CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE, TỪ NÒNG HAI VÒNG TRÒN (phần 7, hết):TRÊN TRỐNG ĐỒNG.

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE.

(Circle-Rod Writings).

TỪ HAI NÒNG VÒNG TRÒN OO.

(Two Circle Word).

(Phần 7 và hết)

 TỪ NÒNG HAI VÒNG TRÒN TRÊN TRỐNG ĐỒNG CỦA ĐẠI TỘC ĐÔNG SƠN.

Nguyễn Xuân Quang

Các Dạng Từ Nòng Hai Vòng Tròn.

1. Hai Vòng Tròn Nòng Riêng Rẽ.

Hai vòng tròn riêng rẽ chuyển động mang dương tính biến dạng. Như đã nói ở trên, hai giọt nước OO chuyển động có đuôi nhọn mang dương tính diễn tả nước rơi từ trời biểu tượng nước dương Chấn trong hình thái tứ tượng đã nói ở trên.

clip_image003

clip_image005

-Hai giọt nước OO chuyển động thể điệu hóa thành giọt nước có đuôi mang sương tính hình hạt hạnh nhân clip_image007 trên trống Làng Vặc như đã nói ở trên.

2. Hai Vòng Tròn Nòng Đồng Tâm.

Trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn những vành trống không (do hai nòng O đồng tâm tạo thành) mang nghĩa nòng Khôn. Theo duy âm là Khôn âm, thái âm nước, theo duy dương là Khôn dương, thiếu âm nguyên thể của khí gió.

Ví dụ tất cả các trống đồng có vành giới hạn trống không do hai nòng vòng tròn tạo thành đều là những trống thuộc nhánh nòng Khôn (ngược với vành có nọc chấm đặc mang dương tính là những trống thuộc nhánh nọc Càn).

Ví dụ :

-Vành trống không mang tính thái âm OO, nước thái âm.

Trống Nam Ngãi II.

clip_image009Trống Nam Ngãi II.

Trống Nam Ngãi II là trống sấm mưa (có mặt trời 12 nọc tia sáng Cấn/Chấn, có dóng sấm, có tượng ếch/cóc, có người tộc nước, có hình thuyền trên mặt trống…) (xem trống này). Trống có các vành giới hạn trống không mang tính Khôn âm, thái âm nước.

-Vành trống không mang tính thiếu âm IO.

.Trống Quảng Xương.

clip_image011Trống Quảng Xương.

Trống Quảng Xương là trống thuộc nhánh Khôn-Càn có mặt trời 8 nọc tia sáng (số 8 là số Khôn tầng 2), ngoài biên có các vành nấc thang hay đường rầy (hiện gọi sai là răng lược) mang nghĩa nọc âm thái dương có một khuôn mặt chủ khí gió nên có các vành giới hạn trống không mang tính Khôn dương khí gió.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử việt, trống Quảng Xương là trống biểu của Liên Bang Văn Lang Hùng Vương có một khuôn mặt bầu trời tạo hóa.

.Trống Làng Vạc II.

clip_image013Trống Làng Vạc II.

Trống Làng Vạc II có vành trống không lớn ở mặt trống giới hạn bởi hai nòng vòng tròn diễn tả Khôn. Trống thuộc nhóm thiếu dương có mặt trời 10 nọc tia sáng. Số 10 là số Khảm tầng 2 (2, 10) có một khuôn mặt hôn phối với Li lửa đất thế gian. Khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có hình thái các nọc mũi mác chồng lên nhau mang dương tính. Có vành giới hạn nọc chấm đặc mang dương tính, ngoài biên có hai vành nọc mũi mác nọc thái dương…Như thế vành Khôn ở đây là Khôn dương thiếu âm, khí gió. .

Ta có Hệ Luận

Nhìn bất cứ trống đồng nào có vành giới hạn trống không do hai nòng vòng tròn đồng tâm tạo thành ta biết ngay trống đó mang nhiều âm tính hay thuộc nhánh nòng Khôn.

.Chim nông nước trên trống Hoàng Hạ.

Chim nông nước (bồ nông), như đã biết, thấy ở trống trống Ngọc Lũ I, ở tang trống Hoàng Hạ trên người có từ nòng hai vòng tròn đồng tâm có nghĩa thái âm, nước .

clip_image015

.Người và cò nước, cò Lạc trên trống Đắc Giao:

clip_image019

Cò trên trống Đắc Giao trên người có hai từ nòng hai vòng tròn đồng tâm và có con mắt âm hai vòng tròn đồng tâm.

Trống Đắc Giao là trống sấm mưa (có dóng sấm, có tượng cóc/ếch, có người tộc nước có con mắt âm…) có bốn con cò nước, tên cò viết trên người cò là hai từ hai vòng tròn đồng tâm có nghĩa là thái âm, nước và có con mắt mắt âm cũng vậy.

Những người chim-mặt trời ở đây cũng có con mắt âm là từ hai vòng tròn đồng tâm, thái âm, nước thuộc tộc mặt trời nước (ứng với Lạc Long Quân).

. Nước dương Chấn.

Từ chấm-hai vòng tròn đồng tâmclip_image021 gồm có chấm nọc đặc (.) nguyên tạo có nghĩa là nọc dương sinh tạo và hai nòng OO thái âm có một nghĩa nước thái âm. Gộp lại là lửa nước, nước dương (.)OO ở cõi tạo hóa, nguyên thể của IOO, Chấn nước dương ở tầng lưỡng bát tượng.

Như đã thấy rõ ở trên :

clip_image020

Ở một số những trống khác hai giọt nước dương Chấn thấy trên trống Ngọc Lũ I được viết thay thế bằng từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm có nghĩa là nước dương Chấn. Ví dụ như ở trống Làng Vạc IV.

clip_image023Trống Làng Vạc IV có tượng Chấn nước dương viết bằng từ hai vòng tròn đồng tâm có nọc chấm đặc thay vì hai giọt nước dương có đuôi như ở trống Ngọc Lũ I.

-Trống Hà Giang I.

Trống này là trống sấm mưa (có dóng sấm…)

Người và cò trên trống Hà Giang I có từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm có nghĩa là nước dương.

clip_image025Cò trên trống Hà Giang I.

Trên người cò có hình sóng nước dương diễn tả bằng chuỗi chữ V dưới dạng nước chẩy về chiều dương, tay phải >>>> (xem dưới).

3. Các Dạng Chính Khác Của Từ Nòng Hai Vòng Tròn.

Ngoài dạng hai nòng vòng tròn riêng rẽ hay đồng tâm còn có dạng kết hợp chập lại, dính nhau thành một vòng tròn có độ dầy gấp đôi vòng tròn chuẩn mang tính thái âm hay gấp rưỡi mang tính thiếu âm và ở dạng chuyển động mở ra mang dương tính…

Hai Vòng Tròn Đồng Tâm Dính Chập Lại.

Hai nòng OO vòng tròn còn có thể ở dưới dạng hai vòng tròn đồng tâm dính chập lại thành một vòng tròn có độ dầy gấp đôi, mang tính âm gấp đôi tức thái âm hay độ dầy gấp rưỡi mang tính thiếu âm.

Vòng tròn có độ dầy gấp đôi thái âm.

Như đã nói ở trên trống Lang Vặc là trống biểu của một tộc nước thái âm duy nhất của nhánh nọc dương thái dương có vỏ thượng thế có độ dầy gấp đôi vòng tròn chuẩn có thể coi là do hai vòng tròn nòng OO dính chập lại.

Vòng tròn có độ dầy gấp một rưỡi thiếu âm.

Những trống diễn tả tộc gió thiếu âm có vỏ thượng thế có độ dầy mang tính thiếu âm bằng một rưỡi vòng tròn chuẩn. Ví dụ như đã nói ở trên trống Việt Khê.

Hai nòng vòng tròn đồng tâm chuyển động.

Hình vòm bán cầu vách kép.

Hai vòng tròn nòng đồng tâm chuyển động thành hình vòm bán cầu vách kép.

Ví dụ nhà vòm nòng không gian trên trống Ngọc Lũ I.

clip_image027

Nhà vòm nòng không gian trên trống Ngọc Lũ I.

Ở trống Ngọc Lũ I và các trống họ hàng, đi đôi với các nhà nọc mặt trời mái có đầu đao nhọn là những nhà nòng, không gian hay nhà rùa có hình bán cầu mái vòm kép, một dạng chuyển động của hai nòng vòng tròn đồng tâm. Ở hai đầu mái có hai từ hai vòng tròn đồng tâm có chấm có một nghĩa là nước dương, Chấn.

Nhà không nòng gian, nhà rùa mái vòm thái âm nước này là nhà nòng âm không gian, thuộc phía nòng, âm, thái âm, nữ.

Hai Vòng Tròn Chuyển Động Mở Ra.

Hai vòng chuyển động mở ra mang tính năng hoạt, sinh động có dương tính, có thể thấy ở những dạng chính sau đây:

a. Hai vòng tròn mở ra còn dính vào nhau.

.Hình vô cực ∞.

Như đã nói ở trên, hai nòng vòng tròn chuyển động dính thông thương với nhau tạo thành hình số 8 nằm ∞, sau dùng trong toán học làm dấu vô cực.

Trên trống Tanurejo, Java (loại Pejeng), mặt trống có những hình sóng, có sóng hình số ∞:

clip_image029.clip_image030

Hiển nhiên trống này có khuôn mặt nòng hai vòng tròn thái âm, nước mang tính chủ.

. Hình thái uốn khúc (Meander patterns).

Những hình thái uốn khúc thường thấy nhất đã thấy từ thời cổ. Trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn có rất nhiều hình thái này.

Nhìn tổng quát, hình thái uốn khúc mang trọn nghĩa Vũ Trụ giáo (tạo sinh, sống, mắn sinh, phồn thực, chết, tái sinh, hằng cửu, vĩnh cửu…) của dòng nòng. Hình thái uốn khúc có nguồn gốc nguyên thủy liên hệ tới nòng nọc (âm dương), nước lửa (mây mưa chớp, sấm) ở dạng năng động.

Lưu ý.

Cần phải phân biệt với các hình thái uốn khúc dùng trong nghệ thuật hiện đại thấy ở hầu hết các nền văn hóa. Ngày nay nhiều khi chúng được dùng như những đường viền trang trí (border patterns). Dạng đường viền trang trí tân thời có khi không mang một ý nghĩa nào dính dáng đến Vũ Trụ tạo sinh. Ví dụ như hình thái uốn khúc hồi văn chữ công của Trung Hoa, Chữ T Hy Lạp… Chúng chỉ khác nhau bởi các chi tiết về ý nghĩa ngày nay dựa theo văn hóa của mỗi tộc. Hình thái uốn khúc chữ T Hy Lạp (Greek T patterns) thấy từ thời cổ Hy Lạp. Ngày nay thấy rất phổ thông trong các trang trí và đồ nữ trang. Hiện nay người Hy Lạp giải thích hình này mang nghĩa trường cửu, vĩnh cửu (lấy theo nghĩa của số 8 nằm, vô cực) và dĩ nhiên truy tìm tới cội nguồn, tới nguồn gốc sâu thẳm cùng tận thì chính là nghĩa tái sinh, hằng cửu của Vũ Trụ thuyết. Ngoài ra ngày nay những hình thái uốn khúc xoắn vuông này nhiều khi chỉ thuần túy dùng như một đường viền trang trí cho đẹp mắt mà thôi.

Sau đây là một vài hình thái uốn khúc thấy trên trống đồng Đông Nam Á.

-Hình Thái Uốn Khúc Gợn Sóng Chữ S (S shaped meanders).

./ Hình Thái Uốn Khúc Gợn Sóng S Đơn.

Hai nòng vòng tròn OO chuyển động mở ra nhưng còn dính vào nhau tạo thành hình chữ S. Hình xoắn chữ S mang trọn nghĩa của nòng OO nhưng có thêm tính chuyển động, sinh tạo.

Hình thái chữ S có hai dạng:

-Sóng cuộn hai đầu kín clip_image032.

Sóng cuộn kín này do từ nòng hai vòng tròn (có một nghĩa thái âm, nước) dính nhau chuyển động mở ra có hình chữ S nằm hai đầu còn giữ hình vòng tròn nhỏ. Ví dụ thấy ở trang phục đầu người chèo thuyền số 6 trên trống Ngọc Lũ I.

clip_image034Thuyền số 6 biểu tượng cho tộc Tốn-Chấn trên trống Ngọc Lũ I (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Như đã nói ở trên, thuyền số 6 là thuyền tộc Tốn/Chấn có một khuôn mặt nước dương, chuyển động, nước thái âm ngành thái dương.

Phần sau trang phục đầu người chèo thuyền có phần dưới hình hộp chữ nhật có nghĩa là không gian O thể điệu hóa. Trong hộp không gian có hình sóng cuộn kín, hai vòng tròn ở đầu trong có bỏ hai dấu nọc chấm đặc nguyên tạo có một nghĩa là dương. Hình sóng mang nghĩa nước, hai chấm là thái dương. Hình sóng cuộn kín có hai nọc chấm đặc là Chấn, nước dương, nước thái dương.

Hiển nhiên sóng cuộn kín hai đầu là sóng nước thái âm do từ nòng hai OO chuyển động mở ra tạo thành. Rõ như ban ngày người chèo thuyền này thuộc tộc mặt trời nước Chấn.

Lưu ý ở đây chỉ là con thuyền tộc Chấn, như đã biết, tất cả các chi tiết đều mang nghĩa nước dương Chấn, sóng ở đây có hai vòng tròn nên là sóng nước chứ không phải là vòng tròn tiếp tuyến.

-Hình sóng dấu ngã.

Sóng nước thái âm chuyển động thêm nữa mở hết ra thành hình chữ S dấu ngã clip_image035. Hiển nhiên đây là dạng hai nòng OO thái âm chuyển động có một nghĩa là nước thái âm chuyển động, dương, nước dương, nước chuyển động, sóng. Việt ngữ Sóng có chữ S khởi đầu.

Hình sóng chữ S đơn thấy trên nhiều trống của đại tộc Đông Sơn.

Ví dụ:

clip_image037Kiến trúc tượng ếch làm phỏng theo tượng ếch trên trống đồng nòng nọc có hình xoắn nước hình chữ S (hình chụp tại Nam Ninh, nam Trung Quốc).

./Hình Thái Uốn Khúc Xoắn Sóng S Kép (Double S-shaped Spirals).

a. Dạng nước thái âm thuần âm.

Ở đây là một cách khác dùng hai sóng đơn ghép lại để có hai âm chuyển động, cũng diễn tả thái âm, nước chuyển động.

Ví dụ: tượng ếch trên trống Sangeang Nam Dương:

clip_image039Tượng loài lưỡng cư trên trống Sangeang Nam Dương có hình sóng nước chữ S. Sóng nước chữ S xác thực đây là ếch không phải cóc.

Trên trống Trăng Bali loại Pejeng, Nam Dương có nhiều hình dạng uốn khúc trong đó có hình sóng nước kép như thấy ở mặt một trống loại Trăng Bali nhỏ tại Bảo Tàng Viện Quốc Gia Singapore:

clip_image041Mặt một trống loại Pejeng Moon Bali tại Bảo Tàng Viện Quốc Gia Singapore (ảnh của tác giả).

Hiển nhiên trống loại này mang tính thái âm thuộc tộc nước thái âm ngành nọc âm thái dương. Điểm này ăn khớp trăm phần trăm với các tộc sống ở hải đảo, một thứ Lạc Việt hải đảo.

b-Dạng nước thái âm mang tính thái dương.

.Trên trống Hoàng Hạ có một vành hình uốn khúc gợn sóng chữ S kép chuyển động vô cùng vô tận.

clip_image043Một phần vành sóng chữ S kép mang tính thái dương trên trống Hoàng Hạ.

Ở đầu có hai cuộn sóng là hai từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm có một nghĩa là nước dương Chấn. Hai đầu cuộn sóng có bỏ thêm dấu nọc que mang nghĩa thái dương xác thực tính lửa, thái dương của sóng Chấn, cho biết trống biểu tượng cho một đại tộc nước dương dòng nòng nước ngành nọc thái dương.

.Trống Salayar, Nam Dương.

Trống Salayar có một khuôn mặt nước thái âm mang tính thái dương ứng với Chấn, như đã nói ở trên, có những tượng ếch có con mắt thái âm, nước. Trống có một vành sóng nước chữ S kép.

clip_image045Ếch trên trống Salayar, Nam Dương có con mắt âm hai vòng tròn đồng tâm, thái âm, nước và vành sóng nước chữ S kép.

.Những trống và cồng khác.

Ngoài ra còn thấy trên một vài trống khác thuộc dòng nòng âm thái âm, nước như trống Vienna (Khai Hóa), Lào, Salayar (Nam Dương) và những trống muộn khác…

clip_image047Hình 4 trang 100 trong The Kettle Drums of Southeast Asian Bronze Drums của A. J Bernet Kemps cho thấy 6 loại “hình xoắn hai chữ S”.

Hình xoắn chữ S kép gồm hình sóng do hai chữ S thường (hình A, B, F) hay có bổ nghĩa thêm bằng chữ nòng nọc “vòng tròn có chấm” (hình C, D) với nghĩa nọc, dương….

Ngoài ra:

-Hình A còn có hai nhánh nọc nẩy ra từ thân của hình xoắn dưới dạng hình móc nước xác thực thêm tính nước thái dương Chấn.

-Hình B và C hai hình móc nước có bỏ dấu chấm-vòng có nghĩa là hai dương xác thực nước lửa, thái dương Chấn.

-Hình D ở hai dầu sóng kép có hai nọc thái dương và trong cuộn có hình chấm-vòng tròn cũng mang nghĩa thái dương xác thực là nước thái dương Chấn.

-Hình E hai móc nước ở thân có hình hai đầu chim là hai dương, thái dương có bờm mang nghĩa nhánh nọc âm thái dương.

-Hình F hai hình móc nước ở thân có hình hai đầu chim có mũ sừng như chim cắt mang nghĩa thái dương của nhánh nọc dương thái dương.

Trên thân trống Miếu Môn cũng thấy hình thái này:

clip_image049Hình thái xoắn chữ S kép có hai nhánh nhỏ móc nước trong có hai dấu chấm vòng tròn diễn tả nước thái dương trên trống Miếu Môn I.

Đặc biệt hình thái sóng chữ S kép này cũng thấy trên một ‘cồng’ (có thể biến cải từ một nắp thạp, xem Thạp Đồng Việt Khê…) ở nam Trung Quốc (cồng là một thứ trống của phía nòng âm. Cồng biến âm mẹ con với còng như còng đeo tay = vòng đeo tay, biến âm với nòng O):

clip_image051

clip_image052Một cồng nam Trung Quốc.

Ở đây hình móc nước ở dạng đơn giản chỉ cho biết một cách giản dị là nước nước dương Chấn.

Những móc nước này có thể giữ chức vụ của một dấu (xem dưới).

….

.Hình Thái Uốn Khúc Vuông Góc (Square meander pattern).

Dạng dương hóa đơn thuần từ hình thái uốn khúc xoắn chữ S sóng nước qua dạng hình thái uốn khúc xoắn vuông góc thấy rõ qua chứng tích các hình vẽ trên đá chỉ “big wave” (“sóng lớn”) (Heike Owusu, p. 83) và cũng là biểu tượng của “Water clan” (Tộc Nước) (p. 93) của các tộc thổ dân Mỹ châu như Hopi (hình số 3):

clip_image054

Ví dụ:

Trống Tân Ước

Trống Tân Ước có vành tứ hành bao quanh mặt trời-không gian có vành uốn khúc vuông góc.

clip_image056Vành tứ hành ở trống Tân Ước.

Vùng tứ hành này gồm hai vành chấm vòng tròn có tiếp tuyến diễn tả thiếu dương Đất dương Li-thiếu âm gió Đoài khí gió vận hành kẹp giữa vành uốn khúc sóng vuông góc nước thái âm dương Chấn và nọc mũi mác lửa thái dương Càn chuyển động ôm vào nhau dưới dạng lưỡng hợp thái dương thái âm.

clip_image057

Lưu tâm trống Tân Ước là trống muộn nên vòng nọc mũi mác ở vùng tứ hành chỉ có một phần và trong hình thái tứ tượng thay vì tượng nước phải là chữ chấm hai vòng tròn đồng tâm thì ở đây viết sai chỉ là một vòng tròn chấm.

Trống Sông Đà.

Ngoài biên trống Sông Đà có hai vành răng sói, răng cưa mang nghĩa thái dương kẹp ở giữa hai chuỗi uốn khúc hình thái sóng vuông góc Chấn và hai chuỗi uốn khúc hình thái khí gió chuyển động hình sóng cuộn hình thoi Đoài. Ba vành này cho biết trống Đoài này có hai khuôn mặt chính là Đoài Chấn (xem trống này).

clip_image059Một bán viên Sông Đà.

Những hình thái uốn khúc “lôi văn”, sấm gầm này thường thấy trên các trống dòng nòng, âm và nhất là trên các trống sấm có mặt trời 12 nọc tia sáng làm muộn sau này.

Lưu Ý.

Cần lưu tâm: trong mỗi loại hình thái uốn khúc xoắn, ta cần phải phân biệt nhiều thể dạng: dạng nam hóa, dạng hỗn hợp của nhiều thành tố âm dương, dạng thể điệu hóa có thể không mang dương tính và dạng đường viền trang trí tân thời không mang một ý nghĩa nguồn cội là Vũ Trụ tạo sinh.

Tóm lại

Khi nhìn thấy những hình thái sóng nước này trên một trống thì ta phải nghĩ ngay trống đó có thể thuộc ngành, nhánh nọc âm nước thái âm, đại tộc, tộc nước hay trống sấm mưa ngành nọc dương thái dương ứng với một khuôn mặt nước dương của Chấn.

.Hình lá đa, lá đề hay trái tim hai thùy có đỉnh nhọn dương.

clip_image061Hình lá đa, lá đề hay trái tim kép hai thùy có đỉnh nhọn dương.

Như đã biết hình lá đa, lá đề, trái tim có một khuôn mặt là do hai nòng OO dính nhau chuyển động mở ra (bằng chứng thường có hai đầu hở cuộn cong lại thành hai móc nước), có nghĩa là âm, thái âm, nước, bộ phận sinh dục nữ, nữ… mang tính chuyển động, dương, thái dương, ngành thái dương.

Ví dụ:

./Đầu dóng sấm (búa thiên lôi, vajra, thunderbolt).

Những dóng sấm chữ thập trên trống Hàng Bún (hiện nay hiểu lầm là vật ‘hình trâm’) diễn tả sấm chuyển động bốn phương trời (Trống Đồng: Dóng Sấm Hình Trâm).

clip_image002[4]

Dóng sấm chữ thập trên trống Hàng Bún tương đương với vajra chữ thập.

Dóng sấm có bốn tay. Mỗi tay biểu tượng cho một dóng sấm đơn. Đầu dóng sấm đơn có hình lá đa, lá đề, trái tim kép có một nghĩa là nước thái âm chuyển động. Thân (cán búa thiên lôi) hình hai nọc que diễn tả lửa, thái dương. Nước chuyển động mưa và lửa chớp tạo ra sấm. Viết theo nòng nọc (âm dương) cán nọc que I chớp và nước mưa OO, gộp lại IOO, Chấn có một khuôn mặt sấm mưa.

Những dóng sấm ở nhiều trống khác cũng tương tự.

./Hình mặt người hay mặt nạ trên trống Pejeng, Nam Dương.

Trên các trống loại pejeng của Bali như trống Trăng Bali, ở thân trống có các hình mặt người

Hay mặt nạ hình trái tim hay lá da cho biết họ thuộc tộc nước dương hay là một vị âm thần ở cõi âm.

clip_image002

Mặt người trên trống Trăng Bali và trống Manuaba, Bali, Nam Dương.

Con mắt có vành sọc nước xoáy. Hai hoa tai là hai nòng OO, thái âm.

-Hình vòm trời.

Hình vòm trời là một cung tròn có thể do một O mở ra hoặc hai OO (dính chập lại) hay ba chữ nòng OOO (dính chập lại) mở ra tạo thành. Ở đây ta đang nói về từ nòng hai vòng tròn OO nên ta nói về cung vòm trời do hai nòng OO dính chập lại với một vòng mang dương tính nọc (I) có độ dầy bằng nửa vòng tròn chuẩn và một vòng tròn thường mang tính nòng (O) tức thiếu âm IO khí gió ở cõi sinh tạo tứ tượng.

Ví dụ hình cung bờm gió ở hình thái tứ tượng (hiện gọi lầm là họa tiết lông công) thấy ở trống Ngọc Lũ I và các trống họ hàng.

clip_image070Tượng gió hình cung bờm gió ở hình thái tứ tượng trên trống Ngọc Lũ I.

Ta thấy rõ như ban ngày, ở đây gió thiếu âm là một tượng (gồm hai yếu tố) ở tầng tứ tượng

nên cung vòm trời phải do hai nòng OO ghép lại mở ra.

-Chuỗi sóng cung vòm chuyển động.

Nhiều cung vòm trời nối kết chuyển động tạo ra chuỗi sóng cung vòm hình dạng sóng hình vòm dạng sin (sinusoid) mang nghĩa gió chuyển động.

clip_image072Không khí dưới dạng sóng hình vòm (nguồn: J.E. Cirlot, A Dictionary of Symbols, Barnes & Noble Books NY, 1995).

Kiểm chứng lại ta cũng thấy hình vòm trời là hình chữ U úp xuống. Như đã biết U là dạng thái dương II của nòng O còn mang âm tính vì còn phần cong ở đáy nghĩa có một khuôn mặt chính là âm nữ thái dương. Ví dụ U (Âu) Cơ là nữ thái dương của chúng ta, là Nàng O Lửa II tức OII, có một khuôn mặt là Tốn OII (không gian O lửa, thái dương, Khôn dương) có một nghĩa là gió âm.

Như thế chuỗi sóng diễn tả gió nhìn theo duy âm theo chữ U là gió âm Tốn OII. Nếu nhìn ngược lại theo duy dương theo hình vòm trời chữ U úp xuống thì ta có Đoài vũ trụ khí gió tức IIO (ngược với Tốn OII). Trường hợp này giống như ở chuỗi chữ V nước thái âm mang dương tính, nếu nhìn theo duy dương ngược lại của chữ V là nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) Ʌ có một nghĩa là lửa thái dương thì chuỗi sóng nước trở thành chuỗi sóng lửa (như thấy ở hình fire ở trên).

Trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn sóng chuỗi gió dương thường diễn bằng hai hình sóng vòm nhọn đầu (mang dương tính vì ở trên trống có một nghĩa là đực, dương)

đan vào nhau tạo thành hình thoi như thấy ở trống Sông Đà:

clip_image074Vành ngoài biên trống Sông Đà có những đoạn sóng Gió dương hình thoi.

Ở thân trống cũng có hình thái này:

clip_image076Dải sóng hình thoi ở trống Sông Đà.

Ta thấy rõ sóng hình thoi có đầu nhọn mang dương tính và có bỏ dấu chấm vòng tròn có một nghĩa dương để nhấn mạnh là gió dương, ngành thái dương. Trống Sông Đà có một khuôn mặt gió Đoài vũ trụ khí gió mang tính chủ (xem trống này).

Tại sao trên trống đồng lại chọn diễn tả ở dạng hình thoi? Như đã biết hình thoi là dạng chuyển động của nòng O dương hóa. Hình thoi còn hai góc tù nên còn mang âm tính tức dương I của O tức thiếu dương IO, nguyên thể khí gió. Hình thoi là dạng thiếu âm của nòng O (trong khi hình vuông có bốn góc vuông là dạng dương hoá cực đại mang tính thái dương. Hình vuông là dạng thái dương của nòng O).

Trên trống đồng nòng nọc dùng hai chuỗi sóng gió đan vào nhau tạo ra hình thoi để diễn tả gió cho thấy đây là dạng hai nòng OO mỗi nòng dương hóa tạo ra một chuỗi sóng.

-Hình vòm hai móc nước.

Móc nước có một khuôn mặt là nước chuyển động do nòng O mở ra thành hình móc và mang tính dương diễn tả bằng nọc que. Hình vòm có hai đầu cong cuộn lại thành hai hình móc nước có một nghĩa là hai nòng nước thái âm chuyển động mang dương tính. Ví dụ:

./hình vòm hai móc nước diễn tả âm thái âm, nữ. ví dụ thấy trên các tượng nữ Đông Sơn.

clip_image078Dao găm Đông Sơn, Hải Phòng (“Thành NêLê – Đồ Sơn thời Asoka“, Đồng Hồng Hoàn, Trịnh Minh Hiên, 2008).

Lưng tượng này có hình vòm hai móc nước có một nghĩa là thái âm, nữ ngành nọc âm thái dương. Trong có bỏ dấu nọc chấm đặc xác thực tính thái dương, ngành thái dương.

Đuôi hai bím tóc của người nữ này cũng có hình hai móc nước.

./Hình vòm hai móc nước diễn tả mưa, mây.

Ví dụ: đầu dóng sấm trên trống Hích có hình vòm (ô, dù, lọng), một dạng lá đa, lá đề, trái tim coi như là do hai nòng OO dương hóa tạo thành,

có hai hình móc nước ở hai đầu (xem phần Móc Nước).

clip_image080

Hai đầu búa thiên lôi trên trống Hích.

Vòm là nước OO thái âm chuyển động thành hai móc nước dương liên tác với nọc nhọn (cán ô, lọng) diễn tả nọc lửa, chớp tạo ra sấm. Dóng sấm này diễn tả hai đầu sấm mưa.

-Hình vòm hai móc nước dương hóa cực đại.

Hình vòm hai móc nước dương hóa dương hoá thành góc cạnh vuông góc cũng vẫn mang nghĩa gốc là mây, mưa, nước thái âm (dĩ nhiên mang tính chuyển động, thái dương). Hình này thấy rõ nhất trên đùi ếch/cóc ở trống sấm mưa. Ví dụ: trên một trống Sangeang, Nam Dương.

clip_image082Từ sấm mưa trên đùi ếch ở một trống Sangeang, Nam Dương.

Ta thấy rất rõ clip_image085 =clip_image084 = sấm.

Lưu Ý

Ở những trống muộn, đây có thể là một dạng thể điệu hoá.

-Hình hai thùy.

Mặt trống loại Pejeng, Nam Dương có đủ loại hình thái sóng nước, trong đó có hình sóng hai thùy.

clip_image088Một góc mặt trống Trăng Bali.

Hiển nhiên trống loại này mang tính thái âm thuộc tộc nước thái âm ngành nọc âm thái dương. Điểm này ăn khớp trăm phần trăm với các tộc sống ở hải đảo, một thứ Lạc Việt hải đảo.

-Hình Tiếp Tuyến.

Trên trống đồng dạng vòng tròn-tiếp tuyến hay tiếp tuyến-vòng tròn dạng đơn ít thấy. Dạng thấy nhiểu nhất là tiếp tuyến trong một chuỗi sóng và chỉ mang nghĩa chuyển động.

Ví dụ ở vành tứ hành trên trống Nagọc Lũ I có hai vành sóng tiếp tuyến.

clip_image090Vùng tứ hành trên trống Ngọc Lũ I.

Vùng tứ hành này có ba vành:

-vành 1 trong sát gần mặt trời mang dương tính nhiều. Đây là vành sóng tiếp tuyến vòng tròn (O) có chấm (.), nguyên thể của OI tức âm của dương, tức thiếu dương nguyên tạo (vì ở dạng chấm đặc) nguyên thể của đất. Như thế vành này đã rõ nghĩa là thiếu dương chuyển động, vận hành. Như thế, ta thấy rõ vai trò của tiếp tuyến ở đây chỉ diễn tả sóng tức chuyển động, chuyển hành, vận hành.

Tuy nhiên ở đây viết rất đúng ngữ pháp của chữ nòng nọc vòng tròn-que là tiếp tuyến ‘hiệp’ (accord) với tính thiếu dương. Thật vậy, ta thấy tiếp điểm ở trên vòng tròn mang dương tính, tiếp tuyến có chiều đi xuống phía đất. Nhìn dạng tiếp tuyến này ta biết ngay lập tức vòng tròn-chấm mang nghĩa thiếu dương.

-Vành 3 xa mặt trời mang âm tính nhiều. Đây là vành sóng tiếp tuyến chấm (.)-vòng tròn (O), dương của âm tức thiếu âm IO nguyên thể của khí gió. Ta cũng thấy tiếp điểm ở dưới vòng tròn mang âm tính, tiếp tuyến đi lên phía trời.

Tương tự như trên ta thấy rõ vai trò của tiếp tuyến ở đây cũng chỉ diễn tả sóng tức chuyển động, chuyển hành, vận hành còn chấm- vòng tròn đã có nghĩa thiếu âm gió rồi.

Như thế rõ ràng tiếp thuyến ở dây có vai trò chính là diễn tả sóng chuyển động vô cùng tận.

Tuy nhiên tiếp tuyến cũng hiệp (accord) với tính nòng nọc (âm dương) của chữ, từ. Ở đây nhìn tiếp tuyến có tiếp điểm dương ở trên đi xuống phía đất ta biết ngay là thiếu dương nguyên thể của đất, Li. Ngược lại ta biết ngay là thiếu âm nguyên thể của khí gió, Đoài vũ trụ khí gió.

Còn vành số 2 ở giữa gồm có sóng nước dương chữ N mập Chấn và sóng lửa thái dương chữ N gầy Càn.

.Hình Móc Nước clip_image092.

Hình móc nước có thể ở hai dạng:

-Dạng một vòng tròn mở ra thành móc thêm dấu nọc que vào chỉ chuyển động, dương tức một nòng dương như đã thấy ở hình vòm ở trên.

-Dạng do hai nòng OO chuyển động. Một nòng dương hóa mở ra thành hình móc và một nòng O dương hóa cực đại mở ra thành nọc que. Hai nòng thành nọc que mang tính thái âm chuyển động mang tính dương, thái dương có một nghĩa là nước chuyển động, sóng, nước dương, nước lửa ứng với Chấn.

Ví dụ:

./Dóng sấm hình thoi trên trống Nam Ngãi II.

clip_image094Búa thiên lôi hình thoi trên trống Nam Ngãi II.

Trống Nam Ngãi là trống muộn (ví dụ như có hình thuyền trên mặt trống, theo chính thống thuyền chỉ có mặt trên vai trống tức tầng nước của Cõi Giữa thế gian) nên búa thiên lôi có dạng thể điệu hóa gần như không còn nhận ra hình búa nữa. Tuy nhiên hình ngữ những gậy cong dấu móc trong hình thoi mang nghĩa nước chuyển động, mây và hình ngữ có vòng tròn có chấm ở tâm hình thoi có một nghĩa là lửa-vũ trụ, lửa không gian. Vòng tròn có chấm và gậy móc câu có nghĩa là lửa-mây, lửa-nước = chớp-mưa = sấm. Nếu nối bốn đỉnh nhọn hình thoi lại ta có hình chữ thập nhọn đầu.

clip_image096Dóng sấm hình thoi là dạng thể điệu hóa của búa thiên lôi chữ thập.

Rõ như dưới ánh sáng mặt trời hình thoi mang ý nghĩa sấm này là dạng thể điệu hóa của búa thiên lôi chữ thập.

./Người-chim mặt trời hình móc nước ở trống Nam Ngãi II

clip_image097

Những hình người chim-mặt trời trên trống Nam Ngãi II có hình móc xoắn nước.

Những người mặt trời hóa trang-chim thể điệu hóa có hình móc nước hai vòng mang ý nghĩa nước thái âm do hai nòng OO chuyển động mở ra. Hình móc nước này quay về phía tay phải mang dương tính cho thấy đây là Nước dương, lửa-nước, người mặt trời và ở đây thuộc tộc Mặt Trời Nước Chấn.

Điều này ăn khớp trăm phần trăm với trống sấm mưa Nam Ngãi II là trống Chấn/Cấn có mặt trời 12 tia sáng Cấn tầng 2 (4, 12). Họ là tộc nước ngành thái dương thấy rõ trên mặt trống có hình thuyền (xem trống này).

./Mỏ cò cong móc nước.

Trống Hàng Bún cũng là trống sấm mưa có những con cò mỏ cong móc nước diễn tả nước dương chuyển động ứng với Chấn.

clip_image099Cò mỏ cong móc nước trên trống Hàng Bún.

./ Móc nước đi với sóng chữ S.

Như đã nói ở trên, những hình sóng chữ S đơn, kép có hai chữ hay dấu móc nước đi kèm thấy ở các trống Lào (A), Babakan (B), Thượng Lâm (c)

clip_image101

và ở chiếc cồng Đông Sơn ở Vân Nam.

/ Hình thái móc nước trên trống Nam Trung Quốc.

Nhiều tộc Bách Việt ở nam Trung Quốc thuộc Lạc Việt như Tráng Zhuang có trống biểu là trống hình nồi úp không có trụ trống (không nhiều dương tính) Heger gọi là trống trệt Nam Trung Quốc. Đây là trống tượng Nước Nguyễn Xuân Quang IV (Heger IV), trống biểu tượng của tộc nước (nên thấy nhiều ở Lạc Việt Tráng).

Trên trống Nam Trung Quốc vì thế có rất nhiều hình ngữ móc nước và trên các trống muộn, các móc nước ở dưới dạng thể điệu hoá tột độ.

clip_image103Hình móc nước và móc nước thể điệu hoá ở các trống Nam Trung Quốc, Bảo Tàng Viện Nam Ninh (ảnh của tác giả).

./Cá sấu

Cá sấu sống được dưới nước nên thường diễn tả đuôi có hình móc nước. Ví dụ cá sấu mõm dao (gavial) trên trống Hòa Bình.

clip_image105Cá sấu mõm dao (gavial) trên trống Hòa Bình.

./ Dao long.

Dao long có cốt là cá sấu mõm dao nên cũng diễn tả đuôi có hình móc nước thấy trên đồ đồng Đông Sơn.

clip_image107

.Hai nòng OO riêng rẽ dương hóa cực đại mở ra tạo thành hai nọc que II.

Hai nòng thái âm OO dương hóa cực đại mở ra thành hai nọc II, thái dương.

Trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn thường có các vành nấc thang, thanh ngang đường rầy IIIIIIII mà ngày nay thường gọi là răng lược.

clip_image109Hai vành thanh thang hay thang ngang đường rầy ở biên trống Cổ Loa I.

Hình thanh thang hay thanh ngang đường rầy có thể coi là do nhiều nọc I ghép lại ở tầng lưỡng nghi hay nhiều cặp II (thái dương) ghép lại ở tầng tứ tượng hoặc do nhiều quẻ ba vạch III Càn ghép lại ở tầng bát tượng (bát quái).

Ở khâu thái âm OO này, ta có thể coi chuỗi các nấc thang, thanh ngang đường rầy này là do hai nòng OO dương hóa cực đại thành II ghép lại. Như thế có nghĩa là nòng âm thái dương có khuôn mặt chính là khí gió dương. Ví dụ thấy ở vùng tứ hành ở trống Thành Vân.

clip_image111Vùng tứ hành ở trống Thành Vân.

Vùng tứ hành có ba vành: vàng 1 bên trong sát mặt trời là vành chữ N nước dương Chấn. Mỗi chữ N ôm hai nọc mũi mác, lửa thái dương Càn. Vành giữa là sóng chấm-vòng tròn có nghĩa là thiếu dương đất dương Li. Vành thứ ba là vành nấc thang có nghĩa là thiếu âm gió mang tính thái dương.

Lưu ý bờm gió là dạng biến đổi diễn tả cho dễ của hình thái nấc thang mang dương tính khí gió này.

Những trống nào ngoài biên có vành thanh thang hay thanh ngang đường rầy ta biết ngay trống đó có khuôn mặt nòng âm thái âm mang tính chủ của ngành nọc thái dương. Vì là thái dương II của O nên khuôn mặt IIO, Đoài vũ trụ khí gió mang tính trội.

Lưu Ý

.Những chuỗi hình giống nhau như chuỗi nọc que đứng IIIII…, chuỗi sóng chữ VVVVV…, chuỗi nọc mũi mác ɅɅɅɅɅ…., vân vân, phải nhìn dưới nhiều khuôn mặt. Chuỗi có thể là dạng kết hợp của một yếu tố (một nọc que I, một V hay một Ʌ), của hai yếu tố (II , VV hay ɅɅ ) hoặc của ba yếu tố (III, VVV, hay ɅɅɅ ), vân vân…

.Tôi tránh dùng từ răng lược vì thường đầu răng lược nhọn tức mang dương tính. Ở đây các sọc đứng này bằng đầu giống chữ I hoa mang âm tính vì là nọc âm. Những nọc âm bằng đầu song song này nằm trong hai vòng tròn  trông giống như các đà ngang của đường rầy hay các thanh thang.

.Cần phân biệt tính nòng nọc, âm dương của nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) với nọc đường rầy hay các thanh thang (răng lược). Nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) do hai nọc que hợp lại tạo thành một mũi nhọn mang nhiều dương tính nên là NỌC DƯƠNG THÁI DƯƠNG. Trong khi hai nọc bằng đầu II đường rầy hay hình các thanh thang đứng (răng lược) song song mang âm tính nên là NỌC ÂM THÁI DƯƠNG.

.Hai nhóm trống nọc dương thái dương và nọc âm thái dương chỉ khác nhau ở hai vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) với vành vành đường rầy hay hình các thanh thang đứng (răng lược) ở biên trống. Còn các vành kẹp giữa mang tính nòng nọc, âm dương của Vũ Trụ Tạo Sinh tùy theo mỗi trống.

Hai Vòng Tròn Đồng Tâm Chuyển Động Mở Ra.

-Hình chữ U.

Như đã biết, chữ nòng O chuyển động dương hoá mở ra thành U. U có đầu cung tròn lõm như vật đựng nên còn âm tính và hai thành là hai nọc que II, lửa, thái dương. Vậy U có những khuôn mặt:

.O lửa, nàng lửa.

.O thái dương = mặt trời đĩa tròn O thái dương II, thái dương thần nữ ứng với quẻ Tốn OII với khuôn mặt nàng lửa, mặt trời nữ thái dương.

Trong trường hợp này mặt trời thái dương nữ thường diễn tả có những tia sáng hình cánh hoa tròn đầu một dạng chữ U ví dụ như đã biết, mặt trời hình hoa cúc của thái dương thần nữ Amaterasu của Nhật, mặt trời hoa cúc ở dải trang trí trên con voi của bà Triệu Ẩu throng tranh dân gian…

.O lửa = không gian O dương, lửa II ứng với Tốn, gió âm (Khôn dương là thiếu âm, nguyên thể của khí gió).

Trong trường hợp này có thể dưới dạng U ngược hình vòm trời mang tính âm.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt Âu Cơ với khuôn mặt Nàng Lửa, Mặt trời tinh mơ (nhật tảo), thái dương thần nữ và gió âm ứng với Tốn.

Ngoài ra theo hình dạng, U còn có nghĩa là chỗ lõm, lũng, thung lũng lòng chảo, vực cạn…

Ở đây là khâu OO, thái âm, ta có:

.Hai nòng OO dương hóa mở ra thành hai UU hay U dài (Anh ngữ OO phát âm là /u/). Nếu chập lại thành U có nét dầy gấp đôi.

.Hai nòng đồng tâm clip_image113 dương hóa mở ra thành U vách kép.

Các dạng U này cũng có gốc nghĩa như U do một nòng O tạo thành chỉ khác tính âm dương ở tầng tứ tượng.

./Chuông bát

Như đã nói ở trên, người cuối cùng của nhóm 7 người nhẩy múa trên trống Ngọc Lũ I có trang phục đầu hình bầu nậm nòng nọc (âm dương) diễn tả người tiểu vũ trụ (sinh ra từ bầu tạo hóa, càn khôn, đại vũ trụ) của chủng Bách Việt..

clip_image114Người cuối cùng của nhóm 7 người nhẩy múa trên trống Ngọc Lũ I.

Người này tay trái (phía âm) cầm cái chuông bát hình chữ U vách kép (giống loại chuông bát tụng niệm của Phật giáo) clip_image115, do hai nòng OO đồng tâm chuyển động mà thành. Còn tay phải cầm dùi chuông có mấu hình sừng hươu mang gạc (munjac) có hai mấu nhọn diễn tả nọc thái dương (dùi là nọc và hai mấu nhọc là hai dương, thái dương). Chuông và dùi là nòng nọc (âm dương) ngành thái dương đi đôi với trang phục đầu bầu nậm nòng nọc (âm dương) của người này.

./Khu giã chầy cối ở trống Cổ Loa I.

Trống đồng nòng nọc Cổ Loa I là trống thuộc nhóm mặt trời nọc lửa thái dương 14 nọc tia sáng như trống Ngọc Lũ I nhưng thuộc đại tộc mặt trời nọc âm thái dương có khuôn mặt chủ là thiếu âm Đoài vũ trụ vì ngoài biên có hai vành nấc thang.

Ở cạnh bên nhà nòng ở mỗi bán viên trống Cổ Loa I có một cảnh giã chầy cối. Khác ở trống đồng Ngọc Lũ I cảnh giã chầy cối ở đây ở phía bên trái của căn nhà nòng mang âm tính cho biết ở đây thuộc đại tộc nọc âm thái dương.

-Cảnh Giã Chầy Cối ở bán viên dương Càn Li.

clip_image002[1]

Bán viên dương Càn-Li (chim trĩ đuôi không cuộn móc nước, nhà nọc có trống Càn-Khôn và con thú bốn chân Li).

Bán viên dương Càn Li có ngôi nhà nọc Càn Li với Càn mang tính chủ  (xem Trống An Dương Vương  Cổ Loa I).

Cảnh giã chầy cối ở đây bên ngôi nhà nòng không gian  có cối hình trụ hình chữ U. Một người đang làm một việc gì hay tế lễ trước mặt có một vật đựng hình chữ U choãi. Dưới nhà nòng có lò lửa chữ U trên để một nồi (nồi xông hơi nước) cũng có hình bầu tròn. Tất cả  mang tính U, nòng O thái dương II. tức  OII, nòng âm thái dương có một khuôn mặt Tốn (OII) gió âm. Tốn OII có gió dương Đoài IIO là đại diện. Tốn và Đoài đều có bản thể thái dương nên tương đồng bản thể với nọc dương I thái dương II tức Càn. Tốn OII là Nàng O Lửa II và càn III là Chàng I Lửa II.

Như thế cảnh giã chầy cối này mang tính nòng thái dương cho biết nhà nòng này là nòng thái dương Tốn-Đoài tương đồng bản  thể với khuôn mặt Càn của ngôi nhà nọc Càn Li.

Trong khi cảnh giã chấy cối ở bán viên âm Chấn Đoài mang tín âm thái dương cực đại  Chấn V (xem dưới).

./Hình sóng hai thùy ở trống Trăng Bali Nam Dương đã nói ở trên cũng có thể coi như là một dạng chữ u đôi (double u).

-Hình chữ U vuông clip_image117.

Trường hợp U mang tính thái dương của phía nam tức âm nam thái dương thì U có góc cạnh, U vuông mang thêm dương tính nọc, dương, nam.

Ví dụ:

./Trong một ngôi nhà nọc, mặt trời trên trống Ngọc Lũ I.

clip_image119Nhà nọc, mặt trời trên bán viên âm trống Ngọc Lũ I.

Ở dưới chái nhà bên trái có một vật hình chữ U hoa có góc cạnh vuông mang tính thái dương, có bỏ các dấu nọc chấm đặc xác thực tính dương, thái dương. Ta thấy rõ U vuông là dạng thái dương của u ở phía nòng nam, âm nam tức ứng với Chấn (trong khi U đáy tròn còn mang âm tính là thái dương của nòng âm nữ).

Có thể vật này làm bằng gỗ khoét rỗng. Đây có thể là thiết diện của một cối vuông hay trống mõ (một thứ trống âm) làm bằng thân cây khoét rỗng (slit drum). Ở đây nằm trong một ngôi nhà nọc thì ta nghiêng hẳn về phía trống mõ hơn là cối. Trống mang dương tính và đối ứng với chiếc trống ở phía bên kia. Trống mõ này biểu tượng cho dương thái âm Chấn. Trống mõ này đặt nằm sát mặt đất đối chiếu với ma phương trục 5/15, ta thấy rất rõ trống mõ này để ở góc số 8, thái âm Khôn. Ở ngành âm này, Khôn thái âm được đại diện bằng một khuôn mặt dương là Chấn thái dương. Vậy trống mõ chữ U vuông này là trống Chấn/Khôn.

Hình hai thứ trống này rõ ràng cho biết căn nhà nọc này là nhà nọc ngành âm Đoài Chấn.

Điểm này cũng ăn khớp với bán viên này là bán viên âm có 6 người nhẩy múa (Ý Nghĩa Hình Nhà Trên Trống Đồng Nòng Nọc Đông Nam Á).

Hai Vòng Tròn Dính Nhau Dương Hóa Cực Đại.

.Dạng chữ V

Một nòng O dương hóa cực đại mở ra thành nọc que I. Hai nòng OO (thái âm) thành hai nọc que II (thái dương). Ở dạng năng động, hoạt động mãnh liệt hai nọc que hợp lại thành nọc chữ V có mũi nhọn. Như thế V có một khuôn mặt là dạng dương hóa cực đại, năng động của hai nòng OO dính nhau. Chữ V hay từ V có một nghĩa là nước chuyển động mang tính thái dương ứng với Chấn. Ví dụ:

-Người ở thân Quảng Xương.

Như đã nói ở trên, người ở thân trống Quảng Xương có hình chữ V ở ngực:

clip_image120Người đại tộc V trên thân trống Quảng Xương.

Ở đây nếu nhìn dưới diện mỗi nhánh chữ V là do một nòng O dương hóa cực đại mà thành, nghĩa là V do OO dương hóa ghép lại mà thành thì người này thuộc tộc nước thái âm ngành nọc thái dương Chấn.

-Cảnh Giã Chầy Cối ở bán viên âm Chấn-Đoài ở trống Cổ Loa I.

Như đã nói ở trên ở cạnh bên nhà nòng ở mỗi bán viên trống Cổ Loa I có một cảnh giã chầy cối. Khác ở trống đồng Ngọc Lũ I cảnh giã chầy cối ở đây ở phía bên trái của căn nhà nòng mang âm tính cho biết ở đây thuộc đại tộc nọc âm thái dương.

 

 

clip_image002[4]

Bán viên âm Chấn Đoài (chim trĩ đuôi có cuộn móc nước Chấn cho biết là  nhà nọc có trống Chấn-Đoài)

Bán viên âm Chấn-Đoài có ngôi nhà nọc Chấn Đoài (xem Trống An Dương Vương  Cổ Loa I).

Ở bán viên âm này, cối có lòng hình chữ V kép do hai nòng OO dương hóa cc đi mở ra thành VV lồng vào nhau mang nghĩa nòng thái âm mang tính thái dương (xem chữ V) và có chân nên có hình cốc có chân (chalice) Y. Như đã biết V và Y có nghĩa là nòng âm, nước thái âm, bộ phận sinh dục nữ, nữ ngành thái dương.

Một người đang làm một chuyện gì hay tế lễ trước mặt có một vật đựng hình cốc có chân đế (calice) cũng có hình chữ Y. Dưới nhà nòng có lò lửa có nồi xông hơi nước cũng có hình chữ Y.

Tất cả mang tính thái âm lửa, ngành thái dương. Nhưng ở đây diễn tả theo OO dương hóa cực đại thành cữ V kép hay VV dính chập vào nhau với tính dương cực đại, thái dương ứng với một khuôn mặt Chấn nước dương (trong khi U mang tính dương ít hơn). V ở đây mang khuôn mặt dương tính của chữ V do hai nọc que của phía nọc dương ghép lại. V do hai nòng OO phía nòng âm dương hoá cực đại bây giờ trở thành V của hai nọc que của phía nọc que, hành sử như V hai nọc que phía nọc dương.

Ta thấy rất rõ phía nhà nòng ở bán viên âm Chấn-Đoài này mang tính V có  một khuôn mặt nước thái dương Chấn, hiển nhiên tương đồng bản thể Chấn với nhà nọc Chấn Đoài.

-Ngoài biên trống Vienna (Khai Hóa có những đoạn sóng cuộn dạng chữ V choãi ra diễn tả nước chuyển động ứng với Chấn.

clip_image122Trống Vienna.

Những đoạn sóng dạng chữ V choãi ra này đi xen kẽ với những đoạn sóng hình thoi thái dương (có hai dấu chấm-vòng tròn) diễn tả gió dương chuyển động Đoài khí gió. Trống Vienna có hai khuôn mặt chính là Chấn-Đoài sinh tạo.

.Sóng chữ V.

Chuỗi sóng chữ V diễn tả sóng nước chuyển động âm thái dương.

clip_image124Chuỗi sóng nước V.

Có thể ở hai dạng. Thứ nhất coi như chuỗi chữ V đơn do một nòng O dương hoá cực đại mà thành. Trong trường hợp này coi như chuỗi sóng do nhiều cặp VV (tức có gốc thái âm OO) hợp lại mà thành.

Dạng thứ hai coi như V do hai chữ VV lồng vào nhau dính lại thành V chữ V có độ dầy gấp đôi do hai nòng đồng tâm clip_image113[1] dương hoá cực đại. Trong trường hợp này, chuỗi sóng chữ V do nhiều chữ V kép chập lại tạo thành (cũng mang tính thái âm clip_image113[2]).

Sóng Nước chữ V có gốc thái âm chuyển động mang tính thái dương.

Ví dụ hình ngữ sấm của thổ dân Mỹ châu:

clip_image126

Rắn sấm sét có phần sóng đậm chuỗi chữ V diễn tả nước thái âm chuyển động nằm dưới sóng nọc mũi mác nhỏ nét lửa thái dương. Nước lửa chuyển động liên tác tạo ra sấm.

Sóng chữ V thấy nhiều trên trống đồng nhất là ở những trống muộn. Ví dụ thấy ở:

./Vùng tứ hành:

Như đã biết, vùng tứ hành thường có các vành diễn tả tứ tượng là lửa, nước, đất, gió chuyển động. vận hành, chuyển hành mà thành. Vành này nằm bao quanh vỏ thượng thế trong đó không gian có các khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có hình thái tứ tượng.

clip_image128Vùng tứ hành trên trống Thanh Hóa (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Ở vùng tứ hành trống Thanh Hoá có hai vành lớn: vành trong có hai vòng sóng dạng chữ V diễn tả lửa thái dương (vòng sóng trong sát mặt trời mang dương tính) và vòng sóng ngoài diễn tả nước thái âm. Ở đây có lưỡng hợp thái dương lửa-thái âm nước. Đúng pháp nagữ vòng sóng lửa thái dương phải nhỏ nét, sáng và vòng sóng nước thái âm phải to nét, đậm nét. Ở đây là trống muộn nên viết sai ngữ pháp chữ nòng nọc vòng tròn-que.

Còn vành ngoài có hai vòng sóng chấm vòng tròn mang nghĩa thiếu âm, nguyên thể khí gió chuyển động và vòng tròn-chấm mang nghĩa thiếu dương nguyên thể của đất chuyển động.

Hai vành này diễn tả tứ hành.

./Cò nước

clip_image130Cò trên trống Hữu Chung.

Trên người và cánh có hình sóng nước chuỗi chữ V hình cùi chỏ > (trong toán học có nghĩa lớn hơn) hướng về tay phải, chiều dương có nghĩa là nước thái âm mang tính thái dương (ngành thái dương). Hai đầu cánh hình mũi mác trong có chữ hay dấu mũi mác xác thực nghĩa lửa thái dương. Nước lửa liên tác sinh ra sấm.

Cò trên trống Đá Đỏ II cũng có sóng này:

clip_image132Cò trên trống Đá Đỏ II.

Trên người có hình sóng chữ V. Xương sống hình hai nọc que có một nghĩa lửa, thái dương. Cò cũng diễn tả sấm mưa.

Lưu ý đuôi cò cũng diễn tả sóng nước >>>>.

Tương tự cò trên trống Hà Giang I cũng vậy.

clip_image133Cò trên trống Hà Giang I.

Cò trên trống Hà Giang I trên người và đuôi có hình trông như ‘xương cá’ gồm các chữ V dạng cùi chỏ dương của dấu lớn hơn: >>>> diễn tả nước dương chuyển động (giống thấy ở thuyền Ai Cập cổ ở trên). Đuôi cò cũng vậy. Một hình nọc từ cổ xuống đuôi diễn tả nọc que nhấn mạnh thêm tính dương. Như đã nói ở trên, con mắt là từ hai vòng tròn đồng tâm có chấm Chấn nước dương.

Còn nhiều nữa…

./Tang trống.

Tang trống là vùng nước cõi trung thế thường có cảnh thuyền sinh hoạt. Ở tang trống Mã Lai Kuala Trengganu có vành sóng chữ V ở phía trên những thuyền.

clip_image135(nguồn: A.J. Bernet Kempers, The Kettledrums of Southeast Asia, A.A. Balkema/Rotterdam/Brookfield, 1988).

./Chân trống

Như đã biết, chân trống là hạ thế, cõi nước âm, cõi âm. Ví dụ:

clip_image137Vành chữ V tại chân một trống Nam Trung Hoa.

.Dạng hai chữ V kép do hai V lồng vào nhau.

Hai chữ V lòng vào nhau là một dạng diễn tả hai nòng OO đồng tâm dương hoá cực đại mà thành và cũng có nghĩa gốc của V là nòng (âm, bộ phận sinh dục nữ, nước, vực thẳm…) mang tính thái dương. Ví dụ:

./ Vùng tứ hành trống Hàng Bún.

clip_image139Vùng tứ hành trên trống Hàng Bún.

Vùng tứ hành trên trống Hàng Bún có hai vành lớn. Vành trong có vòng sóng chữ V kép diễn tả nước dương chuyển động ứng với Chấn xen kẽ với các nọc mũi mác lửa thái dương dưới dạng lưỡng hợp nước dương thái âm Chấn với lửa thái dương Càn. Vành ngoài gốm hai vành sóng chuyển động chấm vòng tròn thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió và vòng tròn chấm thiếu dương Li dưới dạng lưỡng hợp thiếu âm với thiếu dương.

Ở đây ta thấy rõ vành chữ V kép do hai nòng OO chuyển động tạo thành.

Tương tự ở trống Hữu Chung cũng có vòng sóng chữ V kép diễn tả nước dương chuyển động ứng với Chấn như vậy.

clip_image141

Vùng tứ hành trên trống Hữu Chung.

./Chân trống Phú Phương I:

Chân trống Phú Phương I có vành sóng nước âm, cõi âm chữ V kép.

clip_image143Chân trống Phú Phương I (Nguyễn Văn Huyên và cộng tác viên, compiled by Hà Thúc Cần, The Bronze Đông Sơn Drums, 1989).

Ở đây, ta thấy ở trên có thêm vành từ hai vòng tròn đồng tâm xác thực là thái âm (nước, cõi âm).

./Chân trống Nam Ngãi II.

Chân trống Nam Ngãi II cũng vậy.

clip_image145Trống Nam Ngãi II.

Với sự hiện diện của những sóng nước này ở chân trống xác thự chân trống là hạ thế, cõi nước âm, cõi âm.

./Cối trên trống Ngọc Lũ I.

Như đã nói ở trên, cối hình hai chữ V lồng vào nhau có chân đứng hình cốc có chân (chalice) chữ Y thấy ở cảnh giã chầy cối ở trống Ngọc Lũ I và các trống họ hàng.

clip_image147Cảnh giã chầy cối ở trống Ngọc Lũ I.

Cối chữ Y này cho thấy nhánh nòng, âm trên trống trống Ngọc Lũ I nói riêng và trên các trống khác thuộc nhánh nọc âm thái dương.

Ta cũng thấy rõ trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn những nhà có cảnh giã chầy cối ở bên cho biết là nhà nòng, không gian thuộc nhánh nòng âm thái dương. Ngược lại những nhà có trống hay dàn trống ở bên là những nhà nọc, mặt trời thuộc nhánh nọc dương thái dương.

Lưu ý.

1. Hai khuôn mặt nòng nọc (âm dương) của V, VV.

Hai OO dương hoá cực đại thành V, VV nhiều khi được coi không còn âm tính nữa mà đã hoàn toàn thuần dương, hành sử như chữ V do hai nọc que của ngành nọc ghép lại. Bây giờ trở thành từ hai nọc que. Cần phải lưu tâm điểm này (xem từ hai nọc que).

2. VU dùng lẫn lộn với nhau.

Như đã biết, theo chính thống U và V khác nhau về âm tính. Nhưng nhiều khi thấy dùng lẫn lộn với nhau (có lẽ vè sau thời phụ quyền thường dùng V thay cho U). Điểm này thấy rõ nhất là mặt trời thái dương nữ của Amaterasu, như đã biết, khi thì có tia sáng hình cánh hoa cúc chữ U khi thì có tia sáng hình chữ V. James Churchward cũng nhận thấy:

clip_image149

Trong ngôn ngữ học ta cũng thấy chữ U trong ngôn ngữ này bằng chữ V ngôn ngữ kia, ví dụ Phạn ngữ dva, hai = Việt ngữ đũa (hai que)= Anh ngữ duo, dual… Và trong cùng một ngôn ngữ cũng có U = V như Việt ngữ ùa (cơm vào miệng) = và (cơm vào miệng).

3. Vành nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) ngoài biên trống nhìn theo duy âm là vành có một khuôn mặt sóng chuỗi các chữ V, từ VV hay từ VVV… kết nối lại.

.Chữ N.

Như đã nói ở trên, hai nòng OO dính nhau chuyển động mở ra thành chữ S, dạng biểu tượng mẫu tự hình rắn tạo hoá, là dạng nguyên thể sinh ra chữ N.

clip_image151

(James Churchward, The Sacred Symbols of Mu).

N này thấy ở dạng:

-N gầy clip_image153.

N dưới dạng chữ S con rắn tạo hoá chuyển động mở thêm ra thình hình chữ S gẫy ba hay hình N gầy thường thấy hiện nay có nghĩa là nước dương ứng với Chấn. Ví dụ ở trống Rú Quyết:

clip_image155

Vùng tứ hành ở trống Rú Quyết.

Vành trong cùng có Chấn nước chữ N gầy ôm hai nọc mũi mác (mầu đen) clip_image156 diễn tả hai dương là lửa, thái dương Càn. Ta có lưỡng hợp thái âm Chấn-thái dương Càn ngành dương. Vành ở giữa vòng tròn-chấm là thiếu dương Li đất. Vành còn lại thanh ngang đường rầy hay thanh thang (hiện gọi lầm là răng lược) do hai nòng OO dương hoá cực đại mở ra. Ở đây nhìn theo dương là thái dương, lửa không gian là khí gió (như đã nói ở trên).

Tóm lại chữ N thường (gầy) là dạng chuyển động của S diễn tả nước thái âm chuyển động, nước dướng Chấn. Chữ N thấy ở vùng tứ hành trên nhiều trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn, nhất là ở các trống muộn.

-Chữ N mập clip_image158 nước thái âm mang tính thái dương, lửa.

Ở vùng tứ hành của những trống cổ, vòng nước dương Chấn thường diễn tả bằng chuỗi chữ N mập rời ôm với chữ N gầy diễn tả lửa thái dương chớp. Chữ N có phần giữa mập còn giữ dạng giọt nước chuyển động thành hình bình hành và hai nhánh còn lại ở hai bên là hai nọc que có nghĩa là lửa, thái dương. Chữ N mập có nghĩa là nước thái âm chuyển động mang tính lửa, thái dương ứng với Chấn. ví dụ vùng tứ hành ở trống Miếu Môn I.

.clip_image160Vùng tứ hành ở trống Miếu Môn I.

Chữ N mập nước thái âm chuyển động ngành thái dương này ôm chữ S gầy gẫy ba khúc tức ba nọc que lửa thái dương Càn clip_image162 ở dạng lưỡng hợp Chấn thái âm với Càn thái dương. Còn lại hai vành vòng tròn-chấm thiếu dương và chấm-vòng tròn thiếu âm. Tổng cộng vùng tứ hành ta có bốn hành là thái âm Chấn nước, thái dương Càn lửa, thiếu dương Li đất và thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió.

-Hình chữ N dạng sóng chữ V nhọn đầu như thấy qua linh tự Ai Cập N: clip_image163 (N).

Chuỗi sóng nhọn đầu này có một khuôn mặt là do hai nòng OO dương hóa cực đại thành VV nối kết lại. Ví dụ như thấy ở cánh cò nước, chân trống như đã nói ở trên.

Như thế N có nghĩa là nước thái âm chuyển động mang tính thái dương, lửa phát gốc từ sóng Nước S hình con sắn mang tính tạo hóa do từ hai nòng OO chuyển động mở ra.

Như đã biết, các từ nước hay liên lệ với nước trong nhiều ngôn ngữ thế giới đều khởi đầu bằng chữ N, có gốc Na- (Ne-, No-, Nu-, Ni-)…, ví dụ Việt Nam: nã (nước lã), nà (ruộng nước), nạ (thủy quái), nác, nước, nấu (bằng nước), nát (nhão vì nhiều nước), nát tan (tan trong nước), nậm, nầm, nước (bầu nậm)… ; Thái ngữ nam, nước (sông Menam: sông Mẹ Nước); Ainu ngữ nai (tiếp vĩ ngữ) chỉ sông, rạch; Ai Cập ngữ nahar: sông, nag: làng (làng xóm có gốc từ một bến nước); DoThái ngữ nahar, sông; Ấn-Âu ngữ nation (nước, nguyên thủy là chỗ ở bên bờ nước), navy (hải quân), navigation (thủy vận, thủy hành)… ; Thổ dân Mỹ châu Navajo na, sông, nước;  Úc châu: ngôn ngữ Pama-Nyungan: ni, sữa; Phi châu: Sudan, tộc Ouolofs: ndokh, nước [biến âm với Việt ngữ nốc (uống), nác, đác là nước], v. v… (Tiếng Việt Huyền Diệu)..

Các dạng chữ N sóng nước trong chữ nòng nọc vòng tròn-que này đẻ ra chữ n, N trong mẫu tự ABC ngày nay (xem Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que và ABC).

.Tất nhiên còn nhiều nữa về dạng chuyển động của từ hai nòng OO này.

……

Dấu Hai Nòng Vòng Tròn

Chữ hai nòng vòng tròn cũng được dùng dưới dạng là một dấu (accent) như một chỉ định từ tố (determinative, indicator) với cùng nghĩa với chữ một nòng vòng tròn.

Ví dụ như dưới dạng móc nước ta đã thấy ở một chiếc cồng ở Vân Nam như đã nói ở trên.

clip_image164Vành ngoài biên một chiếc cồng ở Vân Nam.

Các hình sóng nước có bỏ dấu dương chấm-vòng tròn chính nó đã có nghĩa là nước thái âm chuyển động mang dương tính, là nước lửa, nước Chấn ngành thái dương. Hai nhánh móc nước thêm vào chỉ bổ nghĩa, xác thực thêm cho nghĩa đích xác mà thôi. Ta thấy rất rõ hai móc nước tương đương với hai nọc que, hai đầu chim có một nghĩa thái dương khi so sánh với hình thái sóng kép ở trống Hoàng Hạ và với đầu chim ở các trống Vienna và Salayar. Chúng có nghĩa là nước mang tính thái dương.

clip_image165

Chúng nghiêng về dấu nhiều hơn là chữ.

Như đã biết chữ và dấu và chữ nói chung nhiều khi dùng lẫn lộn khó phân biệt. Dấu thường thường dấu nhỏ hơn chữ. Nhiều khi có thể đọc được theo cả hai dạng chữ và dấu. Từ hai nòng vòng tròn cũng vậy (xem Dấu Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que).

Kết Luận

Tóm lược, từ nòng hai vòng tròn OO mang tất cả ý nghĩa của thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, Dịch như chữ nòng chấm rỗng, như chữ nòng một vòng tròn nhưng mang tính thái âm năng hoạt chính ở tầng tứ tượng cõi thế gian.

Chữ nòng hai vòng tròn cũng mang nghĩa nòng, cái, âm, nước, mặt trời âm, nữ, thái âm, cõi âm, lũng sâu, vực sâu… ở khâu thái âm OO.

Hai nòng vòng tròn có một khuôn mặt thái âm

tức âm già (old yin) và một khuôn mặt thiếu âm tức âm non (young yin).

Chữ hai nòng vòng tròn cũng có thể dùng làm dấu.

Trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn mọi khuôn mặt, tính chất, ý nghĩa của từ hai nòng vòng tròn OO đều có mặt. Từ này được viết rất chuẩn, rất đúng ngữ pháp của chữ nòng nọc vòng tròn-que có thể dùng làm mẫu mực để làm chuẩn, để giải đọc từ nòng hai vòng tròn thấy rải rác ở các nền văn hóa khác của nhân loại.

(xem tiếp Từ Nòng Ba Vòng Tròn).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: