CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE, TỪ HAI NÒNG VÒNG TRÒN OO (Phần 6): TỪ NÒNG HAI VÒNG TRÒN TRÊN TRỐNG ĐỒNG.

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE.

(Circle-Rod Writings).

TỪ HAI NÒNG VÒNG TRÒN OO.

(Two Circle Word).

(Phần 6)

TỪ NÒNG HAI VÒNG TRÒN TRÊN TRỐNG ĐỒNG CỦA ĐẠI TỘC ĐÔNG SƠN

Nguyễn Xuân Quang

Tất cả các khuôn mặt và ý nghĩa của từ nòng hai vòng tròn OO đã nói ở trên đều có mặt trên trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn và được viết với một ngữ pháp rất hoàn hảo của chữ nòng nọc vòng tròn-que, đúng hơn, chính xác hơn ở bất kỳ một nền văn hóa nào khác.

-Vỏ Thượng Thế (Hư vô, Thái cực, Lưỡng nghi).

Như đã biết, tâm trống diễn tả thượng thế ở phần chóp đỉnh của trục thế giới, của cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) (trống Đông Sơn Nguyễn Xuân Quang VI có hình Cây Nấm Vũ Trụ). Như thế tâm trống có hai khuôn mặt. Nhìn từ lúc khởi thủy, khai thiên lập địa, tức cõi đại vũ trụ thì tâm trống biểu tượng chonòng nọc (âm dương), càn khôn nguyên tạo. Nhìn ở cõi thế gian thì tâm trống diễn tả tiểu vũ trụ, mặt trời-không gian trong thái dương hệ.

Như thế vòng tròn nòng O bao quanh đầu các nọc tia sáng là vỏ thượng thế có ba khuôn mặt hay do ba yếu tố ghép lại mà thành.

Một diễn tả vỏ hư vô, vô cực.

clip_image004Vỏ hư vô mỏng.

Có thể coi là phần viền ngoài cùng của vòng tròn vỏ thượng thế ở tâm trống diễn tả vòng tròn vỏ hư vô, vô cực. Vỏ hư vô trung tính nên mỏng.

Khi nhìn mặt trời và không gian ở tâm trống còn ở dưới diện nhất thể thì khuôn mặt thứ hai của vòng tròn nòng O bao quanh đầu các nọc tia sáng là vỏ trứng vũ trụ, thái cực.

clip_image005Vỏ thái cực dầy hơn vỏ hư vô.

Đây có thể là phần nằm giữa của vòng tròn ở tâm trống. Vỏ thái cực, vỏ trứng vũ trụ có nòng nọc (âm dương) nên dầy hơn vỏ hư vô.

Khi nhìn mặt trời và không gian ở diện đã phân cực tách ra hai cực thì vòng tròn nòng O bao quanh đầu nọc tia sáng có một khuôn mặt thứ ba là vỏ không gian.

clip_image007Vỏ không gian dầy hơn vỏ thái cực.

Đây có thể là phần trong cùng của vòng tròn nòng O bao quanh đầu các nọc tia sáng ở tâm trống. Vỏ không gian mang nhiều âm tính nên dầy hơn vỏ thái cực.

Như thế trong qui trình tiến hóa, vòng tròn nòng O vỏ thượng thế này có ba khuôn mặt là vỏ hư vô, vô cực sinh ra vỏ trứng vũ trụ, thái cực rồi sau đó sinh ra vỏ không gian. Như vậy ta cũng có thể nhìn dưới diện tổng thể một vòng tròn nòng O vỏ thượng thế bao quanh đầu nọc tia sáng là vòng có phần ngoài cùng diễn tả vỏ hư vô, vô cực, phần giữa diễn tả vỏ trứng vũ trụ, thái cực và phần trong cùng diễn tả vỏ không gian. Ba vỏ này dính chập lại thành vỏ thượng thế thường thấy ở tâm trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn.

Tóm lại vòng tròn vỏ thượng thế ở tâm trống có ba khuôn mặt vỏ hư vô (vô cực), trứng vũ trụ (thái cực) ở cõi tạo hóa, đại vũ trụ và vỏ không gian, cõi thế gian, tiểu vũ trụ chập lại thành một.

1. Từ nòng hai vòng tròn có một khuôn mặt diễn tả thái cực của khâu thái âm.

Ở đây thuộc diện, thuộc khâu nòng hai vòng tròn OO thì vỏ thượng thế từ hư vô chuyển qua âm nòng thái âm trước, thành vỏ trứng vũ trụ, thái cực mang tính thái âm tức vòng tròn có độ dầy gấp đôi độ dầy của vòng tròn chuẩn.

Ví dụ: trống Hữu Chung có một khuôn mặt trống sấm mưa (xem trống này). Thượng thế ở trống Hữu Chung có vỏ dầy gấp đôi vòng tròn chuẩn mang tính thái âm.

clip_image008Thượng thế ở trống Hữu Chung là vòng tròn có độ dầy gấp đôi vòng tròn chuẩn.

Nhìn theo diện thái cực mặt trời-không gian nhất thể thì vòng tròn ở tâm trống trống Hữu Chung vỏ thượng thế có độ dầy thái âm OO là vỏ trứng vũ trụ, thái cực. Khuôn mặt này thấy rất rõ qua các hình thái khoảng không gian giữa các nọc tia sáng. Hình thái khoảng không gian giữa các nọc tia sáng này có hình thái lưỡng hợp nòng nọc (âm dương) gồm hai nhóm xen kẽ: nhóm ngành nọc dương hình các nọc mũi mác chồng lên nhau diễn tả tượng lửa vũ trụ Càn nằm trên nọc que hình trụ xuyên qua đỉnh các nọc mũi mác diễn tả tượng đất Li clip_image010 . Nhóm này là ngành nọc Lửa-Đất dương Càn-Li. Nhóm ngành nòng âm hình hai giọt nước dương diễn tả tượng nước Chấn và hình bờm diễn tả tượng gió Đoài vũ trụ khí gióclip_image012. Nhóm này là ngành nòng Nước-Gió dương Chấn-Đoài.

Hình thái lưỡng hợp nòng nọc (âm dương) của hai nhánh này nhìn dưới dạng nhất thể có một khuôn mặt vỏ thái cực. Ở đây là vỏ thái cực của khâu nòng âm nên có độ dầy gấp đôi vòng tròn chuẩn.

.Trống Hàng Bún

Tương tự trống sấm mưa Hàng Bún, họ hàng ruột thịt với trống Hữu Chung cũng vậy.

clip_image014Trống Hàng Bún (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Chỉ khác hình thái Càn Li ở khoảng không gian giữa các nọc tia sáng clip_image016. Ở đây hai bên trụ nọc Li có bỏ thêm những dấu nọc chấm đặc nguyên tạo dương có một nghĩa bụi đất (lửa đất) Li xác định trụ nọc là lửa đất Li. Những con cò ở trống này có mỏ hình móc nước là cò nòng âm thái âm, nước (xem dưới).

2. Từ nòng hai vòng tròn có một khuôn mặt diễn tả lưỡng nghi của khâu thái âm.

Ví dụ trống sấm mưa Yên Bồng II họ hàng với trống Hữu Chung .

Nhìn theo diện lưỡng nghi thì thì vòng tròn ở tâm trống có độ dầy thái âm OO là vỏ không gian cực âm.

clip_image018Trống Yên Bồng II (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Tất cả các khoảng không gian giữa các nọc tia sáng của trống này có hình thái nhánh nòng âm Khôn đơn gồm bờm gió (Khôn dương) và hai giọt nước dương (Khôn âm). Vì thế vỏ không gian bao quanh đầu các nọc tia sáng mang tính nòng Khôn diễn tả cực âm. Ta thấy rõ vỏ không gian ở trống này rất dầy mang tính nòng âm.

Tương tự trống Lạc Long cũng vậy :

clip_image020Trống Lạc Long (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Trống này khuôn mặt nòng âm Khôn, cực âm còn thấy rõ qua hình cánh cò có hình ngữ gợn sóng chuỗi chữ V nhọn đầu nước dương Khôn âm ngành dương và hai hình nọc que (có thể là dóng sấm thể điệu hóa) hình lông chim diễn tả Gió Khôn dương.

Như thế từ nòng hai vòng tròn dính chập vào nhau có một khuôn mặt diễn tả vỏ hư vô chuyển qua dạng mang tính thái âm, vỏ trứng vũ trụ, thái cực và vỏ không gian tầng lưỡng nghi.

Những khuôn mặt khác của vòng nòng hai vòng tròn diễn tả lưỡng nghi.

Cực âm

.Không gian thái âm.

Ví dụ điển hình là trống Mèo Vạc III có khôn gian thái âm viết bằng từ nòng hai vòng tròn đồng tâm ở khoảng không gian giữa các nọc tia sáng.

clip_image022Trống Mèo Vạc III.

Đi với không gian thái âm, mặt trời cũng mang âm tính, là mặt trời mát dịu thấy rõ khối lửa mặt trời (solar mass) có hình đĩa tròn và tia sáng có cạnh cong hình đầu bút lông mang âm tính.

Trống có mặt trời 12 nọc tia sáng Cấn tầng 2 (4, 12) có một khuôn mặt hôn phối với Chấn nước thái âm mang tính thái dương (giống Âu Cơ Đất Núi hôn phối với Lạc Long Quân Biển).

Những vành giới hạn là những vành hai vòng tròn trống không ở đây rõ ràng mang tính thái âm nước. Ba vành trống không lớn cũng mang tính thái âm.

Vành ngoài biên trống hai vòng tròn đồng tâm thái âm xác thực khuôn mặt thái âm nước của trống.

Hai vành thanh thang hay đường rầy (hiện nay gọi lầm là răng lược) có một nghĩa nọc âm thái dương.

Rõ như ban ngày từ nòng hai vòng tròn đồng tâm mang nghĩa thái âm, nước.

Thái âm, không gian, nước, có một khuôn mặt là cực âm.

. Trống Làng Vặc diễn tả bình dân giáo dục hơn. Trống Làng Vạc là trống chỉ diễn tả khuôn mặt thái âm duy nhất (nước, sấm mưa Chấn), là trống biểu của tộc nước thái âm ngành nọc thái dương.

clip_image024

clip_image025Trống Làng Vặc: ở khoảng không gian giữa các nọc tia sáng chỉ có một hình thái đơn độc duy nhất là hình hai giọt nước dương hình hạnh nhân Chấn diễn tả khuôn mặt nước duy nhất.

Trống có mặt trời 12 nọc tia sáng Cấn tầng 2 (4, 12) có một khuôn mặt núi Cấn hôn phối với Chấn. Trống này là trống sấm mưa Chấn thấy rõ qua có các hình dóng sấm, búa thiên lôi (hiện nay gọi lầm là “hình trâm”), 4 tượng cóc/ếch…).

Kiểm chứng lại ta thấy rất rõ hình thái đơn, đồng nhất của khoảng không gian giữa các nọc tia sáng là hình hai giọt nước thể điệu hóa clip_image027 mang tính thái âm, nước. Ngoài ra còn có hai vành hai vòng tròn đồng tâm (hai nòng, hai âm, thái âm) có chấm (chấm nọc dương) là thái âm dương, nước dương, nước chuyển động (mưa) tức Chấn.

Ở trống Làng Vặc này diễn tả khuôn mặt Chấn nước thái âm duy nhất thuộc nhánh nọc âm thái dương ta thấy vỏ không gian rất dầy và đậm nét mang tính thái âm, nước. Vỏ này mang tính thái âm có thể do hai vòng tròn đồng tâm chập lại hay một vòng tròn dầy lên có độ dầy bằng hai vòng tròn. Vì ở đây hình thái ở khoảng không gian giữa các nọc tia sáng là hai giọt nước thể điệu hóa nên nghiêng nhiều về hai vòng tròn nòng chập lại.

Rõ ràng từ nòng hai vòng tròn OO diễn tả không gian thái âm, một khuôn mặt cực âm.

.Nhà vòm nòng không gian

clip_image029Nhà vòm nòng không gian trên trống Nagọc Lũ I.

Ở trống Ngọc Lũ I và các trống họ hàng, đi đôi với các nhà nọc mặt trời mái có đầu đao nhọn là những nhà nòng, không gian hay nhà rùa có mái vòm không gian, dạng của hai nòng vòng tròn đồng tâm chuyển động. Ở hai đầu mái có hai từ hai vòng tròn đồng tâm có chấm có một nghĩa là nước dương, Chấn.

Nhà rùa mái vòm thái âm nước này là nhà nòng âm không gian, nữ có một khuôn mặt biểu tượng cho cực âm.

.Vú tượng đồng Đông Sơn

Trên đuôi dao găm đồ đồng Đông Sơn có hình tượng người nữ có hai vú biểu tượng bằng hai vòng tròn đồng tâm:

clip_image031

Tượng người nữ trên đuôi dao găm đồ đồng Đông Sơn có hai vú biểu tượng bằng hai vòng tròn đồng tâm.

Vú tượng này giống vú Nữ thần Thiên nhiên Lajjagauri Ấn giáo, như đã biết, cũng diễn tả bằng từ nòng hai vòng tròn đồng tâm.  Như đã biết U và V là dạng dương hóa của O. Rõ ràng OO.

Lưu ý vành khăn đội đầu, hai hoa tai, vòng tay cũng là vành tròn mang hình ảnh từ nòng hai vòng tròn.

.Cực dương.

Mặt trời đĩa tròn hai nòng vòng tròn đồng tâm có một khuôn mặt biểu tượng cho cực dương khâu thái âm:

Ví dụ trống minh khí Triết Giang.

clip_image032Trống Triết Giang

(Nguồn: Trịnh Sinh, Nhân Chiếc Trống Đồng Đông Sơn Mới Tìm Được Ở Triết Giang, Trung Quốc, Khảo Cổ Học 3-97, tr.56).

Trống thuộc loại minh khí, rất nhỏ dùng làm vật tùy táng chôn theo người chết, liên hệ với cõi âm, nước. Mặt trống có mặt trời đĩa tròn có 12 nọc tia sáng Cấn tầng 2, có một khuôn mặt hôn phối Cấn-Chấn, có khối lửa giới hạn bằng hai vòng tròn có các sọc cong tạo thành một vành tròn sóng bện thừng mang nhiều âm tính nghiêng về nòng Khôn thái âm, nước chuyển hành ứng với Chấn vận hành sinh tạo.

Khoảng không gian giữa các nọc tia sáng chỉ có các sọc xéo song song với 1 cạnh của nọc tia sáng mang nghĩa đơn giản là không gian khôn. Ở đây là Khôn nòng âm. Mặt trời với khoảng không gian mang biểu tượng Càn Khôn, âm dương, sinh tạo.

Phần còn lại của mặt trống chì có hai vành: một vành có các vạch xéo song song là vành đường rầy hay hình các thanh thang đứng (răng lược) đang vận chuyển mang nghĩa Khôn cõi nước, cõi âm sinh tạo. Bên ngoài cùng là vành trống không Khôn mang tính dương.

Mặt trời đĩa hai nòng vòng tròn thái âm, nước liên hệ với với cõi âm này có một khuôn mặt cực dương của khâu thái âm.

Ở trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn vì trống biểu tượng cho ngành nọc (trống có một nghĩa là đực, nọc như heo nọc) nên mặt trời mang tính hai nòng vòng tròn đồng tâm thái âm thường chỉ thấy nhiều ở các trống minh khí liên hệ với cõi âm. Trong khí đó ở cồng, gương và các vật đựng mang âm tính thấy nhiều hơn. Ví dụ thấy ở một đĩa đồng:

clip_image034Đĩa đồng (asiakicorp.com).

-Tứ Tượng

1. Tứ tượng Lớn

.Tượng Nước

Tượng Nước mang tính chủ trong tứ tượng của khâu thái âm có một khuôn mặt nước thái âm.

Ví dụ:

.Mắt âm rắn nước đầu thuyền hình nòng hai vòng tròn đồng tâm:

clip_image036Đầu thuyền rắn nước trên trống Ngọc Lũ I có con mắt âm hai nòng vòng tròn thái âm, nước bao quanh con ngươi nọc chấm đặc.

.Mắt ếch nước thái âm thấy ở trống Salayar, Nam Dương.

clip_image038Ếch trên trống Salayar, Nam Dương có con mắt âm hai vòng tròn đồng tâm, thái âm, nước.

Con ếch là con sống được dưới nước, có một khuôn mặt biểu tượng cho nước, mưa ví dụ trống mưa thường được gọi là trống ếch. Từ ếch biến âm với với ách, có nghĩa là nước (óc ách), liên hệ với Tây Ban Nha ngữ aqua, Phạn ngữ aka, nước.

Kiểm chứng ta cũng thấy mặt trống có một vành sóng nước chữ S kép (xem dưới).

.Hoa tai vành tròn.

Hoa tai đĩa tròn có lỗ có một khuôn mặt là hai nòng tròn đồng tâm diễn tả nước thái âm.

Ví dụ ở thân trống loại Pejeng thấy ở Bali, Nam Dương có nhiều hình mặt người hay mặt nạ hình trái tim (lá đa, lá đề) được coi là người hay âm thần cõi nước, cõi âm.

clip_image040clip_image042Mặt người hay mặt nạ trên trống Trăng Bali và trống Manuaba, Bali, Nam Dương.

Hình ngữ trái tim (hay lá đa) như đã biết do hai nòng vòng tròn chuyển động mở ra có một nghĩa là thái âm chuyển động mang dương tính (nước thái âm, bộ phận sinh dục nữ ngành nọc thái dương). Vì thế hoa tai này nghiêng nhiều về nghĩa biểu tượng nước thái âm cho biết những người hay thần này thuộc tộc nước hay thần cõi nước, cõi âm. Hoa tai có một khuôn mặt diễn tả nước thái âm. Kiểm chứng ta cũng thấy rõ con mắt người hay mặt nạ ở trống Trăng Bali có vành sóng cuộn bện thừng và ở trống Manuaba có vành sọc hình móc nước xoáy và trống Pejeng là một loại trống đồng đặc biệt của tộc Lạc Việt hải đảo (xem loại trống này) tức tộc nước dương, biển.

.Hai giọt nước chuyển động diễn tả tượng nước dương Chấn trong hình thái tứ tượng đã nói ở trên.

clip_image043

= hai giot nuoc

.Hai giọt nước OO chuyển động thể điệu hóa thành hai giọt nước có đuôi hình hạt hạnh nhân clip_image027[1] trên trống Làng Vặc như đã nói ở trên.

.Cá sấu dao, giao long trên trống Hòa Bình, có mắt âm hai vòng tròn đồng tâm.

clip_image047

.Chim nông

Chim nông nước (bồ nông), như đã biết, thấy ở trống trống Ngọc Lũ I có com mắt âm nước và ở tang trống Hoàng Hạ trên người có thêm từ nòng hai vòng tròn đồng tâm có nghĩa thái âm, nước .

clip_image049

.Người mặt trời tộc nước.

Ví dụ ngươi chim-mặt trời tộc nước trên trống Thôn Mống có mắt là từ nòng hai vòng tròn đồng tâm.

clip_image051Người mặt trời tộc nước trên trống Thôn Mống.

…..

.Tượng Gió

-Vỏ không gian thiếu âm gió.

Từ hai vòng tròn OO nếu một chữ O dương hóa còn ở dạng vòng tròn mang dương tính có độ dầy bằng nửa vòng tròn chuẩn và vòng tròn O còn lại không thay đổi, dính lại thành vòng tròn có độ dầy bằng một rưỡi vòng tròn chuẩn. Lúc này theo dương của âm, ta có vòng tròn thiếu âm nguyên thể khí gió. Ví dụ:

-Vỏ không gian ở trống Việt Khê.

clip_image053Trống Việt Khê.

Trống thuộc nhóm mặt trời Khôn Đoài có mặt trời 8 nọc tia sáng. Số 8 là số Khôn tầng 2 (0, 8).

Trống nghiêng về khuôn mặt tạo hóa vì không có cảnh sinh hoạt nhân sinh. Trống nghiêng về khuôn mặt Khôn 8 đội lốt Khôn tạo hóa 0.

Khôn dương là khí gió. Ở đây rõ ràng là Khôn dương vì có các vành giới hạn là những vành nọc chấm đặc mang dương tính và các khoảng không gian giữa các nọc tia sáng toàn là hình thái đơn nọc mũi mác mang tính lửa, dương chồng lên nhau. Các con cò có bờm gió, cánh hình thảm gió.

Đây là trống biểu của tộc gió. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là trống biểu của Hùng Lang mạng gió.

Rõ như ban ngày vòng tròn vỏ không gian ở đây có độ dầy bằng rưỡi độ dầy vòng tròn chuẩn mang tính thiếu âm nguyên thể của gió do hai vòng tròn nòng đồng tâm một vòng mang dương tính chập lại.

-Phướn gió.

Ở một dàn trống trên trống Ngọc Lũ I có một cây phướn có viết từ hai nòng vòng tròn đồng tâm.

clip_image055Một dàn trống trên trống Ngọc Lũ I.

Hiển nhiên từ hai nòng vòng tròn đồng tâm ở đây mang tính khí gió diễn tả tượng gió của đại tộc nước thái âm.

-Khèn

Trong hai nhóm người nhẩy múa ở trống Ngọc Lũ I có hai người thổi khèn:

clip_image057Người thổi khèn trên trống Ngọc Lũ I.

Khèn làm bằng quả bầu. Bầu có nghĩa là bao bọc, theo thiếu âm có một khuôn mặt biểu tượng khí gió. Rõ nhất là khèn làm nhạc cụ thổi bộ gió biểu tượng cho khí gió. Thật thế, khèn quả bầu hình hai nòng O đồng tâm biến dạng có phần cổ (phần thổi) nhọn mang dương tính tức dương I của âm O, thiếu âm IO nguyên thể khí gió của khâu thái âm. Trong khèn có dấu nọc chấm-vòng tròn có một nghĩa là thiếu âm khí gió nguyên tạo xác thực tính khí gió của khèn bầu hai vòng tròn đồng tâm.

.Tượng Lửa

Các mặt trời âm nam thái âm đã nói ở trên có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng lửa.

.Tượng đất.

Vỏ không gian thiếu dương lửa đất.

Từ hai vòng tròn OO nếu một chữ O dương hóa còn ở dạng vòng tròn dương tính có độ dầy bằng nửa vòng tròn chuẩn và vòng tròn O còn lại không thay đổi, dính lại thành vòng tròn có độ dầy bằng một rưỡi vòng tròn chuẩn. Lúc này nhìn theo  âm O ngành dương I, ta có vòng tròn thiếu dương OI nguyên thể lửa đất, đất dương (Li). Ví dụ vỏ không gian ở trống Giảo Tất.

clip_image059Trống Giảo Tất (nguồn: phạm huy thông và các cộng tác viên).

Trống thuộc nhóm Khảm-Li Đất dương có mặt trời 10 nọc tia sáng. Số 10 là số Khảm tầng 2 (2, 10) thế gian có một khuôn mặt hôn phối với Li, đất dương. Các khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có hình thái một tộc đơn đồng nhất gồm 4 nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) có nghĩa là nọc, đực, dương mang dương tính. Số 4 là số Cấn, đất âm (non) có đất dương Li làm đại diện. Ngoài biên trống có hai vành nọc mũi mác có một nghĩa nọc thái dương. Những con cò ở đây không có bờm mang hình ảnh búa rìu nhọn mang dương tính ngành nọc dương (Li hay Càn, ở đây là trống Khảm-Li nghiêng về Li). Tất cả các yếu tố vừa nói nghiêng về lửa đất dương Li.

Vỏ không gian ở đây hơi dầy một chút coi như là mang tính thiếu dương lửa đất do một vòng tròn mang dương tính có độ dầy bằng nửa (hay nhỏ hơn vì ở ngành nọc dương) vòng tròn chuẩn dính chập với vòng tròn thứ hai không thay đổi.

Lưu ý

Như đã biết vòng tròn thiếu âm IO và thiếu dương OI đều do một nòng mang tính dương I và một nòng mang tính âm O chập lại, nghĩa là theo đúng lý thuyết thì vòng thiếu âm và thiếu dương đều có độ dầy như nhau bằng một vòng rưỡi độ dầy vòng chuẩn.

Tuy nhiên ở đây ta thấy vòng tròn thiếu âm ở trống Việt Khê dầy hơn vòng tròn thiếu dương ở trống Giảo Tất. Như thế vì vòng thiếu âm thuộc nhánh âm nên mang âm tính nhiều hơn nên có độ dầy hơn.

2. Tứ tượng Nhỏ.

Như đã nói ở trên, bốn đại tộc ứng với tứ tượng lớn Nước, Lửa, Đất, Gió. Mỗi đại tộc lại chia ra bốn tộc ứng với tứ tượng nhỏ  của tượng lớn đại tộc đó. Ví dụ đại tộc Nước ứng với tượng Lớn Nước chia ra bốn tộc ứng với tứ tượng Nhỏ của tượng Nước Lớn.

Hãy lấy một ví dụ đại tộc người Nước trên thuyền ở trống Ngọc Lũ I.

Qua chương Ý Nghĩa Hình Thuyền trong Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc Âm Dương Đông Nam Á ta đã biết ở tang trống Ngọc Lũ I có 6 con thuyền.

Ở đây chỉ xin thật tóm lược và chủ đích chính là nói tới những chi tiết liên hệ với từ nòng hai vòng tròn.

clip_image061Sáu thuyền trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I sắp xếp lại theo chuyển động vòng tròn như trên vai trống và theo duy âm đọc theo chiều kim đồng hồ của tôi.

Thuyền hiển nhiên biểu tượng cho nước. Những người trên 6 thuyền này hiển nhiên thuộc đại tộc Nước của ngành nọc mặt trời thái dương mang tính chủ của trống trống Ngọc Lũ I thuộc nhóm trống mặt trời thái dương có 14 nọc tia sáng (số 14 là số Tốn OII (âm O thái dương II) tầng 2 (6, 14).

Nét đặc thù tiêu biểu của những người đại tộc Nước Chấn này là cái khiên (mộc) cầm ở tay của những người gác cổng trời, cổng thượng thế đứng trên đài cao tam thế. Khiên hình hai chữ DD ngược lồng vào nhau nhọn đầu mang dương tính (DD ngược vì nhìn theo chiều âm của nước).

clip_image063Khiên hình hai chữ DD ngược lồng vào nhau nhọn đầu.

DD là do từ hai nòng âm OO đồng tâm dương hóa mà thành. Hai đầu nọc nhọn mũi mác mang tính thái dương tức nước thái âm ngành nọc dương thái dương, nọc (I) nước (OO) tức IOO, Chấn.

Kiểm chứng bằng cách dọc theo chữ nòng nọc vòng tròn-que: đọc theo chiều hướng nhìn của người này về phía đuôi thuyền tức chiều âm, ta có thành thẳng đứng là nọc que I hai cung cong là do hai nòng OO mở ra mang dương tính. Gộp lại là IOO, Chấn.

Sáu người gác cổng thượng thế trên tất cả sáu con thuyền này đều cầm khiên của tượng nước Chấn cho thấy họ đều thuộc cùng một đại tộc nước Chấn. Chỉ có sự khác biệt là vị trí của khiên và của cây lao mang tính lửa, thái dương dương đi kèm. Sự khác biệt này giúp ta nhận diện được các khuôn mặt của các tộc trong đại tộc Nước.

Thuyền số 1 Càn sinh tạo của đại tộc nòng âm nước Chấn.

clip_image065Thuyền số 1 dẫn đầu sáu thuyền đọc theo chiều âm của đại tộc Nước.

Trước hết, trong 6 thuyền chỉ có hai thuyền dẫn đầu 1 và 2, ở mỗi thuyền có hai cảnh phán xét linh hồn tức hai linh hồn người chết dưới dạng trẻ con ngồi bệt trên sàn thuyền. Ở thuyền số 1 này, một trong hai linh hồn bị soi mòn mất chỉ còn một phần nên trông giống như chiếc khăn. Còn lại bốn thuyền chỉ có một cảnh phán xét linh hồn tức một linh hồn (Ý Nghĩa Người Trên Thuyền).

Những thuyền này là thuyền phán xét linh hồn (không phải là thuyền chiến đang tra khảo tù nhân như hiện nay cho là vậy).

Thuyền 1 và 2 có hai cảnh phán xét linh hồn ứng với hai phía nòng nọc của đại tộc Nước.

Bây giờ ở đây ta đang nói về từ nòng hai vòng tròn nên tôi lấy mấu chốt đặc thù là khiên Chấn do hai chữ DD lồng vào nhau có đầu nhọn làm làm yếu tố nhận diện chính của từng con thuyền.

Tay người gác cổng trời, cổng thượng thế ở thuyền số 1 này cầm khiên Chấn quay về phía mũi thuyền mang dương tính nghĩa là thuộc về phía dương Càn và lao mang dương tính để thẳng góc với cạnh thẳng đứng của khiên mang tính thái dương (góc vuông là góc mang tính thái dương).

Đây là người biểu tượng lửa thái dương Càn mang tính sinh tạo của đại tộc nước dương Chấn.

Kiểm chứng thêm ta cũng thấy những yếu tố khác của thuyền cũng xác thực thuyền này là thuyền Càn:

-Thành đài cao tam thế hình đầu chim cắt có hai từ chấm vòng tròn có một nghĩa hai dương, thái dương, Càn.

-Vách sàn đài tức vách đất bằng cõi trung thế có những dấu nọc chấm đặc có một nghĩa lửa, thái dương, Càn nguyên tạo.

-Dưới gầm sàn đài tam thế có để vật đựng hình trống hay trống. Vật này có hai khuôn mặt. Theo duy âm là vật đựng thái âm mang dương tính, theo duy dương là trống thái dương của phía nòng âm (âm vì để ở hạ thế dưới gầm sàn trung thế). Ở đây mang khuôn mặt dương (vì người gác cổng thượng thế quay về phía mũi thuyền, dương) là trống có một khuôn mặt diễn Càn của phía nòng âm đại tộc nước.

-Trang phục đầu của người chèo thuyền phần trên có những đường cong như tia sáng âm, phần dưới sau gáy hình ánh sáng toả ra. Trang phục đầu mang tính Càn.

-Tay chèo có đầu chim mỏ rìu, chim biểu của lửa vũ trụ Càn (ứng với chim cắt lớn là chim biểu của thần mặt trời Viêm Đế có họ Khương, Sừng).

….

Thuyền số 1 là thuyền có khuôn mặt chủ là Càn sinh tạo của đại tộc người nước.

Thuyền số 2 Chấn sinh tạo của đại tộc nòng âm nước Chấn.

clip_image066

Thuyền số 2, một trong hai thuyền dẫn đầu đọc theo chiều âm của đại tộc Nước.

Như đã nói ở trên, có hai cảnh phán xét linh hồn (ở đây hai linh hồn hình trẻ con ngồi xệp trên sàn còn thấy rõ hết) biểu tượng cho một đại tộc.

Bây giờ dựa theo mấu chốt đặc thù của khiên Chấn để nhận diện.

Tay người gác cổng trời ở thuyền số 2 này cầm khiên Chấn quay về phía đuôi thuyền mang âm tính nghĩa là thuyền thuộc phía âm Chấn. Tuy nhiên không có lao tức không có dương, thuần âm. Chỉ có khiên Chấn nên chỉ biểu tượng đại tộc thuần âm nước dương Chấn.

Kiểm chứng thêm ta cũng thấy những yếu tố khác của thuyền cũng xác thực thuyền này là thuyền Chấn sinh tạo.

-Vách sàn đài có hình sóng bốn vòng tròn. Số 4 là số Cấn hôn phối với Chấn (Âu Cơ Đất Núi lấy Lạc Long Quân Chấn Biển).

-Dưới gầm sàn đài tam thế có để bình, vật đựng nước mang tính thái âm OO có cổ bình thẳng nọc que I. Bình diễn tả IOO, Chấn.

-Trang phục đầu người chèo thuyền hình hộp có góc cạnh diễn tả không gian ngành dương phía dưới có các vạch xiên ngang lớn diễn tả nước biểu tượng cho Khôn âm nước ngành dương Chấn.

….

Như thế hai thuyền dẫn đầu 1 và 2 là hai thuyền biểu tượng cho hai khuôn mặt lửa thái dương Càn và nước thái âm Chấn sinh tạo của đại tộc người nước Chấn.

.Thuyển số 3 tộc Khôn-Càn.

clip_image068Thuyền số 3 biểu tượng cho tộc Khôn/Càn trên trống Ngọc Lũ I (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Như đã nói ở trên, chỉ có một cảnh phán xét linh hồn nên thuyền chỉ biểu tượng cho một tộc.

Bây giờ dựa theo mấu chốt đặc thù của khiên Chấn để nhận diện.

Tay người gác cổng trời ở thuyền số 3 này cầm khiên Chấn quay về phía đầu thuyền mang dương tính Càn và cây lao chỉ xiên lên trời hình đầu lao hình mũi mác to nhọn, phía đáy có hai mấu nhọn hình mũi mác tức tổng cộng ba nọc mũi mác mang tính thái dương Càn. Trên người này có chữ hay dấu chấm vòng tròn có một nghĩa dương (vì quay mặt về phía mũi thuyền dương) là mặt trời, Càn.

clip_image069Cây lao càn đầu lao có ba mũi mác mang tính Càn.

 

Đây là người tiêu biểu của tộc Càn-Khôn của tộc Càn của đại tộc Chấn.

Kiểm chứng thêm ta cũng thấy những yếu tố khác của thuyền cũng xác thực thuyền này là thuyền Càn-Khôn.

-Thành đài cao tam thế có hình chim cắt Càn đầu rất tròn hình nòng O trong có dấu nòng chấm rỗng diễn tả khôn Khôn. Chim diễn tả Càn-Khôn.

-Vách sàn đài có ba từ chấm vòng tròn có một nghĩa là ba dương nguyên tạo tức Càn nguyên tạo. Ba từ này nối với nhau thành hình sóng diễn tả Càn sinh tạo của tộc nước (Chấn).

-Dưới gầm sàn đài tam thế để trống không. Trống không diễn tả hư không, không gian Khôn. Khôn giao phối với Càn.

-Trang phục đầu người chèo thuyền có hình hộp không gian ngành thái dương phía trước có thêm hình đầu chim dương diễn tả lửa không gian tức Càn.

-Tay chèo có hai phần rất khác biệt: phần trên hình đầu chim có mỏ rất to mang dương tính tức chim bổ, chim cắt nhưng mỏ có những nét cong và không có mũ sừng mang âm tính tức Cắt âm, Càn âm. Phần dưới có hình khiên Chấn. Đây là dạng Càn của đại tộc nước Chấn hay dạng lưỡng hợp Càn-Chấn.

….

Như thế thuyền số 3 này biểu tượng cho tộc Càn Khôn của đại tộc Chấn.

.Thuyển số 4 tộc Li-Khảm.

clip_image071Thuyền số 4 biểu tượng cho tộc Li/Khảm trên trống Ngọc Lũ I (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Như đã nói ở trên, chỉ có một cảnh phán xét linh hồn nên thuyền chỉ biểu tượng cho một tộc.

Bây giờ dựa theo mấu chốt đặc thù của khiên Chấn để nhận diện.

Tay người gác cổng trời ở thuyền số 4 này cầm khiên Chấn quay về phía đầu thuyền mang dương tính và cây lao chỉ xiên lên trời có đầu lưỡi rìu hình tháp đáy bằng hơi nhọn hai đầu (ít dương tính hơn lao Càn ở thuyền số 3) diễn tả Li.

clip_image072

Cây lao Li.

Đây là người tiêu biểu của tộc Li-Khảm của đại tộc Nước.

Kiểm chứng thêm ta cũng thấy những yếu tố khác của thuyền cũng xác thực thuyền này là thuyền Li-Khảm.

-Thành đài cao tam thế có hình chim cổ thẳng đứng hình trụ chống trời có 5 tua trên đầu. Số 5 là số Li. Thành đài biểu tượng cho Li đất dương.

-Dưới gầm sàn đài tam thế có bình tròn như quả bầu mang nghĩa bầu không gian. Trong bình có hình tròn nòng bôi đen diễn tả nước. Nước trong không gian là Khảm. Khảm nước nấu bằng lửa Li. Ta cũng thấy nước nấu trên lửa thành hơi nước tức nước thiếu âm Khảm có cốt khí gió (Long Nữ vợ Kì Dương Vương có mạng Khảm có cốt khí gió âm nên là Nàng Gió). Nước thiếu âm Khảm trên lửa thiếu dương Li diễn tả Khảm hôn phối với Li ở dưới ở dạng lưỡng hợp Li-Khảm (Kì Dương Vương Li với Long Nữ Khảm).

-Trang phục đầu người chèo thuyền có hình hai sừng nhọn có cạnh thon cong biểu tượng cho Li của phía âm Khảm.

-Tay chèo có hình đầu chim cắt nét cong mang âm tính biểu tượng cho dương của âm là thiếu dương nguyên thể của Đất Li.

Như thế thuyền số 4 này biểu tượng cho tộc Li-Khảm của đại tộc Chấn.

.Thuyền số 5 tộc Cấn-Đoài.

clip_image074

Thuyền số 5 biểu tượng cho tộc Đoài/Cấn trên trống Ngọc Lũ I (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Như đã nói ở trên, chỉ có một cảnh phán xét linh hồn nên thuyền chỉ biểu tượng cho một tộc.

Bây giờ dựa theo mấu chốt đặc thù của khiên Chấn để nhận diện.

Tay người gác cổng trời ở thuyền số 5 này cầm khiên Chấn quay về phía đuôi thuyền mang âm tính và cây lao chỉ thẳng lên bầu trời  khí  gió có đầu hình búa dương diễn tả dương của âm, thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió.

Đây là người tiêu biểu của tộc Đoài-Cấn của đại tộc Chấn.

Kiểm chứng thêm ta cũng thấy những yếu tố khác của thuyền cũng xác thực thuyền này là thuyền Đoài-Cấn.

-Thành đài cao tam thế có hình chim có bờm gió biểu tượng cho Đoài vũ trụ khí gió.

-Dưới gầm sàn đài tam thế có vật đựng hình trống. Nhìn theo duy dương trống thì là trống hình lọng gió loại trống Đoài khí gió Nguyễn Xuân Quang III (Heger III). Vả lại theo dương của âm, trống  có một khuôn mặt biểu tượng cho không trung khí gió (tiếng trống thu không). Như thế vật hình trống diễn tả Cấn-Đoài vũ trụ khí gió. Nhìn theo duy âm vật đựng thì có hình như cái thạp tròn đầu có chân choãi mang âm tính hình non (núi âm) Cấn.

-Trang phục đầu người chèo thuyền có hình bờm gió biểu tượng cho Đoài vũ trụ khí gió.

-Tay chèo có hình đầu chim hình búa, bổ, có chấm nọc dương và có bờm gió. Đây là đầu chim bổ nông khí gió diễn tả Đoài vũ trụ khí gió, như đã biết, bổ (I) nông (O) là IO, thiếu âm, nguyên thể của khí gió.

Như thế thuyền số 5 này biểu tượng cho tộc Đoài-Cấn.

.Thuyền số 6 tộc Tốn-Chấn.

clip_image076Thuyền số 6 biểu tượng cho tộc Tốn-Chấn trên trống Ngọc Lũ I (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Như đã nói ở trên, chỉ có một cảnh phán xét linh hồn nên thuyền chỉ biểu tượng cho một tộc.

Bây giờ dựa theo mấu chốt đặc thù của khiên Chấn để nhận diện.

Tay người gác cổng trời ở thuyền số 6 này cầm khiên Chấn quay về phía đuôi thuyền mang âm tính và không có cây lao giống như ở thuyền số 2 Chấn sinh tạo. Như thế ta suy ra ngay thuyền này có một khuôn mặt Chấn nhưng là của tộc Chấn trong đại tộc người nước Chấn.

Ta cũng thấy nữa là chỉ hai thuyền Chấn 2 và 6 này có con chó ngao ở cõi âm nước tham dự vào qui trình phán xét linh hồn.

Đây là người tiêu biểu của tộc Chấn-Tốn của đại tộc Chấn.

Kiểm chứng thêm ta cũng thấy những yếu tố khác của thuyền cũng xác thực thuyền này là thuyền Chấn-Tốn.

-Thành bên trái đài cao tam thế có hình chim đầu tròn nòng O có bờm 5 tua lửa thiếu dương Li diễn tả chim nòng O lửa II tức OII, Tốn. Phía dưới có từ chấm hai vòng tròn đồng tâm Chấn. Thành đài bên trái diễn tả Tốn-Chấn.

-Dưới gầm sàn cầu đài tam thế có hai bình đựng là hai nòng OO, nước thái âm. Bình bên phải hình cái âu rộng miệng hình chữ U biểu tượng nước thái dương Chấn và bình bên trái giống hình ngỗng đựng rượu mang dương tính biểu tượng cho Đoài vũ trụ/Tốn gió âm. Hai bình diễn tả Chấn-Tốn.

-Trang phục đầu người chèo thuyền có hai phần. Phần trước có hình chim mỏ cong mang âm tính có phụ đề chấm-vòng tròn rất nhỏ mang dương tính, thiếu âm. Đây là đầu chim nước gió Chấn/Tốn có thể là bồ nông gió.

Phần sau trang phục đầu người chèo thuyền có hình chim mỏ cong gợn sóng nước cho biết có một khuôn mặt nước thái âm. Có bổ nghĩa bằng từ chấm-hai vòng-chấm có một nghĩa nước dương Chấn.

Phần dưới trang phục đầu hình hộp chữ nhật có nghĩa là không gian O thể điệu hóa trong có hình sóng cuộn  hai đầu tròn trong có bỏ hai dấu nọc chấm đặc nguyên tạo có một nghĩa là dương  Hình sóng mang nghĩa nước, hai chấm là thái dương. Hình sóng cuộn kín có hai nọc chấm đặc là Chấn, nước dương, nước thái dương.

Lưu ý ở đây chỉ có hai vòng tròn nên là sóng chứ không phải là vòng tròn tiếp tuyến.

-Tay chèo có hình đầu chim có bờm gió. Vì người gác cổng trời quay mặt về phía âm nên đây diễn tả gió âm Tốn.

Như thế thuyền số 6 này biểu tượng cho tộc Chấn-Tốn.

Tóm tắt

Thuyền trên trống Ngọc Lũ I là thuyền phán xét linh hồn. Chúng mang trọn ý nghĩa vũ trụ luận. Trong 6 thuyền, hai thuyền biểu tượng dương âm ở cõi sinh tạo đại vũ trụ Càn Chấn của đại tộc người nước dương Chấn ngành âm, nước. Bốn chiếc còn lại biểu tượng bốn tộc tương ứng với tứ tượng nhỏ của đại tộc Chấn (tượng Nước lớn).

Điểm quan trọng ở đây là nói về từ hai nòng vòng tròn chuyển động dương hóa thấy qua khiên chữ DD kép lồng vào nhau có hai mũi nhọn thái dương Chấn. Đây là một trong những mấu chốt quan trọng để nhận diện 6 con thuyền.

Rõ như ban ngày, ở đây một lần nữa ta thấy những chữ, dấu, hình trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn là hệ thống chữ nòng nọc vòng tròn-que. Hệ thống này trên trống đồng viết hết sức chuẩn, hết sức chính xác đúng với ngữ pháp chữ nòng nọc vòng tròn-que và hết sức nhiều, hơn bất cứ ở một nền văn hóa nào khác của nhân loại. Người đại tộc Đông Sơn, nói một cách khiêm nhường, là những bậc thầy, bậc sư về chữ nòng nọc vòng tròn-que, về dịch nòng nọc. Trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn là một bộ dịch đồng bằng hình ảnh viết bằng chữ nòng nọc vòng tròn-que duy nhất của nhân loại. Trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn là một quyển từ điển chữ nòng nọc vòng tròn-que.

-Tam thế

Như đã biết, vòng tròn vỏ thượng thế ở tâm trống có ba khuôn mặt là vỏ hư vô, vỏ thái cực và vỏ không gian khởi đầu của những giai đoạn sinh tạo ở cõi tạo hoá dẫn đến kết quả sinh ra tam thế. Như thế ở những trống của phía nòng âm có vỏ thượng thế mang tính thái âm có vòng tròn dầy do hai vòng tròn chuẩn chập lại cũng có một khuôn mặt sinh ra tam thế.

Ví dụ vỏ thượng thế của trống Làng Vặc, trống biểu của tộc nước duy nhất như đã nói ở trên cũng có một khuôn mặt là thiết diện mang tính thái âm của trục thế giới của một tộc nước.

-Trục thế giới

Như đã biết vòng tròn vỏ thượng thế ở tâm trống có một khuôn mặt là thiết diện của trục thế giới.

Ở những trống Đông Sơn Nấm Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I) như trống Nagọc Lũ I có thân trống thẳng đứng là trục thế giới. Ở những trống tượng lửa hình trụ ống Nguyễn Xuân Quang II (xem trống Lào) thì hiển nhiên thân trống thẳng đứng là trục thế giới.

Thiết diện thân trống trục thế giới ở trên mặt trống của những trống nhóm mặt trời thái âm có thể là vỏ thượng thế mang tính thái âm có độ dầy bằng hai vòng tròn chuẩn

Ví dụ:

.Ở trống Làng Vặc, trống biểu của tộc nước duy nhất đã nói ở trên.

.Trống Lãng Ngâm

Trống minh khí Lãng Ngâm quanh đầu nọc tia sáng có một vành gọi là hình thái bện thừng thật ra mang hình ảnh vành sóng cuộn nước chuyển động mang thính thái âm OO (vì là trống tuỳ táng chôn theo người chết, cõi âm nước, âm ty).

clip_image078Mặt trống Lãng Ngâm.

Vì bao quanh mặt trời-không gian nên có thể coi như là có một khuôn mặt thiết diện của trục vũ trụ, trục thế giới.

.Trống đồng Điền Việt dùng làm trụ thờ.

Trục thế giới thấy rõ nhất ở các trống đồng Điền Việt thường dùng làm trụ trục thế giới để dâng cúng lễ vật, hiến sinh và lời cầu nguyện tới tam thế.

Trụ này có thể là một vật đựng vỏ sò hình trụ ống, có hay không có chân:

clip_image079Vật đựng vỏ ốc sứ hình thạp trụ tròn mang hình ảnh trục thế giới, Bảo Tàng Viện Tỉnh Vân Nam (ảnh của tác giả).

Trong trường hợp dạng trống trụ tròn này hiển nhiên trục thế giới có hình trụ rỗng thì đĩa tròn ở mặt (tương đương với vỏ thượng thế) là thiết diện của trục thế giới. Hiển nhiên thế nào cũng một vật có thiết diện đĩa tròn có khuôn mặt mang tính thái âm. Bởi vì có sự hiện diện của cọp thuộc họ nhà mèo mang âm tính, thú biểu của tộc âm thái dương.

Thất vậy, điểm này thấy rõ khi người Điền Việt lấy ngay một trống Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI có sẵn khoét bỏ mặt trống thay vào đó một nắp đậy hình mâm tròn trên có trang trí các hình tượng ba chiều.

clip_image080Một trống đồng Điền dùng làm trụ thờ dạng trục thế giới.

Mặt trống thay thế bằng một mâm tròn diễn tả thiết diện của trục thế giới, Ở tâm có đĩa tròn diễn tả tâm trục thế giới và cũng là tâm vũ trụ. Quanh trục thế giới này có trưng bầy cảnh nhẩy múa hát ca, tế lễ.

Nhiều trường hợp trục thế giới được diễn tả cho thấy rõ hơn bằng cách làm trục thế giới có phần nối dài lên khỏi mặt trống. Ví dụ trống dùng làm vật đựng vỏ ốc sứ trên nắp diễn tả một cảnh hiến tế người dưới sự chủ tọa của một nữ lưu hoàng tộc được che lọng.

clip_image081Vật đựng vỏ ốc sứ trên nắp có các hình tượng diễn tả một cảnh hiến tế (206 BC-25 AD, khu mộ Số 20, Trại Thạch Sơn) (1).

Trụ cao ở tâm trống là phần nối dài của trục trống tức trục thế giới dùng làm đường để đưa tế vật lên thượng thế. Ta thấy rõ chỏm trục thế giới có thiết diện là hình đĩa hai vòng tròn đồng tâm.

Tương tự trong một cảnh hiến tế người trên nắp một vật đựng vỏ ốc sứ có trục thế giới trụ tròn với hình rắn quấn quanh:

clip_image082Một cảnh hiến tế người trên nắp một vật đựng vỏ ốc sứ có Trục Thế Giới với hình rắn quấn quanh (nguồn đã dẫn).

Sự hiện diện của rắn nói rõ cho biết trục mang tính thái âm nước. Hiển nhiên thiết diện trục thế giới mang tính thái âm nước OO.

Giản tiện hơn họ lấy hai trống đồng chồng lên nhau làm trụ thờ có dạng trục thế giới, trống ở trên bỏ mặt thay vào đó một hình mâm tròn làm mặt bằng trục thế giới ở thượng đỉnh.

clip_image084

clip_image085Hai trống đồng nòng nọc chồng lên nhau làm trụ thờ dạng trục thế giới

Những tộc nước ở tâm đĩa tròn có hình tượng ếch. Ở đây tâm mặt trụ thờ tức thiết diện trục thế giới có một đĩa tròn nhỏ diễn tả tâm trục thế giới cũng là tâm của tam thế, vũ trụ trên có tượng cóc/ếch. Vì ngồi ở tâm vũ trụ, tượng cóc/ếch ở đây có khuôn mặt chính là sinh tạo, tạo hóa của tộc nước. Hiển nhiên trục thế giới mang tính chủ thái âm nước.

-Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống).

Như đã nói ở trên, tương tự như chữ nòng vòng tròn O là hạt, hột mầm sinh ra Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống), từ hai nòng vòng tròn cũng là hạt, hột mầm nhưng mang tính thái âm sinh ra Cây Vũ Trụ, Tam Thế, Cây Đời Sống của khâu thái âm ở tầng tứ tượng. Ví dụ như trống tạo hoá vành cầu (dạng hai vòng tròn đồng tâm) Nguyễn Xuân Quang I là do trứng tròn như trứng chim cắt bỏ hai đầu để làm trống. Hiển nhiên trống trứng vũ trụ sinh ra cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống).

-Sinh Tạo, Tái Sinh, Hằng Cửu.

.Như vừa nói ở trên trống vành cầu tạo hóa Nguyễn Xuân Quang I do dạng trứng tròn làm ra mang một ý nghĩa trứng vũ trụ tạo hoá. Hiển nhiên mang nghĩa sinh tạo, tái sinh, hằng cửu.

.Tất cả trống Đông Sơn hình Cây Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I) đều sinh ra từ trứng vũ trụ có một khuôn mặt thuần âm thái âm OO (trứng nước) như thấy qua hình giải phẫu trống đồng đã nói ở chương Cơ Thể Học Trống Đồng trong Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc Âm Dương Đông Nam Á, hiển nhiên cũng mang nghĩa sinh tạo, tái sinh, hằng cửu.

clip_image087Trống Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI sinh ra từ trứng vũ trụ.

.Trống nhóm mặt trời thái âm của ngành nọc mặt trời thái dương.

Ý nghĩa sinh tạo, tái sinh, hằng cửu thấy rõ hơn ở nhóm trống minh khí dùng làm vật tùy táng có mặt trời thái âm hai vòng tròn nòng đồng tâm. Ví dụ:

Trống Lãng Ngâm

clip_image077Trống Lãng Ngâm (Hà Bắc) (nguồn: Trịnh Sinh, Nhân Chiếc Trống Đồng Đông Sơn Mới Tìm Được ở Triết Giang, Trung Quốc, Khảo Cổ Học 3-97, tr.56)

Trống thuộc loại minh khí, mặt trống có mặt trời có khối lửa mát dịu hình đĩa tròn gồm hai vòng tròn nòng thái âm tạo thành một vành tròn và có 12 nọc tia sáng Cấn tầng hai. Với khuôn mặt khối lửa thái âm nên trống có khuôn mặt chủ là Cấn/Chấn. Đây là mặt trời nòng nam Chấn cõi nước, cõi âm. Khoảng không gian giữa các nọc tia sáng chỉ có các sọc xéo song song với 1 cạnh của nọc tia sáng mang nghĩa đơn giản là không gian Khôn. Ở đây là Khôn nòng âm.

Phần còn lại của mặt trống chỉ có hai vành: một vành có các vạch xéo hình sóng cuộn bện dây thừng mang nghĩa Khôn âm Chấn cõi nước, cõi âm. Đây là dạng sóng cuộn tròn đầu mang âm tính ngược với dạng sóng cuộn đầu nọc nhọn mang dương tính.

Bên ngoài là vành trống không Khôn mang tính dương khí gió vũ trụ.

Tang và dưới chân thân trống cũng có vành sóng cuộn bện dây thừng như ở biên trống.

Trụ trống có các đường gạch ngắn song song liên hệ với Khôn.

Trống có mặt trời 12 nọc tia sáng Cấn/Chấn nhưng không có tượng cóc/ếch nên không thuộc nhóm trống sấm mưa. Ở đây là trống minh khí dùng làm vật tùy táng chôn theo người chết như một thứ bùa phù trợ cho người chết và giúp cho hồn người chết được tái sinh, sinh tạo hay sống hằng cửu.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, đây là một khuôn mặt trời cõi nước Chấn Lạc Long Quân có một khuôn mặt ở thủy phủ, cõi âm.

Tóm lại, từ hai nòng vòng tròn OO mang tất cả ý nghĩa của thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh như chữ nòng chấm rỗng, như chữ nòng một vòng tròn nhưng mang tính thái âm sinh tạo năng hoạt chính ở tầng tứ tượng cõi sinh tạo thế gian. Từ nòng hai vòng tròn này cũng thấy rất nhiều trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn. Từ này viết hết sức chuẩn, hết sức đúng với ngữ pháp chữ nòng nọc vòng tròn-que.

(còn nữa).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: