọi nhánh này là Hùng Kì. Trống Làng Vạc II là trống biểu của một tộc Hùng Kì nọc dương thái dương.

-Vành giới hạn nọc chấm đặc.

Như đã biết những vành giới hạn trống không biểu tượng nòng âm, nước, không gian. Ngược lại những vành giới hạn có những nọc chấm đặc mang dương tính diễn tả nọc, dương, lửa, mặt trời nguyên tạo…

Ví dụ trống Làng Vạc II.

clip_image021

Trống Làng Vạc II với các vành giới hạn nọc chấm đặc.

Như đã nói ở trên trống Làng vạc II là trống biểu của tộc lửa đất thế gian Li nên các vành giới hạn nọc chấm đặc có một khuôn mặt biểu tượng cho lửa thế gian Li, tượng đất dương.

Dĩ nhiên vành giới hạn nọc chấm đặc này còn thấy rất nhiều trên trống ngành nọc dương thái dương như trống Ngọc Lũ I (thuộc nhóm trống thái dương), trống Phú Xuyên (trống thiếu dương Li, Đất Dương)…

Tương tự ta cũng có hệ luận:

Trên mặt bất cứ một trống đồng nòng nọc (âm dương) nào của đại tộc Đông Sơn có những vành giới hạn nọc chấm đặc thì ta biết ngay trống đó thuộc ngành nọc dương thái dương hay là trống biểu của một tộc, đại tộc, nhánh, ngành nọc dương thái dương.

-Tượng Đất

-Tượng đất trong hình thái tứ tượng.

Như đã biết, khoảng không gian giữa các nọc tia sáng trên trống Ngọc Lũ I và các trống họ hàng có hình thái tứ tượng mà hiện nay gọi lầm là ‘họa tiết lông công’.

clip_image002[4]

Hình thái tứ tượng.

Đây chính là bốn chữ nòng nọc vòng tròn-que diễn tả tứ tượng.

clip_image024

Từ trên xuống: hai giọt nước dương Chấn, nọc mũi mác lửa thái dương Càn, bờm hay rèm Gió dương Đoài vũ trụ khí gió và nọc mũi mác kép hình tháp nhọn có dấu nọc chấm dương diễn tả núi đất dương, lửa đất Li.

Như đã biết, theo chữ nòng nọc vòng tròn-que chữ nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) Ʌ có nghĩa là nọc, đực, dương, lửa thái dương, mặt trời, núi tháp nhọn đất dương sinh động…

Ở đây để tránh lầm lẫn với các nghĩa khác như lửa thái dương của Ʌ (trong hình thái tứ tượng này, Ʌ đã dùng diễn tả lửa thái dương Càn rồi) nên diễn tả đất dương bằng hình hai nọc mũi mác lồng vào nhau tạo thành hình núi tháp nhọn và bên trong có những nọc chấm đặc.

Các nọc chấm đặc này có thể là chữ, dấu hay cả hai chữ và dấu cùng một lúc, chỉ thị nghĩa dương, lửa cho biết núi tháp đất dương, núi lửa, núi đá thế gian thiếu dương Li. Nếu chỉ là chữ thôi thì những nọc chấm đặc này có thể có một khuôn mặt là bụi đất. Bụi đất biểu tượng cho đất khô, đất dương như thấy rõ qua Hán ngữ trần (bụi) 塵,diễn tả bằng từ lộc (hươu) chậy trên mặt đất thổ làm bụi, trần tung bay lên. Cũng nên biết lộc là con nọc, con cọc (Bầu Cua Cá Cọc) biểu tượng cho đất dương, thú biểu của Lộc Tục (Nọc Đực, Nọc Đục) Kì Dương Vương vua Đất Dương Gian ứng với Li (Li biến âm với Kì thấy qua từ đôi li kì).

-Hươu trên trống đồng.

Trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn như trống Ngọc Lũ I, Miếu Môn I có những con hươu nai trên người có nhiều nọc chấm đặc xếp theo hình nọc que chỉ cho biết chúng thuộc ngành nọc dương, lửa, thái dương.

clip_image026

Nai (cái) và hươu (nọc) có rất nhiều dấu/chữ nọc chấm đặc trên người ở trên trống Ngọc Lũ I cho bíết đây là nai hươu dòng nọc, dương, mặt trời thái dương.

Điểm này cũng được xác thực bởi dấu nọc mũi mác > nhỏ ở mõm con vật.

Vì hươu là thú bốn chân sống trên mặt đất nên những nọc chấm đặc diễn tả lửa ở đây là lửa đất thế gian thiếu dương Li.

Những nọc chấm đặc ở đây có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng đất dương.

.Tượng Nước.

Nọc chấm đặc thuộc ngành nọc, dương nên tượng lửa thái dương Càn và lửa thiếu dương Li là hai khuôn mặt chính thường thấy diễn tả bằng nọc chấm đặc.

Còn hai tượng nước và gió thuộc ngành nòng, âm nên ít thấy hơn trên trống đồng nòng nọc biểu tượng của ngành nọc dương. Nếu có thì khi đó nọc chấm đặc có thể đã nghiêng qua mầu đặc đen hay biến dạng mang tính nước và gió cho khỏi nhầm lẫn.

Ví dụ:

-Giọt nước ở nồi xông hơi.

Như đã biết, ở dưới gầm sàn đài cao tam thế ở con thuyền số 4 của tộc Li-Khảm của đại tộc Nước trên trống Ngọc Lũ I có một bình nước để trên bếp lửa.

clip_image028

Thuyền số 4 biểu tượng cho tộc Li/Khảm trên trống Ngọc Lũ I (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Bình tròn như quả bầu mang nghĩa bầu không gian. Trong bình có hình tròn nòng bôi đen diễn tả nước. Nước trong không gian là Khảm. Khảm nước nấu bằng lửa Li. Ta cũng thấy nước nấu trên lửa thành hơi nước tức nước thiếu âm Khảm có cốt khí gió (Long Nữ vợ Kì Dương Vương có mạng Khảm có cốt khí gió âm nên là Nàng Gió). Nước thiếu âm Khảm trên lửa thiếu dương Li diễn tả Khảm hôn phối với Li ở dưới ở dạng lưỡng hợp Li-Khảm (Kì Dương Vương Li với Long Nữ Khảm).

Hình giọt nước tròn có một khuôn mặt của chữ nọc chấm đặc nhưng ở đây thuộc ngành nòng âm nước nên có hình noãn không còn là hình chấm tròn và có thể nghiêng nhiểu về nọc chấm đặc mầu đen.

Trường hợp nọc chấm đặc biến dạng thấyrõ qua hình hai giọt nước có đuôi mang dương tính trong hình thái tứ tượng như đã nói ở trên. Nọc chấm đặc đã biến dạnh thành hình giọt nước dương.

.Tượng Gió.

Khí Gió là dương (. hay I) của âm (O) tức thiếu âm (.O hay IO). Thái dương II của âm O là gió dương IIO, Đoài vũ trụ khí gió. Âm O thái dương II là OII, Tốn có một khuôn mặt gió âm.

Để tránh lầm lẫm với nọc chấm đặc với nghĩa nọc, lửa, đất nguyên tạo, nọc chấm đặc diễn tả khí gió ngành âm biến dạng thành hình gạch nhỏ như gạch nối (-) thường để nghiêng như bị gió thổi tạt nghiêng. Ví dụ thấy ở trên người con sói lang, thiên cẩu biểu tượng cho khí gió (ứng với khuôn mặt bầu trời, khí gió của Hùng Vương) vì sói lang biết tru, biết hú như gió hú (xem Trống Mang Lang Miếu Môn I).

clip_image030

Hươu và sói lang trên trống Miếu Môn I.

Trên thân người sói lang và hươu có hình nọc que (uốn theo thân người) mang nghĩa nọc dương thái dương, mặt trời. Hai bên nọc que này trên người những con sói lang có những hình gạch nhỏ như gạch nối nghiêng như bị gió thổi tạt nghiêng diễn tả thiếu âm khí gió cho biết sói lang là những con thú biểu của khí gió.

Lưu ý trong khi hai bên nọc que ở thân những con hươu có hai hàng nọc chấm đặc hình chấm tròn vo biểu tượng cho nọc, lửa, thái dương. Như đã nói ở trên, hươu là thú bốn chân sống trên mặt đất nên những nọc chấm đặc ở đây diễn tả lửa đây là lửa thế gian thiếu dương Li.

.Tam thế, Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống)

.Chữ nọc chấm đặc ở chữ thập của dóng sấm trên trống Hích có một khuôn mặt là thần Tạo Hóa bao gồm hư vô, thái cực, lưỡng nghi (nhìn chung), tứ tượng hiển nhiên sinh ra tam thế, cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống), sinh sản, tái sinh, hằng cửu.

Trống vành cầu tạo hóa Nguyễn Xuân Quang I có một khuôn mặt là hột mầm tạo hóa sinh ra tam thế diễn tả bằng Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống), sinh sản, tái sinh, hằng cửu.

.Trục thế giới

Nọc chấm đặc ở chữ thập của dóng sấm trên trống Hích đã nói ở trên có một khuôn mặt là thiết diện của trục thế giới, trục vũ trụ.

Như đã nói ở trên, các trống đồng Điền thường được chồng lên nhau hàn gắn lại thành trục thế giới dùng làm trụ thờ. Nếu coi đĩa tròn ở tâm mặt trụ là một nọc chấm đặc thì đĩa tròn này cũng là thiết diện trục thế giới của trụ thờ trống đồng Điền Việt.

.Sinh tạo, tái sinh, hằng cửu.

Như đã nói ở trên, dóng sấm trống Hích và trống vành cầu tạo hóa Nguyễn Xuân Quang I hiển nhiên có một khuôn mặt là sinh tạo, tái sinh, hằng cửu.

DƯỚI DẠNG DẤU

Tương tự như chữ nòng chấm rỗng, chữ nọc chấm đặc cũng được dùng dưới dạng là một dấu (accent) như một chỉ định tố (determinative, indicator) với cùng nghĩa với chữ nọc chấm đặc.

Tổng quát dấu hình chấm đặc (.) có ý nghĩa và chức vụ đối nghịch nòng nọc (âm dương) với dấu nòng chấm rỗng qua tấm gương nòng nọc, âm dương của Dịch lý. Dấu nọc chấm đặc biểu tượng cho dương, nọc, đực nguyên thể, nguyên tạo, sinh tạo, tạo hóa, cõi trên của ngành nọc, dương.

Ví dụ:

-Dàn trống

Bên cạnh ngôi nhà nọc, nhà mặt trời trên trống Ngọc Lũ I và các trống họ hàng có dàn trống.

clip_image032

Dàn trống trên trống Ngọc Lũ I.

Trên mặt vật giống trống có các nọc chấm đặc che kín cho biết tính nọc, đực, trống…. Các nọc chấm đặc cho biết đích thực đây là trống.

Ở đây các nọc chấm đặc nghiêng hẳn về DẤU vì ta đã biết rõ đây là cảnh đánh trống và hình vẽ diễn tả rõ ràng giống trống không thể lầm lẫn với các vật khác. Không có các nọc chấm đặc ta cũng biết đây là trống. Các nọc chấm đặc giữ vai trò của dấu chỉ xác thực thêm đích thực là trống mà thôi. Rõ như ‘con cua tám cẳng hai càng, một mai hai mắt rõ ràng con cua’ là nọc chấm đặc có nghĩa là nọc, đực, TRỐNG và dùng chính yếu như một dấu nói rõ thêm là trống.

-Cối trên trống Ngọc Lũ I.

Bên mỗi nhà nòng không gian ở trống Ngọc Lũ I có một cảnh giã chầy cối. Ở bán viên âm có 6 người nhẩy múa, cối những nọc chấm đặc:

clip_image034

Cối những nọc chấm đặc ở bán viên âm 6 người nhẩy múa.

Hiển nhiên nọc chấm đặc cho biết cối mang dương tính, thuộc phía dương, nhánh dương của phía nòng âm.

Lưu Ý

Như đã biết cối biến âm với cái có một khuôn mặt biểu tượng cho bộ phận dinh dục nữ. Lòng cối hình chữ V có một khuôn mặt biểu tượng cho âm hộ (Việt ngữ Ví, Anh ngữ Vagina, lồn, âm đạo, Vulva, âm hộ khởi đầu bằng chữ V). V biến thành tam giác ngược cũng là hình dạng của âm hộ. Cối có chân ở đây có hình ly (cốc) có chân chalice chữ Y cũng có một nghĩa là bộ phận sinh dục nữ (Phạn ngữ Yoni, âm hộ khởi đầu bằng từ Y). Vì thế nọc chấm đặc ở đây không thể lấy theo nghĩa nọc, đực, dương, nam mà phải lấy theo nghĩa thái dương, nhánh âm thái dương ngành thái dương, mặt trời thái dương. Ở phía nhà nòng âm này là nhánh nọc âm thái dương.

Ngôi nhà nòng không gian có cối mang tính nọc, dương này thuộc nhánh thái dương của ngành nòng âm.

Kiểm chứng lại ta cũng thấy người đứng trước cửa nhà hai tay cầm hai cây phách giơ cao lên. Hai nọc que phách là hai dương, thái dương. Hai cây phách thái dương xác thực tính thái dương của cối có nọc chấm đặc, xác thực cảnh giã chầy cối và nhà thuộc nhánh dương thái dương của ngành nòng âm.

Ở bán viên dương 7 người nhẩy múa bên kia, cối không có nọc chấm đặc:

clip_image036

Cối không có những nọc chấm đặc.

Cối chữ V chữ Y không có nọc chấm đặc mang âm tính cho biết cảnh giã chầy cối này thuộc nhánh nòng âm.

Kiểm chứng thêm ta cũng thấy người đứng ở cửa nhà dùng tay không đang đánh cồng hay trống hình vòng tròn nòng O mang âm tính. Dùng tay không đánh mà không dùng dùi đánh là có chủ ý chỉ diễn tả cồng hay trống hình tròn nòng O là chủ yếu. Ttrong cồng hay trống tròn O có các nọc chấm đặc chỉ thị tính dương. Cồng hay trống nòng âm có nọc chấm đặc mang dương tính này cũng diễn tả nhánh âm mang tính thái dương như cối chữ Y của ngành nòng âm.

Ta thấy ở đây nọc chấm đặc giữ vai trò nghiêng hẳn về một DẤU, cối không bỏ dấu, trống trơn là cối mang tính nòng, âm.

-Tượng cóc trên thạp Đào Thịnh.

Trên trống đồng nòng nọc (âm dương) nhất là những trống sấm mưa và đồ đồng Đông Sơn thường có các tượng cóc/ếch. Phần lớn các ở trống muộn và trống của các nền văn hóa liên hệ hay bị ảnh hưởng của văn hóa Đông Sơn như Thái Lan, Lào, Nam Dương… thường các tượng lưỡng cư là tượng ếch. Vì thế các nơi này gọi trống đồng là trống ếch. Tượng cóc thấy ở các trống cổ, trống minh khí, thạp và các đồ đồng khác thường biểu tượng cho sinh tạo, mắn sinh, tái sinh, phồn thịnh. Ví dụ trên thạp đồng Đào Thịnh có những tượng cóc.

clip_image038

(Rất tiếc tác giả quên mất nguồn trích dẫn).

Trên người những con vật lưỡng cư này có vô số kể những nọc chấm đặc diễn tả tính nọc, dương của con cóc mang dương tính sống trên cạn.

Ngoài ra răng hình nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) và các chữ nọc mũi mác hình tam giác trên người cũng xác thực con vật mang tính dương, thái dương tức đích thực là con cóc. Như đã biết, ngược lại, các tượng lưỡng cư có chữ sóng nước thì đích thực là ếch như thấy ở trống Sangeang Nam Dương (xem Chữ Nòng Nọc Vóng Tròn Que: Từ Hai Nòng Vòng Tròn 7).

 

clip_image039Tượng loài lưỡng cư trên trống Sangeang Nam Dương có hình sóng nước chữ S. Sóng nước chữ S xác thực đây đích thực là ếch không phải cóc.

Thêm nữa các tượng ở thạp này đang cõng hai con nữa diễn tả tính sinh tạo, mắn sinh… Nhìn thẳng xuống lưng, ta thấy con ở dưới là con đực vì nó đang xuất tinh thụ tinh trứng của con cái và con ở trên có thể là con con, như thế diễn tả sinh tạo, mắn sinh.

Tượng cóc ở đây không giống như các tượng ếch đơn chỉ diễn tả mưa, nước. Hiển nhiên thạp đồng dùng mai táng mang ý nghĩa tái sinh, hằng cửu không liên hệ gì tới sấm mưa vì thế các tượng cóc này cũng vậy.

Rõ ràng những nọc chấm đặc ở đây có khuôn mặt chính là những DẤU nọc chấm đặc. Ở những tượng ếch không có dấu này.

-Hai giọt nước dương ở hình thái tứ tượng.

Như đã biết, ở hình thái tứ tượng như thấy trên trống Ngọc Lũ I có hai giọt nước hình nòng OO biến dạng. Hai nòng OO là thái âm có một khuôn mặt là nước. Hai giọt nước được diễn tả ở dạng chuyển động mang dương tính rơi từ trời xuống có đuôi hình nọc que mang dương tính. Hai giọt nước mang dương tính mang nghĩa nọc (I) nước (OO), lửa nước, nước dương diễn tả tượng nước dương ứng với Chấn (IOO).

clip_image040

Hai giọt nước dương ở hình thái tứ tượng trên trống Ngọc Lũ I.

clip_image041

Nọc chấm đặc vẽ lại thành hình nọc chấm trắng cho khỏi lẫn với nền đặc của giọt nước.

Trong mỗi giọt nước có một nọc chấm đặc nổi mang dương tính nọc nguyên tạo nhìn chung với vòng tròn giới hạn bao quanh trông như con mắt. Cả giọt nước trông như con cá vì thế mà Parmentier gọi hình giọt nước này là hình con cá.

Ta thấy rất rõ nọc chấm đặc ở đây nghiêng nhiều về phía một DẤU chỉ định thêm nghĩa nọc, dương, xác thực thêm nghĩa nọc, dương nguyên tạo, bởi vì giọt nước chuyển động vốn đã mang dương tính và đuôi nọc que vốn đã có nghĩa là nước dương Chấn rồi.

-Người trên trống Thành Vân.

clip_image042

Những hình người thuộc tộc đất dương thiếu dương Li thể điệu hóa tối đa trở thành các motifs hình hươu trên trống Thành Vân có hình hai sừng có chấm nọc dương.

Trên trống Thành Vân có hình người thể điệu hóa là người của tộc đất dương Li được diễn tả theo motifs hình “người chim-sừng hươu” có hai sừng có dấu/chữ chấm nọc dương được xếp theo hai hình nọc que có nghĩa là lửa, thái dương biểu tượng cho tộc người Đất dương Li. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là tộc Hùng Kì của đại tộc Hươu Đực Lộc Tục Kì Dương Vương.

Kiểm chứng lại ta thấy rất rõ:

.Trống này có 10 nọc tia sáng Khảm là trống thuộc nhóm thiếu dương Li, Lửa đất dương hôn phối với Khảm.

.Khoảng không gian giữa các tia sáng mặt trời hình núi tháp vách kép có sọc Li.

.Vành chim có 10 chim bay với số 10 là Khảm thế gian hôn phối với Li.

.Trên người chim cũng có hình núi tháp, mắt “vòng tròn có chấm” Li, mỏ to nhọn, ngắn như  búa rìu mang dương tính Li.

.Tổng cộng có 28 người, số 28 là số Cấn tầng 4. Cấn là non, núi âm, có Li núi dương là đại diện (Li số 5 là số dương của Cấn số 4)…

Ở đây những nọc chấm đặc nghiêng nhiều về DẤU vì hai sừng vốn đã diễn tả tính hai nọc, lửa, thái dương rồi.

DƯỚI DẠNG DẤU và CHỮ.

Như đã biết, trong nhiều trường hợp chữ và dấu trong chữ nòng nọc khó phân biệt rõ ràng được. Nhiều khi giữ chức vụ của cả chữ và dấu cùng một lúc. Nọc chấm đặc cũng vậy.

.Dấu/chữ một nọc chấm đặc.

Ví dụ tiêu biểu thấy ở trống Phú Xuyên.

clip_image044

Trống Phú Xuyên (nguồn: Nguyễn Văn Huyên và cộng tác viên).

Hai vành nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) ở ngoài biên trống có một khuôn mặt diễn tả nọc dương thái dương.

Như đã biết nọc mũi mác có một nghĩa là núi tháp nhọn tương đương với hình tam giác diễn tả lửa đất, đất dương Li. Như thế hai vành này cho biết rõ trống có một khuôn mặt đất dương, lửa núi thế gian ứng với Li. Trong mỗi nọc mũi mác hay tam giác có nọc chấm đặc.

clip_image045

Hai vành nọc mũi mác ở biên trống Phú Xuyên.

Nọc chấm đặc này nếu nhìn theo chữ thì diễn tả nọc, lửa, mặt trời nguyên tạo cõi tạo hóa cho biết trống có một khuôn mặt lửa đất Li thế gian đội lốt mặt trời tạo hóa ứng với Viêm Đế, đội lốt mặt trời thế gian ứng với Đế Minh và ở cõi thế gian có thể diễn tả bụi đất. Nếu nhìn dưới một dấu thì cho biết nọc mũi mác hay tam giác diễn tả lửa thế gian có mang tính sinh tạo.

Kiểm chứng lại ta thấy rõ:

.Nhìn tổng thể, trống hết “sức nóng, chói chang” Các yếu tố trên mặt trống trăm phần trăm mang dương tính.

.Trống có một khuôn mặt lửa thiếu dương, lửa đất Li thấy ngay qua hình các con hươu sủa trên mặt trống.

.Mặt trời có 14 nọc tia sáng là mặt trời thái dương Tốn tầng (6, 14) cùng nhóm trống nọc thái dương với trống Ngọc Lũ I.

.Khoảng không gian có hình thái nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) > mang dương tính lửa…

.Hai vành giới hạn nọc chấm đặc mang dương tính lửa, thái dương.

.Hai vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) mang nghĩa dương thái dương ở biên trống kẹp ở giữa hai vành chấm nọc thái dương cho thấy trống là trống thái dương của ngành dương thái dương…

Mặt trống tuyệt nhiên không có một yếu tố âm nào, trăm phần trăm mang dương tính cho thấy trống biểu tượng cho ngành mặt trời lửa dương có một khuôn mặt dương cực độ, của tộc mặt trời thái dương cực dương tức mặt trời ở thiên đỉnh (zenith) trên đỉnh trục thế giới, chính ngọ, giữa trưa.

Trống có một khuôn mặt thiếu dương Li thấy rõ qua các thú biểu hươu sửa trên mặt trống. Li có một khuôn mặt đội lốt thái dương Càn.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, đây là trống Li Kì Dương Vương Vua Mặt Trời thiên đỉnh, trên đỉnh Núi Trụ Thế Gian (Trục Thế Giới) sáng chói, nóng bỏng nhất trong ngày đội lốt Càn Đế Minh thế gian và Càn Viêm Đế tạo hóa (nên nhớ trục thế giới thông thương tam thế, nên Kì Dương Vương đội lốt Đế Minh, Viêm Đế cai trị thế gian là chuyện đương nhiên).

.Dấu/chữ hai nọc nọc chấm đặc.

-Dấu/chữ hai nọc chấm đặc xếp thành hình nọc que.

Ví dụ trên trống Quảng Chính trong các vành mũi mác (răng sói, răng cưa) có dấu/chữ hai chấm ở dạng thẳng đứng hình nọc que mang nghĩa nọc thái dương sinh tạo.

clip_image047

                                                       Một góc trống Quảng Chính

Trống Quảng Chính có mặt trời 16 nọc tia sáng Khôn tầng 3 (0, 8, 16). Khôn hôn phối với Càn. Trống này có một khuôn mặt Càn ở tầng 3 thế gian nên trong các vành răng sói có hai nọc chấm đặc nguyên tạo mang nghĩa hai dương nguyên tạo, lửa, thái dương nguyên tạo. Hai nọc chấm đặc xếp thẳng đứng theo hình nọc que. Các vành giới hạn (border bands) cũng có các chấm nọc nguyên tạo mang dương tính (nọc, lửa, thái dương nguyên tạo). Bốn hình chim có mỏ nhọn nọc lửa, không có bờm (cò không có bờm thường thường biểu tượng cho lửa ), đuôi có hai nọc mũi mác lồng vào nhau mang nghĩa thái dương lửa Càn.

Như thế dấu/chữ hai nọc chấm đặc xác thực nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) có khuôn mặt lửa thái dương Càn hôn phối với khuôn mặt Khôn của trống. Ở đây nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) tương đương với tam giác do ba nọc que Càn ghép lại có nghĩa chính là lửa thái dương, Càn, mặt trời sinh động.

.Dấu/chữ ba nọc chấm đặc.

Ví dụ:

-Một trống Vân Nam, Nam Trung Quốc.

Ngoài biên của một trống Vân Nam có hai vành: một vành nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) có nghĩa là nọc, đực, dương, lửa thái dương, mặt trời, núi tháp nhọn đất dương sinh động…. Trong những nọc mũi mác này có ba nọc chấm đặc xếp theo hình tam giác thuận.

clip_image049

(nguồn: A.J. Bernet Kempers, The Kettledrums of Southeast Asia, A.A. Balkema/Rotterdam/Brookfield, 1988).

Vành bên trong là vành từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm có nghĩa là nước dương, Chấn. Như thế suy ra nọc mũi mác ở đây phải lấy nghĩa là lửa thái dương Càn tương đương với hình tam giác do ba nọc que III ghép lại tức quẻ Càn để có lưỡng hợp nước dương thái âm Chấn với lửa thái dương Càn. Do đó ba nọc chấm đặc xếp theo hình tam giác thuận ở đây phải có nghĩa là lửa thái dương nguyên tạo Càn.

Ba nọc chấm đặc ở đây có thể là chữ hay dấu hay có cả hai chức vụ.

-Trống Làng Vạc II.

Trên trống Làng Vạc II, trong các nọc mũi mác ở hai vành nọc mũi mác ngoài biên trống có ba nọc chấm đặc xếp theo hình tam giác thuận.

Như đã biết nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) có nghĩa là nọc, đực, dương, lửa thái dương, mặt trời, núi tháp nhọn đất dương sinh động….

clip_image050

Một góc trống Làng Vạc II

Trống Làng Vạc II có mặt trời 10 nọc tia sáng Khảm tầng 2 hôn phối với Li. Trống Làng Vạc II có một khuôn mặt Li nên trong các vành răng sói có ba chấm nọc nguyên tạo xếp theo hình núi tháp. Các vành giới hạn cũng có các chấm nọc nguyên tạo mang dương tính sinh tạo. Trống không có hình chim bay biểu tượng cho cõi trời, cho biết trống này biểu tượng cõi đất thế gian, khoảng không gian giữa các tia sáng mặt trời có 5 nọc mũi mác chồng lên nhau. Chữ nọc mũi mác có một nghĩa là dương, lửa sinh động. Số 5 là số Li, lửa thế gian. Năm nọc mũi mác là lửa sinh động thế gian (núi lửa, đất đương) (xem giải đọc trống này).

Như thế dấu/chữ ba nọc chấm đặc ở vị trí ba đỉnh tam giác ở đây lại có nghĩa khác với ở trống Vân Nam nói ở trên. Ở đây ta phải lấy nghĩa lửa thiếu dương Li hôn phối với khuôn mặt Khảm của trống. Ở đây nọc mũi mác  tương đương với tam giác, hình delta do ba nọc que ghép lại diễn tả núi tháp nhọn có nghĩa chính là lửa thiếu dương Li.

.Dấu/Chữ nhiều nọc chấm đặc.

Trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn, chim, thú, nhà, đồ vật… có dấu/chữ nhiều nọc chấm đặc trên người chỉ cho biết chúng thuộc ngành nọc dương, lửa, thái dương.

Thú

Ví dụ:

Hươu.

Như đã nói ở trên trên trống Ngọc Lũ I và Miếu Môn I có những con hươu trên người có nhiều chấn nọc xếp thành hai nọc que kẹp hai bên nọc que liền có nghĩa là nọc, lửa thái dương.

clip_image051

Nai và hươu có rất nhiều dấu/chữ nọc chấm đặc trên người ở trên trống Ngọc Lũ I cho bíết đây là nai hươu dòng nọc, dương, mặt trời thái dương.

Vì hươu là thú bốn chân sống trên mặt đất nên những nọc chấm đặc có một khuôn mặt diễn tả đất dương thế gian Li.

Ta cũng thấy ở những con nai cái cũng có những nọc chấm đặc này. Dĩ nhiên chúng không thể có nghĩa là nọc dương, đực mà phải lấy theo nghĩa thái dương, mặt trời, theo nghĩa thuộc ngành nọc dương mặt trời thái dương. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt Nàng Lửa Âu Cơ có một khuôn mặt là thái dương thần nữ có biểu tượng là con nai đốm hình nọc chấm đặc là thuộc ngành nọc lửa mặt trời thái dương Viêm Đế, Đế Minh, Kì Dương Vương.

Việt ngữ gọi nai đốm là nai sao. Bởi sao là lửa sáng về đêm mang âm tính. Sao gọi là nàng sáng. Theo duy âm, ở ngành âm, Âu Cơ là Nàng Sáng có biểu tượng là Sao Mai. Các vị thần nữ mặt trời như thần Isis của Ai Cập tương ứng với Âu Cơ cũng có khuôn mặt dòng âm là sao Vệ Nữ (Venus).

-Cá Sấu Dao.

Trên trống Dao (Giao) Việt Hòa Bình có bốn cón thú bốn chân hình giống thằn lằn có đuôi hình móc nước và con mắt âm từ hai vòng tròn đồng tâm thái âm có nghĩa là nước. Con vật này thuộc loài bò sát thằn lằn sống được dưới nước chính là con cá sấu. Mõm nhọn hình nọc mũi mác, mũi dao nên thuộc loài cá sấu dao gavial.

clip_image052

Sấu mõm dao trên trống Hòa Bình.

Trên người có nhiều chấm nọc xếp thành hai nọc que kẹp hai bên nọc que liền có nghĩa là nọc, lửa thái dương. Những nọc chấm đặc ở đây lấy theo nghĩa nọc mặt trời thái dương, ngành nọc dương mặt trời thái dương.

Vì là tộc nước nên thuộc nhánh nọc âm thái dương của ngành nọc dương thái dương.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt đây là trống biểu của nhánh mặt trời thái dương Khôn Thần Nông của ngành mặt trời thái dương Càn-Khôn Viêm Đế-Thần Nông. Ổ cõi thế gian là trống Dao Việt của đại tộc Lạc Việt Lạc Long Quân, họ Hồng Bàng thế gian.

-Trong đồ đồng Đông Sơn như trên thạp, rìu đồng và cả trên tấm che ngực … có rất nhiều thú biểu thuồng luồng, dao long có cốt là cá sấu dao (gavial), cá sấu Việt cho biết thuộc dòng mặt trời nước, nọc âm thái dương ứng với Lạc Việt Lạc Long Quân.

Ví dụ:

clip_image053

Giao long Đào Thịnh (trái), Đông Sơn (giữa) và Ninh Bình (phải).

Trên người dao long đều có những nọc chấm đặc, ở đây, lấy theo nghĩa thuộc nhánh nọc âm thái dương của ngành nọc dương mặt trời thái dương

Rìu thờ Đông Sơn

clip_image055

Trên chiếc rìu thờ Đông Sơn mà tôi gọi là rìu Hồng Bàng có hình một cặp cá sấu thuồng luồng, dao long, trên người cũng có những nọc chấm đặc có cùng nghĩa như đã nói ở trên.

….

Nhà

Ví dụ:

-Ở một ngôi nhà nòng, âm, không gian trên trống Ngọc Lũ I.

clip_image056

Một ngôi nhà nòng, âm, không gian trên trống Ngọc Lũ I. Trong nhà có người đang đánh vào một vật tròn trong có chữ/dấu nọc chấm đặc .

Nhà bầu tròn có mái vòm bầu trời, không gian, hình mu rùa. Vành nọc chấm đặc diễn tả tính nọc, dương. Những nọc chấm đặc ở đây có thể là chữ hay dấu cho biết nhà nòng không gian này thuộc nhánh nọc âm thái dương.

Như đã nói ở trên  trước cửa nhà có một người dùng tay không đánh cồng hay trống tròn nòng O trong có những chữ/dấu nọc chấm đặc. Theo duy âm cho biết là cồng mang dương tính. Theo duy dương là chiếc trống tròn hình nòng O biểu tượng cho tộc nòng mang tính dương, thái dương của ngành nọc âm thái dương.

-Ở một ngôi nhà nọc mặt trời trên trống Ngọc Lũ I.

clip_image058

Một ngôi nhà nọc mặt trời trên trống Ngọc Lũ I.

Trong một ngôi nhà nọc, nhà trống ở bán viên âm của 6 người nhẩy múa có vật trông như cái cối hình chữ U có góc cạnh mang dương tính, có rất nhiều dấu/chữ nọc chấm đặc cho biết đây là chiếc trống cối hay thiết diện của trống mõ (slit drum).

Thuyền

Ví dụ các thuyền trên trống Ngọc Lũ I.

Thuyền số 1 Càn sinh tạo của đại tộc nòng âm nước Chấn.

clip_image060

Thuyền số 1 Càn dẫn đầu sáu thuyền đọc theo chiều âm của đại tộc Nước.

Thành của sàn đài cao tam thế che kín bởi những chữ/dấu nọc chấm đặc chỉ cho biết thuyền có một khuôn mặt chủ là nọc, lửa, thái dương, ở đây là lửa thái dương Càn vì là thuyền Càn.

Dưới gầm sàn đài tam thế có để vật đựng hình trống hay trống có những dấu/chữ nọc chấm đặc che kín. Vật này có hai khuôn mặt. Theo duy âm là vật đựng thái âm mang dương tính, theo duy dương là trống thái dương của phía nòng âm vì để ở hạ thế dưới gầm sàn trung thế. Ở đây mang khuôn mặt dương (vì người gác cổng thượng thế quay về phía mũi thuyền, dương) là trống có một khuôn mặt diễn Càn của phía nòng âm đại tộc nước ăn khớp với thuyền Càn một trăm phần trăm.

(xem Từ Nòng Hai Vòng Tròn 6).

Người

Ví dụ người trên trống Thành Vân như đã nói ở trên.

Vân vân…

Và dĩ nhiên còn nhiều vô số kể nữa.

Kết Luận

Tóm lại nọc chấm đặc mang tất cả ý nghĩa của thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh ở dạng nguyên tạo, theo chính thống dùng diễn tả nọc dương ở cõi tạo hóa từ hư vô tới thái cực, lưỡng nghi (nhìn chung), muộn về sau thường được thay thế bằng nọc que.

.Nọc chấm đặc có hai khuôn mặt: chữ và dấu. Cần phải phân biệt chữ nọc chấm đặc với dấu nọc chấm đặc. Nhiều khi phải dựa vào bài bản mới biết rõ là dấu hay chữ. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp chữ và dấu trong chữ nòng nọc rất khó phân biệt rõ ràng trắng đen được. Nhiều khi giữ chức vụ của cả chữ và dấu cùng một lúc.

.Chữ và dấu nọc chấm đặc phải được đọc và lấy nghĩa đúng theo dịch lý.

.Khi âm hóa tối đa tiến tới điểm cực âm, nọc chấm đặc biến thành một nòng chấm rỗng hay một chấm mầu đen (không phải là chấm đặc mang dương tính).

.Có những trường hợp nọc chấm đặc là những chấm trắng, có mầu trắng lại diễn tả là dương như thấy trong các hình Hà đồ (River map) và nọc chấm đặc cũng có thể là những con số như trong các con số của Maya (từ số 1 đến số 4). Cần phải phân biệt những nọc chấm đặc là dấu, là chữ, là con số.

.Thoáng nhìn thấy trống nào có nhiều chữ hay dấu nọc chấm đặc, ta biết ngay trống đó có một khuôn mặt nọc, dương hay thuộc ngành nọc dương thái dương. Ta có hệ luận:trên mặt bất cứ một trống đồng nòng nọc (âm dương) nào của đại tộc Đông Sơn có những vành giới hạn nọc chấm đặc thì ta biết ngay trống đó thuộc ngành nọc dương thái dương hay là trống biểu của một tộc, đại tộc, nhánh, ngành nọc dương thái dương.

.Chữ và dấu nọc chấm đặc thấy rất nhiều trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Nhiều hơn bất cứ ở các nền văn hóa khác và viết theo một ngữ pháp rất chuẩn của chữ nòng nọc vòng tròn-que.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, nọc chấm đặc thấy rõ có mặt ở những trống thuộc ngành nọc, dương, lửa, Viêm Đế, Đế Minh, Kì Dương Vương…

(Xem tiếp Chữ Một Nọc Que).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: