Ả RẬP: MƯƠI ĐIỀU VỀ NGƯỜI Ả RẬP.

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

Ả RẬP: MƯƠI ĐIỀU VỀ NGƯỜI Ả RẬP.

Nguyễn Xuân Quang

1. Tổng Quát

Ả Rập (عرب‎, ‘arab) là một nhóm dân lớn nói ngôn ngữ Ả Rập, với lịch sử, tập tục, ăn mặc khác nhau. Họ sống chính yếu ở Tây Á, Bắc Phi và một phần Sừng Phi châu. Tổng số người Ả Rập trên thế giới là 300 triệu người, gồm 22 quốc khác nhau.

clip_image002

clip_image004Thế giới Ả Rập hiện nay (nguồn: Wikipedia .

2. Lịch Sử

A. Thời Kỳ Tiền-Hối Giáo
 Thời kỳ Tiền Hồi Giáo chỉ nền văn minh Ả Rập ở Bán Đảo Ả Rập trước sự trổi dậy của Hồi giáo năm 630 SDL.
 Lịch Sử Sơ Kỳ.
 Tên dân tộc Arab đã thấy trong văn bản Assyria năm 853 TDL gọi là Arabi, Arubu, AribiUrbi.

Thánh kinh Do Thái thỉnh thoảng gọi họ là người Aravi. Những từ này dường như chỉ những bộ tộc Semitic sống trong sa mạc Syria và Arabia (Do Thái ngữ arabha là sa mạc). Các bộ tộc này đã từng đụng độ với người Assyria.

clip_image006Kỵ binh Assyria đánh đổi Ả Rập (nguồn: Wikipedia).

Người Hy Lạp và La Mã gọi chung dân du mục sa mạc vùng Cận Đông là Arabi. Người Thiên Chúa giáo Ý và Thập Tự Chinh gọi người Ả Rập và Hồi giáo là Saracens. Người Thiên Chúa giáo ở Iberia (có Tây Ban Nha) dùng danh từ Moor.

.Vương Quốc Cổ Điển (Classical kingdoms).

Nổi trội nhất là người Nabataea, Jordan nói tiếng Aramaic là hợp chủng Ả Rập, Canaanites và Arameans vốn là dân du mục. Sau đó tới định cư ở vùng đất quanh Petra do người Edomites bỏ lại.

clip_image008Mặt tiền Kho Báu Al Khazneh, Petra, Jordan, do người Nabataea xây.

Edomites là những người Semites đã định cự tại vùng Petra hàng thế kỷ trước đó. Chữ viết của Nabataea lúc đầu là Aramic sau đổi qua Ả Rập.

clip_image009Chữ viết Nabataean (ở trên) và Hy Lạp ở dưới) (ảnh của tác giả chụp tại Petra).

Mẫu tự Nabataea được người Ả Rập phía nam lấy dùng và tiến hóa thành chữ Ả Rập hiện đại vào thế kỷ thứ 4.

Về sau Nabataea trở thành chư hầu của Đế Quốc La Mã. Người La Mã gọi các tiểu quốc du mục chư hầu là ‘Arabia Petraea’ theo tên thành phố Petra và gọi Yemen là “Arabia Felix’(Ả Rập Hạnh Phúc) và gọi các bộ tộc trong sa mạc không phải là chư hầu là Arabia Magna.

.Vương Quốc Hậu Kỳ (Late kingdoms).

Ghassanids, Lakhmids và Kindites là những nhóm lớn di dân người Ả Rập Tiền-Hồi giáo cuối cùng ra khỏi ra khỏi Yemen hướng lên phía bắc, tới phía nam sa mạc Syria và nam Jordan từ giữa thế kỷ thứ 3 SDL, trong thời giữa tới hậu kỳ của Đế Quốc La Mã và Sassanid.

B. Thời Kỳ Hồi Giáo (Islamic).

Đế Quốc Ả Rập (Arab Caliphate).

clip_image011Thời Đế Quốc Ả Rập

Bành trướng dưới thời Muhammad (622–632) (mầu nâu).

Bành trướng dưới thời Rashidun (632-661) (mầu hồng).

Bành trướng dưới thời Umayyab (661–750) (mầu vàng).

(nguồn: Wikipedia).

.Thời đại Muhammad (622-632).

Muhammad đã lập được một quân đội hùng mạnh nhờ ý thức hệ Hồi giáo dưới danh nghĩa thánh chiến và nhờ kỵ binh ngựa và lạc đà thiện chiến đã chiếm hết Bán Đảo Arabia (mầu nâu ở hình trên).

.Thời đại Rashidun (632-661).

Sau khi Muhammad chết vào năm 632, quân đội Rashidun đi xâm chiếm các nơi khác ở ngoài Bán Đảo Ả Rập tạo nên Đế Quốc Hồi giáo Rashidun, bao gồm vùng của Đế Quốc Sassanid và Byzantine cũ.

clip_image013 Đế Quốc Rashidun (nguồn: Wikipedia).

 .Thời đại Umayyad (661-750).

Năm 661 triều đại Umayyad thoán quyền và chọn Damascus làm thủ đô.

clip_image015Đế Quốc Umayyad (nguồn: Wikipedia).

Ummayyad nới rộng đế quốc tới Bắc Phi và tới Bán Đảo Iberia (Tây Ban Nha).

 clip_image016Đền Lớn Kairouan ở Kairouan, Tunisia (nguồn: Wikipedia).

Đền xây năm 670 là đền Hồi giáo cổ nhất ở vùng Đông Bắc Phi châu, một chứng sử của cuộc xâm chiếm Bắc Phi của người Ả Rập.

clip_image018Cung điện và thành trì Alhambra ở Albaycin, Granada, Andalusia, Tây Ban Nha, chứng sử của cuộc xâm chiếm bán đảo Iberia.

.Thời đại Abbassid (750-1513).

Năm 750 triều đại Abbasids lên nắm quyền và dời đô về Baghdad. Abbasids là con cháu của Abbas, cậu của Muhammad.

clip_image020Đế Quốc Abbassid (750-1513) (nguồn: Wikipedia).

Đế quốc Ả Rập bây giờ là một đế quốc rộng nhất trong lịch sử thế giới. Về phía tây, biên giới tới phía nam nước Pháp, về phía đông tới Tân Cương, Trung Quốc, phía bắc tới Tiểu Á và phía nam tới Sudan. Trong vùng rộng lớn này người Ả Rập đã truyền bá văn hóa, khoa học và ngôn ngữ Ả Rập.

Triều đại Abbasids trị vì 200 năm và chấm dứt bởi người Mông Cổ. Một số trong gia đình hoàng gia trốn qua Ai Cập kết hợp với các Vua Nô Lệ Mamluk ở Ai Cập.

.Thời Vàng Son của Hồi giáo.

Giữa thế kỷ thứ 8 của triều đại Abbasids, đóng đô ở Baghdad, là cực điểm của Thời Vàng Son Hồi giáo.

.Đế Quốc Ottoman (1513-1918).

Ottomans đánh bại các Tiểu Vương Nô Lệ Mamluk ở Cairo và chấm dứt Đế Quốc Abbasids.

Người Ả Rập không thấy thay đổi gì vì Ottoman cai trị theo hệ thống hành chánh cũ của Ả Rập.

.Thời Thuộc Địa.

Sau Thế Chiến thứ I, Vương Quốc Anh đánh bại Đế Quốc Ottoman, các thuộc địa cũ của Ottoman trở thành thuộc địa của Anh và Pháp.

 .Thời Hiện Đại.
 Sau sự tan rã của Đế Quốc Ottoman (1908-1922), thế giới Ả Rập hiện nay là Liên Đoàn Ả Rập gồm 22 quốc gia ở Tây Á, Bắc Phi và một phần Sừng Phi Châu.

Tất cả đều là các quốc gia tân tiến nói tiếng Ả Rập có thể chế chính trị khác biệt. Mối liên kết Ả Rập gồm ngôn ngữ, văn hóa, chính trị và ít quan trọng hơn là di truyền học.

3. Ngôn Ngữ

Ngôn ngữ được cho là một trong những yếu tố chính để nhận diện ra người Ả Rập.

Ngôn ngữ Ả Rập được cho là ngôn ngữ của thượng đế (Koran, Quran).

Ngôn ngữ Ả Rập thuộc nhóm Aramic, nhánh Semetic, nhóm ngôn ngữ được nhiều người nói, đứng vào hàng thứ sáu. Người Ả Rập yêu quí ngôn ngữ của mình hơn hết. Coi ngôn ngữ là thơ. Ngôn ngữ được coi là kho báu văn hóa quí nhất của người Ả Rập. Họ nói thường dùng dạng ưa chuộng là tiêu khiển, giải khuây, làm cho đời tươi vui. Viết thường yêu thích dạng thư pháp, một bộ môn nghệ thuật chính (xem dưới).

Họ tin ngôn ngữ có sức mạnh để ban hồng phúc hay nguyền rủa, trù dập. Thích lời nói hoa mỹ, văn hoa, bay bướm. Nói thường thường nêm vào ‘hương vị’ thượng đế. Thường dùng ẩn dụ để tránh nói về chết chóc, bệnh tật.

Có nhiều từ Ả Rập trong Anh ngữ và liên hệ với Việt ngữ (dhow = đò, Salalah = sáng lạng, sáng láng, sheik = sức, mạnh, kabof = chả, haram, harem = cấm…).

4. Tôn Giáo

Ngày nay Hồi giáo cũng được coi là một cá tính riêng của người Ả Rập (ngày xưa thời Tiền Hồi giáo có Ả Rập Thiên Chúa giáo, Ả Rập Do Thái giáo). Đối với hầu hết người Ả Rập, Hồi giáo là tôn giáo gốc, bản địa của họ.

Hiện nay hầu hết người Ả Rập theo Hồi giáo (90%). Chỉ có 6% người Ả Rập theo Thiên Chúa và Do Thái giáo. Còn lại 4% là các tôn giáo khác. Tuy nhiên nên nhớ là không phải tất cả những người theo Hồi Giáo là người Ả Rập ví dụ như người Nam Dương, theo Hồi giáo. Trên thế giới có hơn một tỉ người theo Hồi giáo, 50 quốc gia có người theo Hồi giáo chiếm đa số. Tại Hoa Kỳ có 3.5 triệu người theo Hồi giáo. Hiện nay Hồi giáo là tôn giáo tăng trưởng nhanh nhất.

Như đã biết Hồi giáo cũng như các tôn giáo khác chia ra nhiều phái với các chủ thuyết khác nhau.

Hồi theo chủ thuyết:

-Ibadhi (Ibadis) như ở Oman, theo chủ thuyết dòng chính, không phân biệt giáo phái.

-Shia với quan niệm người nối nghiệp Muhammad phải là dòng chính huyết như Iran. Vì thế phái này chiếm thiểu số (10%)

– Sunni với quan niệm người nối nghiệp là bất cứ ai có khả năng như Saudi Arabia. Phái nầy chiếm đa số (90%).

Ngoài ra còn theo cách hành đạo khác nhau như Hồi theo chủ thuyết Wahabi như Saudi Arabia là Hồi giáo truyền thống cực đoan, khắc nghiệt, Hồi giáo cấp tiến ở các nước đã chấp nhận hòa đồng với các tôn giáo khác và với văn hóa Tây phương như Oman, Jordan, Ả Rập Thống Nhất… Hồi giáo cực đoan khát máu như Nhà Nước Hồi giáo ISIS…

Hồi giáo và Thiên Chúa giáo có nhiều điểm tương đồng. Kinh Koran ghi rằng Chúa Jesus ra đời bằng trinh sản từ một trinh nữ (virgin). Chú Jesus làm được phép lạ (worked miracles). Đức Mẹ Mary được nhắc tới trong Koran nhiều lần hơn trong Tân Ước (New Testament). Hồi giáo tin rằng chỉ có một thượng đế duy nhất là Allah. Hồi giáo chỉ coi Abraham, Moses và Jesus đều là những đấng tiên tri của Thượng Đế. Mỗi vị này đều có tầm vóc quan trọng cùng lắm là ngang bằng với đấng tiên tri Muhammad trong thời họ sống.

5. Di Truyền Học.

Tất cả người Ả Rập hiện nay tự coi mình là con cháu của hai dòng tổ Qahtan và Adnan. Qahtan, Qahtanite, Qahtani chỉ người Ả Rập có nguồn gốc từ phía nam Bán Đảo Ả Rập, đặc biệt là từ Yemen. Theo truyền thống Ả Rập, Qahtanites là người Ả Rập chính huyết, thuần chủng. Adnan, Adnanites là người Ả Rập Ả Rập hóa (‘Arabized Arabs’), con cháu dòng Adnan.

Về di truyền học, DNA là yếu tố đáng tin cậy để nhận diện ra người Ả Rập. Người Ả Rập có ‘dấu ấn Ả Rập H’ (“Arab marker” H).

Theo dòng cha nhiễm sắc thể Y, Halogroup E1b1b thường thấy nhiều nhất ở Người Ả Rập vùng Tây (Maghrebis) trong khi halogroup J thấy nhiều nhất ở Người Ả Rập vùng Đông (Mashriq).

clip_image022Sự phân bố halogroup J (nguồn: Wikipedia).

Lưu ý halogroup J cũng thấy ở phần đất Việt Nam (2-10%). Phải chăng ở người Champa? Có dịp tôi sẽ đào sâu thêm vào điểm này.

Dựa vào khảo sát nhiễm sắc thể Y suy ra phần lớn dòng di thể (gene) Ả Rập ở Trung Đông phát xuất từ Bán Đảo Ả Rập.

Trong khi đó theo dòng mẹ mtDNA rất thay đổi.
Những bệnh di truyền ở người Ả Rập thường ở đoạn HLA trên nhiễm sắc thể số 6.

Cũng cần biết các sắc dân khác sống trong Thế Giới Ả Rập có DNA không phải là Ả Rập như Berbers, Kurds, Turks, Iran, Azeris, Circassuan, Shabak, Turcoman, Romanu, Checchens, Phi châu Sub-Shahara, Nam Á, Hải Đảo Thái Bình Dương, Samaritan và Do Thái.

6. Văn Hóa

Có một khuynh hướng cho rằng người Ả Rập được nhận diện qua văn hóa chứ không phải qua chủng tộc. Văn hóa Ả Rập có hai yếu tố chính là sắc thái Ả Rập và Hồi giáo. Hồi giáo được coi là văn minh gốc của họ.

Ngoài hai yếu tố căn bản đó, họ có thể thuộc bất cứ dòng giống nào, triết lý sống nào và là công dân của bất cứ xứ nào trên thế giới.

Văn hóa Ả Rập có những nét nền móng cá biệt về tôn giáo (đã nói ở trên), nghệ thuật và ẩm thực.

.Nghệ Thuật
 Nghệ thuật bao gồm nhiều yếu tố như âm nhạc (có nguồn gốc từ thời tiền-Hồi giáo).
clip_image023
Bayad đánh đàn oud cho các người đẹp, cuối thế kỷ 12 (nguồn: Wikipedia).
Âm nhạc thường đi với thơ và lời nhạc thường là thơ.
 .Văn chương
 Như đã nói ở trên, thơ là linh hồn của ngôn ngữ Ả Rập. Phần lớn văn chương Ả Rập trước thế kỷ 20 là thơ (thơ vần và thơ văn xuôi).
clip_image024

Thơ trong Koran.

Tới thời Tân-Cổ Điển mới có văn xuôi. Tác phẩm văn xuôi nổi tiếng nhất là Nghìn Lẻ Một Đêm:
 clip_image025
Nghìn Lẻ Một Đêm.
 . Thư pháp
Thư pháp là một thứ nghệ thuật tiêu biểu của văn hóa Ả Rập.
clip_image026
(nguồn internet).
 .Kiến trúc
Kiến trúc mang sắc thái đặc thù Hồi giáo thấy qua các đền đài. Kiến trúc chỉ trang trí bằng chữ Ả Rập theo kinh Koran, hoa lá cành, không có động vật…
clip_image028
(ảnh của tác giả).
clip_image030

Đền Lớn Sheik Zayed Bin Sultan Al Nahyan ở Abu Dhabi, United Arab Emirates.

(ảnh của tác giả).
Ở bán đảo Iberia (Tây Ban Nha ngữ) kiến trúc mang sắc thái Hồi gọi là Moorish và ở Ấn Độ gọi là Mughal.
 Các sản phẩm văn hóa như tiểu công nghệ (thảm, đồ đồng chạm khắc, gốm).
clip_image032
Thảm Ba Tư tại Đền Lớn Sheik Zayed Bin Sultan Al Nahyan (ảnh của tác giả).
Ngoài ra còn theo phong tục, mê tín, trang phục, ẩm thực.

Riêng về ẩm thực: ẩm thực Ả Rập mang quan niệm thết đãi. Bữa ăn thường là buổi họp mặt bàn chuyện của gia đình.

Âm thực Ả Rập mang ảnh hưởng vùng sa mạc và giao lưu văn hóa qua các con đường giao thương. Vì thế ẩm thực mang sắc thái và thay đổi theo từng vùng, từng quốc gia Ả Rập.

Thịt; thường là các thú nuôi ở vùng đất khô, sa mạc như cừu và gà, ít hơn là dê, bò. Dĩ nhiên có cả thịt lạc đà:

clip_image034Quán bán thịt lạc đà ở một souq (chợ) ở Fez, Marocco (ảnh của tác giả, vì tế nhị không chụp quầy thịt).

Món ưa chuộng ở Trung Đông là thịt nướng kabob, kabof, kebof. Tây phương gọi là shish kabab hay shish kebab, người Nga có shaslik, thịt xuyên qua lưỡi kiếm nướng than.

Cũng nên biết theo k = ch như kết (kết liễu) = chết, kabob có ka- = Việt ngữ chả (chả là thịt nướng than như bún chả Hà Nội, chả quế) = Anh ngữ char = cháy: đốt, cháy thành than, thiêu rụi; charcoal, charbon (Pháp ngữ) là than. Người Mỹ thích món thịt nướng than như char-broiled hamburger. Người Huế có món tôm nhuyễn nướng than gọi là chạo cũng có cùng gốc char, chả. Chảo dùng rán thức ăn cũng có gốc này. Quảng Đông có món chá xíu hay xá xíu, Mã Nam Dương món thịt nướng que gọi là saté (sa- = chả) cũng là thịt nướng, một thứ chả. Hiện nay người Việt dùng rộng ra, chả cũng chỉ thức ăn rán, chiên như chả giò, chả ram, chả trứng (loại rán, chiên).

Nên nhớ từ chả chỉ áp dụng cho thức ăn nướng than, nướng lửa hay chiên rán mà thôi, còn giò lụa là món luộc, mọc trứng là món hấp nếu nói là “chả” lụa, “chả” trứng hấp, chả đùm… là sai ngữ pháp

Cá ở các vùng duyên hải. Heo hoàn toàn bị cấm ăn vì lý do taboo (cấm kỵ) tôn giáo gọi là haram [theo h=c như hủi cùi, haram có ha(ra)m = cấm]. Sản phẩm sữa ưa chuộng là yogurt, buttermilk. Vì khí hậu sa mạc dễ làm thức ăn ươn thiu nên dùng nhiều gia vị. Gia vị thay đổi theo từng vùng và ảnh hưởng theo con đường giao thương gia vị.

Mễ cốc: gạo: cơm thường bỏ thêm gia vị hay nấu chung với thịt cừu như món quốc hồn quốc túy mansaf (cơm thịt cừu hầm với sốt da-ua lên men ) của Jordan hay gà, lúa mì (bánh mì tròn, dẹp thường ăn gọi là khobz), bulgur (làm bằng bột lúa mì), semolina (couscous). Rau: ưa thích nhất là cà tím, cà rốt, đậu bắp (okra), chickpea, đậu ván, olive…

Nước uống: đứng hàng đầu dĩ nhiên là cà phê (vì thế mới có giống cà phê nổi tiếng là Arabica). Có người cho rằng coffee, café phát gốc từ Ả Rập ngữ qahwah, có nghĩa gốc là ‘giảm đói’ vì uống cà phê làm bớt thèm ăn (ví thế mà có nhiều người ghiền cà phê hom hem vì ít ăn ít ngủ). Cà phê Ả Rập thường cho thêm gia vị vào. Kế đến là trà thực vật (trà rau húng bạc hà ở Marocco, hoa hồng ở Ai Cập, hoa dâm bụt…). Trái cây: vả, chà là, lựu, cam…

clip_image036Khách đến nhà thường mời cà phê, trà, bánh kẹo và các loại hạt (ảnh của tác giả).

Hạt: hạnh nhân, pistachio, bồ đào (walnut), đậu phụng… Các hạt như pistachio, hạt thông dân gian (như ở Thổ Nhĩ Kỳ) coi như là thuốc Viagra:

clip_image038Các bà cũng mua hạt Viagra cho chồng (chụp tại Cappadocia, Turkey).

Đồ ngọt: người Ả Rập thích ăn ngọt, ưa dùng mật ong: bánh cheese knafek, baklava (bánh nhiều lớp có hạt băm và mật ong) và basbousa (bánh ngọt có dừa, nước hoa cam hay hoa hồng). Đặc biệt trong mùa lễ Ramadan có qatayef (bánh nhồi kem hay hạt).

Các món cổ truyền người Bedouins thường ăn là Marqa (món hầm thịt hay rau), Tajines (món nấu chảo đất, tajine là chảo đất nung hình đĩa lớn có vung hình trụ nón).

clip_image040

clip_image042Món tajine nấu trong chảo đất hình đĩa có vung hình nón (ảnh của tác giả).

Ở vùng Levant (Đông Địa Trung Hải, phía mặt trời mọc), cơm tối đãi khách thường có các món chính như các loại mezzes (các món nhâm nhi, ăn chơi)  các loại hạt khác nhau và hummus (đậu chicpeas nghiền
với bột nhão mè rang tahini, dầu olive, muối, tỏi), Baba ghanoush (món cà tím), Falafel (bột hạt đậu viên tròn chiên), Kibbeh (thịt xay bọc bột mì chiên ròn), Kafta (thịt viên) và salad Tabouli.
…..
7. Học Thuật
 Ả Rập đóng góp rất nhiều vào nền văn minh thế giới nhất là trong lãnh vực toán học (các con số Ả Rập, đại số học algebra, Ả Rập ngữ là “al-jabr” có nghĩa là ‘nối kết những phần vỡ vụn’), thiên văn học, khoa học…
clip_image044
Đài ghi công ơn các nhà thiên văn học Ả Rập tại một trung tân thương mại Dubai.
 8. Hôn Nhân
 Người Ả Rập có tục lấy nhau đồng huyết tộc giữa các người trong họ gần.

9. Thánh Địa

Hai vùng đất thiêng là Mecca và Medina.

Kaaba ở Mecca (Saudi Arabia) là trung tâm điểm của Hồi giáo, nơi tín đồ Hồi giáo từ khắp thế giới hành hương tới để làm Umrah (hành hương trong năm) và Hajj (hành hương theo giáo luật, ít nhất một lần trong đời người).

10. Tình Trạng Thế Giới Ả Rập Ngày Nay.

Sau Thế chiến thứ nhất, tất cả các nước Ả Rập (ngoại trừ một phần của Arabia) đều trở thành thuộc địa của các cường quốc Anh, Pháp. Đầu thế kỷ 21, thế giới Ả Rập phân hóa, suy thoái trầm trọng vì kinh tế trì trệ, yếu kém, chính thể cai trị độc tài, chiến tranh, dân số gia tăng nhanh vì đa thê, nhiều con…

Theo Tường Trình Phát Triển Loài Người về Ả Rập của Liên Hiệp Quốc, thực hiện bởi người Ả Rập thì các Quốc Gia Ả Rập thường:

-Thiếu tự do chính trị.

-Dân chủ được coi là một thứ trò hề bởi vì Tây phương đạo đức giả với tiêu chuẩn hai mặt.

-Phát triển kinh tế yếu kém vì hậu quả của chế độ thực dân Tây phương, thất bại về tư bản hóa và xã hội để đưa nền kinh tế tới thịnh vượng:

.tỉ lệ tăng trưởng 0.5%, một trong những tỉ lệ thấp nhất thế giới.

.20% người Ả Rập sống dưới 2 Mỹ kim một ngày.

.15% thất nghiệp (rất cao ở tuổi trẻ).

.Thiếu bình đẳng nam nữ.

.Tỉ lệ cao thất học (65 triệu mù chữ).

Đây là nguyên nhân chính của lòng thù hận, quyết tâm tìm lấy lại sự vang bóng một thời và nhất là lòng kiêu hãnh tôn giáo mà được cho là bị miệt thị bởi thế giới tân tiến, nhất là bởi những quốc gia Thiên Chúa giáo thực dân. Hậu quả đưa tới cao trào cực đoan: “Hồi giáo là câu Trả Lời’ (’Islam is the Answer’).

Một ví dụ điển hình là vì bị coi thường, xỉ nhục, giới trẻ Hồi giáo hiện nay muốn lấy lại niềm kiêu hãnh của Hồi giáo qua chiếc khăn trùm đầu hijab. Ở các quốc gia đạo Hồi cấp tiến như Ả Rập Thống Nhất, Jordan, Oman… và không phải là đạo Hồi gốc bản địa như Nam Dương, Mã Lai, phụ nữ trẻ dùng khăn trùm đầu càng ngày càng nhiều, trong khi giới già có khi theo Tây phương không trùm khăn. Và khăn trùm đầu trở thành một niềm kiêu hãnh tôn giáo và cả khiêu khích cũng như là một mốt thời trang.

Hai dòng Cấp Tiến và Truyền Thống đều dành giựt lôi kéo giới trẻ trong các nước Ả Rập tạo ra những căng thẳng, va chạm, phân hóa, chia rẽ.

Bởi vì quá nhiều thất bại của các kế hoạch tân tiến hóa nên dòng bảo thủ và cực đoan đã vượt trội lên, mạnh hơn, dẫn tới cả cực đoan khát máu ISIS hiện nay.

ISIS hiện là một đại họa của nhân loại ngày nay.

One comment

  1. Anh Nguyen · · Reply

    Cảm ơn nhà văn bác sĩ Nguyễn Xuân Quang, bài viết rất hay.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: