CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE: TỪ HAI NÒNG VÒNG TRÒN OO (2).

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE.

(Circle-Rod Writings).

TỪ HAI NÒNG VÒNG TRÒN OO.

(Two Circle Word).

(Phần 2)

Nguyễn Xuân Quang

-Lưỡng Nghi:

Đây cũng là lưỡng nghi của khâu hai vòng tròn đồng tâm thái âm.

1.Cực âm nhìn theo khâu thái âm.

Hai nòng vòng tròn có thể diễn tả cực âm (nòng, cái, âm, nữ…) mang tính thái âm, thuần âm như thấy qua:

-Bộ phận sinh dục nữ diễn tả bằng hai vòng tròn.

Ví dụ ở ngôi làng Dogon, như đã biết, cối diễn tả bộ phận sinh dục nữ bằng hai vòng tròn đồng tâm.

clip_image002Sơ đồ cấu trúc theo Vũ Trụ giáo của một ngôi làng Dogon, Mali, Tây Phi.

Ở bên trái gần cuối làng có cối biểu tượng cho bộ phận sinh dục nữ diễn tả bằng chữ nòng hai vòng tròn đồng tâm (đối ứng với bàn thờ làng hình chầy, hình trụ tròn đầu ở bên phải biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam). Vòng tròn trong nghiêng về một chữ. Hai chữ nòng OO là thái âm có một nghĩa là nữ, cái, bộ phận sinh dục nữ.

-Hình trong hang Dudumahan ở đảo Kei, phía Đông Nam Dương.

clip_image003Bộ phận sinh dục nữ thấy trong hang Dudumahan, ở đảo Kei, Đông Nam Dương (rearranged after Ballard, Madanjeet Singh, The Sun, Symbol of Power and Life, Harry N. Abrams, Inc, UNESCO, 1993, f. 313).

Hiển nhiên nhìn theo con mắt thông thường đây là hình bộ phận sinh dục nữ. Nếu coi vòng tròn nhỏ nhất ở trong là dấu nòng vòng tròn rỗng chỉ thị nòng âm, nữ nguyên tạo, sinh tạo, thì hai vòng tròng ngoài còn lại là từ gồm hai chữ vòng tròn đồng tâm, có nghĩa là nòng, âm, bộ phận sinh dục nữ (giống cối của Dogong đã nói ở trên). Ba vòng tròn mang nghĩa bộ phận sinh dục nữ sinh tạo.

Theo Madanjeet Singh trong The Sun, Symbol of Power and Life hình này có một khuôn mặt là mặt trời (xem dưới).

-Hình ngữ đàn bà của Maya.

clip_image005Hình ngữ đàn bà của Maya (Kathryn Wilkinson, signs and symbols, dk publishing, NY, 2008).

Như đã nói ở trên, hình ngữ đàn bà có hai búi tóc hình nòng O mầu đen mang âm tính ở hai bên đầu mang nghĩa thái âm, nữ, đàn bà.

.Từ hai vòng tròn OO diễn tả vú phụ nữ như thấy qua hình nữ thần Thiên nhiên Lajjagauri Ấn Độ và trên đồ đồng của đại tộc Đông Sơn (xem dưới).

clip_image007Nữ thần Thiên nhiên Lajjagauri Ấn giáo.

Ta thấy rõ hai vú phái nữ trong tín ngưỡng, tôn giáo cổ thường được diễn tả rất cường điệu, no tròn biểu tượng cho nữ, mắn sinh, sinh đẻ, mẹ, nhục tình nữ (điều này giải thích đàn ông thích nhìn vú phái nữ!) như thấy qua các tượng thần Mẫu:

clip_image009Tượng Thần Mẫu thời Tân Thạch, Viện Bảo Tàng Quốc Gia Ankara, Thổ Nhĩ Kỳ (ảnh của tác giả).

các tiên nữ mây mưa apsara Ấn giáo:

clip_image011Các tiên nữ mây mưa apsara ở đền Khajuraho, Ấn Độ (ảnh của tác giả).

Ta thấy rõ tên của bộ vú viết bằng từ hai nòng OO lồng vào nhau thành hai vòng tròn đồng tâm clip_image012.

Như đã biết, U là dạng âm thái dương của O, như vậy thì OO = UU hay U dài (thấy rõ khi UU chồng lên và dính với nhau thành một U dài của dạng hai vòng tròn đồng tâm). Rõ ràng từ nòng nọc vòng tròn-que OO (vú) = U. Hình ngữ Ai Cập cũng diễn tả vú có hình chữ U:

clip_image014

Việt ngữ U là mẹ (thầy u) và cũng có nghĩa là Vú (Việt ngữ vú là mẹ ruột, mẹ nuôi cho bú, người Trung gọi mẹ là vú). Ta có OO = VÚ = (mẹ = U (mẹ). Ta cũng thấy trong giáp cốt văn và Hán ngữ cổ, từ mú (mẫu, mẹ) cũng diễn tả bằng cặp vú căng sữa.

clip_image016Mú (mẫu) (Wang Hongyuan, The Origins of Chinese Characters, Sinolingua, Beijing, 1993).

Ta thấy rõ từ U, Vú có gốc từ hình ngữ vẽ bộ vú phụ nữ diễn tả bằng hai nòng vòng tròn OO.

Rõ ràng phái nữ cũng gọi theo nhũ, vú. Phái nữ có một khuôn mặt là thái âm OO (bộ phận sinh dục nữ diễn tả bằng hai vòng tròn đồng tâm như thấy qua cái cối của người Dogong; cối là cái, bộ phận sinh dục nữ). Như vậy rõ ràng OO = vú  = nhũ = nữ (OO)= U dài (mẹ).

Nếu áp dụng, như đã biết, V là dạng dương hóa cực đại của O thì ta có OO (vú) = VV = W (Woman). Anh ngữ Woman cũng gọi theo OO ( vú). Nếu V đôi(W) viết theo dạng tròn hai chữ U (double U) thì có hình cặp vú phái nữ:

clip_image018(nguồn: 123 rf.com)

Nếu ta thay ơ = v thì Việt ngữ vợ = vv = ww, đàn bà!

Hán Việt nhũ (vú) với h câm, ta có nhũ = nữ (đàn bà).

Rõ như hai năm là mười, hầu hết các từ vú, mẹ, đàn bà trong ngôn ngữ cổ loài người đều phát gốc ở từ nòng hai vòng tròn OO có nghĩa là lỗ âm (bộ phận sinh dục nữ), vú, mẹ, nường, nàng…của chữ nòng nọc vòng tròn-que.

. Hai nòng OO diễn tả nước thái âm.

clip_image020Hình ngữ Maya Nước.

Hình ngữ Maya Nước gồm hai nòng vòng tròn OO đồng tâm diễn tả thái âm, nước. Trong có hình lưới diễn tả nước chuyển động trong không gian sinh tạo. Ta có câu nói mưa giăng mắc như đan lưới. Hình đan lưới này cũng thấy ở hình ngữ rắn (nước) có một khuôn mặt biểu tượng cho nước:

clip_image021Hình ngữ Maya Rắn Nước cũng có các sọc mắt cáo diễn tả nước không gian sinh tạo.

Người Maya dùng hình lưới diễn tả nước chuyển động đan vào nhau như mạng lưới trong không gian mang mang tính chuyển động bốn phương, khắp hướng. Trong khi ta thường thấy nước ở dạng tĩnh diễn tả bằng các sọc song song nằm ngang như thất qua linh tự Khôn của Ai Cập cổ với con rắn naga hay diễn tả bằng những giọtnước  hay gạch thẳng đứng diễn tả nước rơi tù bầu trời.

Bao quanh hai vòng tròn nòng có sọc mắt cáo diễn tả nước là vòng cung những chấm nọc kín, mầu đen (?) diễn tả những giọt nước ở không gian.

……

Rõ ràng OO có một khuôn mặt cực âm của nòng âm (âm, thái âm, bộ phận sinh dục nữ, vú, nữ, mẹ, nước thái âm…).

2. Cực dương

Theo nguyên tắc hai nòng vòng tròn mang âm tính thuần âm không thể biểu tượng cho cực dương ngành dương, cho lưỡng ngành nòng nọc (âm dương) đề huề. Tuy nhiên ở khâu thái âm, hai vòng tròn đồng tâm có một khuôn mặt biểu tượng mặt trời thái dương tương ứng với cực dương của khâu thái âm. Ví dụ:

Trong nhiều nền văn hóa  gồm cả vài ở vùng Nam Đảo, ý tưởng về vòng tròn, hai vòng tròn (đồng tâm) hay chấm vòng tròn là biểu tượng của Mặt trời [The idea of the circle, double circle, or circle dot motif as a symbol of the Sun is found widely in many cultures including some in the Austronesian region (http://sambali.blogspot.com/2010_08_05_archive.html)].

.Mặt trời tạo hóa của người Uighur. Như đã nói ở trên, theo James Churchward, mặt trời tạo hóa giống như Ra của Ai Cập của vùng phía Bắc Đất Mẹ và của người Uighur có hình hai vòng tròn đồng tâm (1965).

clip_image022Mặt trời của người Uighur (James Churchward).

(a double circle, the Northern or Uighur Symbol of the Sun as Ra) (The Lost Continent of Mu).

Như thế mặt trời Uighur có một khuôn mặt là cực dương của khâu nòng thái âm hai vòng tròn đồng tâm.

.Mặt trời của bộ tộc Nuxalk ở British Culumbia, Canada.

clip_image024Mặt nạ mặt trời bộ tộc Nuxalk, British Columbia (nguồn: victoriabeatty.org).

Mặt nạ mặt trời đĩa tròn hai vòng tròn thái âm có một khuôn mặt cực âm của khâu thái âm. Nuxalt ở vùng Duyên Hải Tây Bắc Thái Bình Dương hiển nhiên thuộc dòng nòng âm nước vì thế có mặt trời mang tính thái âm, nước.

.Mặt trời âm nước biểu tượng của thần Osiris Ai Cập có hình đĩa tròn nòng hai vòng tròn:

clip_image026

Qua bài viết Sự Tương Đồng Giữa Ai Cập cổ và Cổ Việt ta đã biết có sự tương đồng khắng khít giữa Ai Cập cổ và Cổ Việt. Văn hóa Ai Cập cổ cũng có cốt lõi dựa trên nòng nọc, âm dương, Chim Rắn như Việt Nam. Hai vùng núi-chim, biển-rắn thấy rõ qua Ai Cập Thượng Chim Kên Kên, vùng núi thượng nguồn sông Nile và Ai Cập Hạ Rắn Hổ Mang vùng châu thổ sông Nile phía biển. Thần Osiris mang hình bóng của Lạc Long Quân (nữ thần Isis, vợ Osiris và Mẹ Tổ Âu Cơ là hình bóng của nhau). Osiris và Lạc Long Quân có mạng nước đều được diễn tả bằng biểu tượng rắn như thấy qua hình linh vật cõi âm ở hình trên. Hình “linh vật ở cõi âm” có hình rắn chính là Osiris vì Osiris có một khuôn mặt là Chúa Cõi Âm giống như Lạc Long Quân. Đuôi rắn hình đầu thần tẩm liệm Anubis xác thực khuôn mặt cõi âm của Osiris. Lưu ý ở đây, dưới bụng rắn có chữ nòng nọc vòng tròn-que hình nòng O đậm nét cho biết con rắn mang tính thái âm, nước và ở cõi âm. Rắn có đầu người già có râu giống Lạc Long Quân Osiris cũng là một cụ già  râu tóc bạc phơ.

Osiris có một khuôn mặt là mặt trời Nước, thái âm giống như Lạc Long Quân. Ở hình trên, phía bên trái, hình mặt trời đĩa tròn có con rắn quấn quanh là mặt trời âm nước thái âm, mặt trời lặn ngành nọc thái dương.

Mặt trời ở trên lưng hai con sư tử. Sư tử là loài thú bốn chân tượng trưng cõi đất dương thế. Sư tử họ nhà mèo mang âm tính là loài mãnh thú nhưng không có sừng là biểu tượng cho dương ngành nòng, âm tức ngành của Osiris và Lạc Long Quân. Trên đầu có lông sự thật biểu tượng cho công lý. Đây là khuôn mặt liên hệ tới sự phán xét linh hồn người chết của Osiris tương ứng với khuôn mặt chúa tể cõi âm của Lạc Long Quân.

Như thế mặt trời ở trên vai hai con thú này là mặt trời thế gian, dương gian của ngành nòng âm Osiris, Lạc Long Quân. Hình con rắn trơn biểu tượng cho nước thái âm tức OO, quấn quanh đĩa mặt trời cho biết thêm là mặt trời thuộc ngành nòng nước hay mặt trời nước, đây cũng là những khuôn mặt của Osiris và Lạc Long Quân.

Như thế mặt trời đĩa tròn có viền con rắn nước hai nòng vòng tròn OO có một khuôn mặt biểu tượng cực âm.

(Tương Đồng Giữa Ai Cập cổ và Cổ Sử Việt)…

.Trở lại hình vẽ ở hang Dudumahan, Nam Dương, theo Madanjeet Singh trongThe Sun, Symbol of Power and Life hình này có một khuôn mặt là mặt trời. Hiển nhiên là mặt trời thái âm có một khuôn mặt là cực dương của khâu thái âm.

.Thổ dân Mỹ châu Xây Gò Đống (Mound Builders) có một biểu tượng hình hoa hai nòng vòng tròn 8 cánh tròn có một khuôn mặt là mặt trời nữ sinh tạo, tạo hóa Khôn-Càn (số 8 là số Khôn tầng 2) có tia sáng âm hình cánh hoa.

clip_image030Mặt trời Thổ dân Mỹ châu Xây Gò Đống (James Churchward, The Sacred Symbols of Mu).

Mặt trời này có một khuôn mặt cực âm thái âm.

-Tứ Tượng

Như đã thấy từ hai vòng tròn đồng tâm diễn tả sự sinh tạo ở cõi tạo hóa gồm từ hư vô (đã chuyển qua biển vũ trụ, nước thái âm), thái cực và lưỡng nghi của khâu thái âm. Như vậy kế tiếp là sinh ra tứ tượng, tứ hành. Ví dụ tứ tượng khâu thái âm đang vận hành thành tứ hành thấy qua:

clip_image031Thạch bản 1049: tứ tượng đang vận hành thành tứ hành (the working of the Four Great Primary Forces) (James Churchward, The Children of Mu).

Tứ Tượng Nòng Âm và Tứ Tượng Nọc Dương

Tứ tượng khâu thái âm này cũng có hai khuôn mặt tứ tượng nòng âm và tứ tượng nọc dương.

.Tứ tượng nòng âm như thấy rõ qua biểu tượng xưa của Tứ Tượng Thiêng Liêng (Ancient Symbols of the Sacred Four) của James Churchward trong The Children of Mu sau đây:

clip_image033Ancient Symbol of the Sacred Four.

Tứ tượng hình chữ thập bốn cánh hoa đầu tròn mang âm tính.

Ta thấy rành rành ở hình thạch bản 146 ở trên đây, tứ tượng là chữ thập hình bốn cánh hoa đầu tròn mang âm tính.

Hoặc ở dạng nòng âm thái dương:

clip_image035Tứ tượng nòng âm thái dương

Tứ tượng có chữ thập bốn tay là bốn hình tam giác ngược một dạng của chữ V, như đã biết mang tính âm thái dương (nòng O dương hóa cực đại thành V). Như thế tứ tượng này là dạng tứ tượng nòng âm thái dương của khâu thái âm.

.Tứ tượng nọc dương diễn tả bằng hình chữ thập.

Ví dụ thấy qua thạch bản sau đây:

clip_image036Tứ tượng dương nọc chữ thập.

Tứ tượng diễn tả bằng hình chữ thập, dấu cộng mang dương tính.

Tứ tượng chữ thập khi hành động vận hành thành tứ hành.

clip_image038

Tứ tượng dương nọc chữ thập đang vận hành (James Churchward, The Sacred Symbols of Mu).

Ở đây tứ tượng nọc dương đang chuyển động, vận hành, sinh động ở dạng tứ hành dương.

Lưu ý ở đây vận hành theo chiều âm, chiều kim đồng hố là tứ tượng của ngành âm vì thế mà hình bên trái của thổ dân Mound Builders tứ hành có hình đĩa tròn hai nòng vòng tròn của khâu thái âm. Hình bên phải của Mexico đĩa tròn một vòng tròn rất mỏng nét mang dương tính có thể là của phía nòng dương, nòng thái dương.

.Tứ tượng nòng âm và nọc dương kết hợp.

Đôi khi tứ tượng âm và tứ tượng dương kết hợp thành bát tượng (nguyên thể của tám quẻ, bát quái).

clip_image040Tứ tượng âm và dương giao hòa với nhau.

Trong mỗi tay tam giác ngược nòng âm thái dương có hình tia lửa chữ M giống như tia chớp gồm hai nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) Ʌ có một nghĩa nọc, lửa, dương. Hai nọc mũi mác biểu tượng tượng nọc dương sinh động. Bốn tay là tứ tượng dương thái dương tia lửa, hôn phối với tứ tượng âm thái dương tam giác ngược. Ta có bát tượng mang tính thái dương của khâu hai vòng tròn nòng thái âm.

Tứ Tượng Lớn và Tứ Tượng Nhỏ

Ngoài ra còn cần phải phân biệt tứ tượng Lớn và tứ tượng Nhỏ. Tứ tượng Lớn là Bốn Nguyên Sinh Động Lực Lớn (Four Great Primary Forces) của quá trình vũ trụ tạo sinh đại thể, tổng quát sinh ra đại vũ trụ muôn sinh. Trong mỗi tượng Lớn này lại có tứ tượng con, riêng nữa. Đây là tứ tượng Nhỏ, phân bộ của riêng tượng Lớn đó. Nói cho dễ hiểu là ta có bốn đại tộc ứng với tứ tượng Lớn là đại tộc lửa, đại tộc nước, đại tộc gió, đại tộc đất. Rồi mỗi đại tộc này lại chia ra làm bốn tộc ứng với tứ tượng nhỏ của đại tộc đó. Và tiếp tục, tộc lại chia ra bốn chi tộc… Ví dụ Cò Lang Cò Gió biểu tượng cho tượng Lớn Gió của Liên Bang Văn Lang Hùng Vương, chia ra bốn tộc Cò Lửa (trống Đông Sơn), Cò Nước (trống Hữu Chung), Cò Đất (trống Phú Xuyên), Cò Gió (trống Việt Khê)… (xem dưới).

Vì thế ở đây từ nòng hai vòng tròn có hai khuôn mặt tứ tượng Lớn và Nhỏ.

Tứ Tượng Lớn.

.Tượng Nước Lớn thái âm.

Đây là khuôn mặt tượng chính của từ hai vòng tròn đồng tâm thái âm (có một khuôn mặt chính là thái âm, Nước thái âm). Ví dụ:

.Rắn nước

Như đã biết, rắn không có trang trí gì biểu tượng cho nước thái âm OO. Hiển nhiên rắn nước ngậm đuôi cuộn tròn biểu tượng cho nước thì  thân rắn coi như là hai vòng tròn đồng tâm OO có một khuôn mặt  biểu tượng cho tượng nước thái âm.

clip_image002[1]Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) Yggdrasil của Bắc Âu. Cõi nước Trung Thế được biểu tượng bắng con rắn nước ngậm đuôi hình vành tròn.

.Thần mưa Chaac (Chac) Maya.

clip_image041Thần Mưa Chac của Maya.

Chiếc mũi cong hình móc câu của Thần Mưa Chac của Maya là một hình ngữ hay từ móc câu, móc nước sóng cuộn do hai vòng tròn OO mở ra (xem dưới) có nghĩa là nước chuyển động, nước dương, sóng cuộn, mây, mưa liên hệ với sấm mưa (nước-lửa). Trên mũi hình móc câu có nghĩa nước chuyển động, mây này có hai chữ nòng nọc vòng tròn-que hình ba vòng tròn đồng tâm. Hình vòng tròn tí hon ở tâm có thể coi như là một chữ nòng O thu gọn lại hay là một dấu nòng, âm.

Nếu coi vòng tròn nhỏ trong cùng là một dấu nòng chấm rỗng thì hai vòng tròn đồng tâm ở ngoài có nghĩa là hai âm, thái âm, nước âm. Vòng tròn tí hon ở tâm là dấu chỉ tính sinh tạo, nguyên tạo, tạo hóa. Chiếc mũi cong hình móc câu chỉ nước chuyển động và hai vòng đồng tâm có nghĩa là nước thái âm và dấu nòng chấm rỗng mang tính sinh tạo tạo hóa chỉ nước không gian, mưa sinh tạo, cho biết vị thần Chaac là Thần Mưa một trăm phần trăm. Chiếc mũi chính là tên của vị thần Mưa này (xem Chữ Nòng Nọc Nòng Chấm Rỗng 2).

Đây là tượng nước trong tứ tượng Lớn.

.Tượng Lớn Lửa dương.

.Mặt trời Uighur đĩa tròn hai vòng tròn đồng tâm, như đã biết, có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng Lửa lớn đại vũ trụ.

.Như đã nói ở trên, theo Madanjeet Singh trong The Sun, Symbol of Power and Life hình trong hang Dudumahan, ở đảo Kei có một khuôn mặt là mặt trời. Mặt trời âm thái âm nữ này có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng lửa của nòng, âm nữ.

.Tượng Lớn Gió dương.

-Thần Ashur của Assyria vùng Lưỡng Hà có những khuôn mặt là tạo hóa, mặt trời, thần chiến tranh. clip_image028  Thần Ashur của Assyria.

Thần tay cầm cung diễn tả tính chiến tranh nhưng không có mũi tên mang tính dương. Cung cong nửa vòng tròn hình vòm ttrời biểu tượng cho khí gió. Ta thấy mặt trời của Ashur có hình đĩa hai nòng vòng tròn mang tính khí gió. Mặt trời gió này được xác thực bằng hình chim bay. Chim không có đầu, có mỏ mang âm tính, chỉ diễn tả ‘bay’ tức  gió. Như thế thần có khuôn mặt bầu trời khí  gió sinh tạo, tạo hóa mang tính trội.  Đĩa tròn hai nòng vòng tròn có một khuôn mặt biểu tượng tượng Gió lớn. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt. Enlil có một khuôn mặt tương đương với Tổ Hùng thế gian cũng có khuôn mặt thần bầu trời, mạng gió, tạo hóa sinh ra từ bọc trứng thế gian và mặt trời (có một khuôn mặt chiến tranh hiểu theo nghĩa hùng mạnh, sức mạnh).

-Sumer có vị thần Gió Enlil có một khuôn mặt tạo hóa. Enlil có En = chúa tể và Lil = gió. Một phiến đá diễn tả Enlil như sau:

clip_image043Thần Enlil

Ta thấy thần Enli đội mũ hình bầu nậm nòng nọc (âm dương) biến thể mang tính sinh tạo, tạo hóa giống như Hùng Vương sinh ra từ bọc trứng nòng nọc. Trên mũ có những từ nòng hai vòng tròn. Cổ tay đeo vòng cũng có hình nòng hai vòng tròn. Vòng tròn trong nhỏ có thể là một dấu nòng chấm rỗng chỉ thị tính sinh tạo, nguyên tạo, tạo hóa. Nhưng ở đây thần có khuôn mặt thần Gió nên nòng hai vòng tròn ở đây có một khuôn mặt Gió sinh tạo, tạo hóa cùng nghĩa sinh tạo, tạo hóa của mũ hình bầu.

Ở phía bên phải hình có tứ tượng: dưới cùng có tứ trụ biểu tượng tượng đất, tiếp là mặt trời hoa cúc có tia sáng cánh hoa nhọn đầu mang tính âm thái dương biểu tượng tượng lửa âm thái dương, tiếp nữa hình đĩa tròn hình chim bay biểu tượng cho tượng gió (vòng tròn hơi dầy mang tính thiếu âm, gió) và cuối cùng là cái bình có thành kép diễn tả hai nòng OO, biểu tượng cho tượng nước thái âm.

Ở chỗ khác thần bầu trời, gió Enlil tay phải cầm vòng (kiềng) hai vòng tròn có một khuôn mặt biểu tượng cho bầu trời, khí gió của diện thái âm.

clip_image045Thần Enlil trên cõi trời tay cầm vòng nòng hai vòng tròn.

Rõ hơn ở phiến đá diễn tả thần gió Enlil và vợ Ninlil, nữ thần gió (Nin có nghĩa là Lady liên hệ với Việt ngữ nường, nàng) có biểu tượng nòng hai vòng tròn nòng đồng tâm ở giữa phiến đá.

clip_image047Thần gió Enlil và vợ nữ thần gió Ninlil ở một ngôi đền

(www.mesopotamiangods.com).

Ta thấy rất rõ với khuôn mặt thần tạo hóa thì nòng hai vòng tròn ở đây mang khuôn mặt hư vô (đã chuyển qua thái cực), trứng vũ trụ, thái cực và lưỡng nghi (cực âm thái âm, nước thái âm và cực dương mặt trời đĩa tròn thái âm). Với khuôn mặt thần gió thì nòng hai vòng tròn có một khuôn mặt mang ý nghĩa biểu tượng cho tượng gió.

.Khuôn mặt thần Gió của Kukulcan Maya.

Như đã biết, vật tổ Kukulcan của Maya diễn tả bằng con rắn lông chim ngậm đuôi cuộn lại thành hình vành tròn có một khuôn mặt là hai nòng vòng tròn đồng tâm ghép lại.clip_image001Vật tổ Kukulcan của Maya.

Nhìn dưới diện vũ trụ tạo sinh thì Kukulcan có khuôn mặt chim-rắn nhất thể, vũ trụ, thái cực vì vậy mà Kukulcan có một khuôn mặt là đấng tạo hóa nhất thể. Tuy nhiên người Maya cũng coi kukulcan là Thần Gió (giống như người Aztec coi Quetzal Coatl như vậy). Nhìn dưới diện thần Gió thì bờm lông chim bây giờ đóng vai trò như một chỉ định từ, một tính từ chỉ nghĩa gió cho hai vòng tròn OO thân rắn. Lúc này là rắn gió, rồng gió. Như thế nòng hai vòng tròn có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng Gió.

.Khuôn mặt trăng của Osiris.

Trở lại hình thần Osiris ở trên.

clip_image026[1]

Osiris cũng có khuôn mặt trăng như Lạc Long Quân.

Trên lưng linh vật rắn, có mặt trăng có quầng sáng (tương đương với mặt trời đêm) có cánh. Ở đây nghiêng về mặt trăng vì nằm giữa trời đêm đầy sao và lòng đĩa tròn bôi đậm mang âm tính. Nhưng ở đây trăng có cánh chim là trăng mang khuôn mặt dương, thiếu âm, gió. Trăng gió. Ta có từ đôi gió trăng cho thấy trăng có một khuôn mặt gió. Như vậy Osiris ở đây có hai khuôn mặt: ban ngày dương là mặt trời thái âm Khôn âm rắn nước và ban đêm là mặt trăng có cánh gió Khôn dương, nghĩa là Osiris giống Lạc Long Quân thuộc ngành nòng Khôn Thần Nông.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, Lạc Long Quân có dòng máu gió thấy qua con Hùng Lang có một khuôn mặt bầu trời, gió Đoài vũ trụ khí gió dương và có vợ Âu Cơ có một khuôn mặt gió âm Tốn.

Như vậy hai vòng tròn nòng ở mặt trăng có cánh gió ở đây có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng gió.

.Tượng Lớn Đất dương.

Vòng tròn trong có chữ thập clip_image049biểu tượng cho Đất thấy rõ qua các biểu tượng của các hành tinh.

clip_image050Vòng tròn trong có chữ thập biểu tượng cho Đất.

Theo James Churchward trong The Sacred Symbols of Mu thì chữ thập + , tiếng cổ ở vùng Đất Mẹ là U luumil có nghĩa là ‘Country of’ (xứ…), ‘Land of’ (Đất…), ‘Empire of’ (Đế quốc…). Chữ thập đôi khi viết nghiêng thành chữ X. Ngày nay ta vẫn còn dùng chữ X để đánh dấu một địa điểm, một vùng.

Lưu Ý

Đất biểu tượng bằng chữ thập mà chữ thập có một nghĩa biểu tượng cho tứ phương, có một khuôn mặt biểu tượng cho tứ tượng. Như thế cõi tứ tượng là cõi sinh tạo của cõi đất thế gian (hư vô, thái cực là cõi tạo hóa nguyên tạo đại vũ trụ. Lưỡng nghi là cõi tạo hóa cõi vũ trụ thứ tạo biểu hiện và tứ tượng là cõi sinh tạo đất thế gian và bát tượng là cõi sinh tạo cõi người).

Cũng theo James Churchward biểu tượng hai nòng vòng tròn trong có chữ thập của thổ dân Mỹ châu Xây Gò Đống (Mound Builders) là biểu tượng của vùng Đất Mẹ Mu, Đế quốc Mu.

clip_image052

Hai vòng tròn nòng có chữ thập biểu tượng cho đất Mẹ.

Ta thấy rất hữu lý vì Đất Mẹ mang âm tính thái âm nên hình ngữ đất âm có chữ + Đất nằm trong  hai nòng vòng tròn thái âm có một nghĩa là Mẹ.

Trong khi đất thường nói tổng quát chỉ có một vòng tròn như thấy ở hình thứ nhất. Ở đây đất âm nên đĩa cũng có mầu đen, mầu thái âm.

.Nữ thần đất Aztec Chihuacoatl.

clip_image054(nguồn: Kathryn Wilkinson, Signs & Symbols, DK, NY, 2008).

Nữ thần đất và sinh con Cihuacoatl ở giữa người có biểu tượng hai nòng vòng tròn trong có hình vuông và chữ thập. Hình vuông diễn tả đất và chữ thập cũng vậy. Như thế biểu tượng hai nòng vòng tròn ở đây có nghĩa đất âm, thái âm vì là đất mẹ.

Lưu ý trên trang phục đầu có ba nòng vòng tròn OOO, Khôn có một khuôn mặt sinh tạo nữ cõi tạo hóa (hôn phối với Càn). Hai đôi bông tai có hình hai nòng vòng tròn có một nghĩa là thái âm, nữ.

.Hình ngữ biểu tượng Đất Copán.

copan

Hình ngữ biểu tượng Đất Copán (tác giả chụp tại Bảo Tàng Viện Copán, Honduras).

Hình ngữ tên vùng Đất Copán, Maya có hình chữ thập đất nằm trong hai vòng tròn đồng tâm như trên.

 

 

Tứ Tượng Nhỏ

Như đã nói ở trên tứ tượng Lớn của một đại tộc lại chia ra tứ tượng Nhỏ của bốn tộc nhỏ trong đại tộc đó, rồi tiếp tục nữa (chị tộc, bộ tộc…). Ví dụ tượng lớn Đất trong tứ tượng lớn có tứ tượng nhỏ thấy qua hình tứ tượng cõi đất của thổ dân Mỹ châu Mound Builders:

clip_image055Tứ tượng của tượng Đất thổ dân Mỹ châu Mound Builders (James Churchward, The Sacred Symbols of Mu).

Nòng hai vòng tròn có chữ thập ở trong diễn tả tứ tượng lớn đất của khâu thái âm. Chữ thập có đầu bốn nọc mũi mác ở ngoài diễn tả tứ tượng nhỏ dương.

Rõ hơn trong sưu tập của James Churchward về đại tộc chim tạo hóa có hình trứng đẻ ra trứng vũ trụ (tượng Lớn Gió), có các tộc chim biểu tượng các lực sinh tạo tứ tượng (ứng với tứ tượng nhỏ gió) viết bằng chữ nòng nọc vòng tròn-que:

clip_image057Một nhóm thạch bản chim biểu tượng các Lực Tạo Hóa (A group of bird tablets symbolizing the Creative Forces)

(James Churchward, The Children of Mu).

Từ trái qua phải thạch bài số 848 con chim nước hình trứng có hình trụ hình chữ nhật bằng đầu diễn tả trụ đất âm thái dương, tượng Đất thế gian mang âm tính. Hình 1066 hình chim phía trước có dấu móc nước chuyển động có góc cạnh vuông mang dương tính, lửa giống hồi văn diễn tả nước chuyển động, nước dương, biểu tượng tượng nước. Hình thứ ba 1051 hình chim có hai cánh diễn tả tượng gió và hình 1066 diễn tả chim có sừng cong sau gáy diễn tả tượng lửa phía nòng âm (vì sừng cong mang âm tính). Như thế bốn con chim này là bốn tộc diễn tả tứ tượng nhỏ của tượng Gió Lớn của đại tộc chim nước.

Tuy nhiên tôi nhận thấy duy nhất ở trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn tứ tượng nhỏ thấy rõ rành rọt nhất. Ví dụ Liên Bang Văn Lang Hùng Vương có một khuôn mặt đại tộc Gió ứng với tượng gió lớn trong tứ tượng lớn, có biểu tượng là Cò Gió, Cò Lang thấy trên trống Ngọc Lũ I. Đại tộc tượng Cò Gió lớn này có bốn tộc ứng với tứ tượng nhỏ là tộc cò Gió thấy trên trống Việt Khê, tộc cò Nước thấy trên trống Hữu Chung, tộc cò Lửa thấy trên trống Đông Sơn IV, tộc cò Đất thấy trên trống Phú Xuyên (xem dưới).

(còn nữa).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: