CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN–QUE, CHỮ NÒNG MỘT VÒNG TRÒN (phần 6 và hết).

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN–QUE.

CHỮ NÒNG MỘT VÒNG TRÒN.

(Nong or Circle O letter).

(phần 6 và hết).

Nguyễn Xuân Quang.

CHỮ VÀ DẤU NÒNG MỘT VÒNG TRÒN TRÊN TRỐNG ĐỒNG NÒNG NỌC CỦA ĐẠI TỘC ĐÔNG SƠN (tiếp theo).

Cây Vũ Trụ.

Như đã nói ở trên, Tam thế được biểu tượng bằng Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống). Nòng chấm rỗng nguyên tạo và sau này vòng tròn diễn tả hư vô có một khuôn mặt coi như là hạt, hột tạo hóa sinh ra Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống). Vì thế nòng vòng tròn hư vô tiến qua giai đoạn hình trứng ứng với thái cực cũng hàm nghĩa Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) ở dạng mầm nguyên tạo nhất thể. Ví dụ thấy rõ nhất là trống đồng nòng nọc (âm dương) Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I) Cây Nấm Vũ Trụ (Nấm Tam Thế, Nấm Cây Đời Sống). Trống Nguyễn Xuân Quang VI có chu vi bọc quanh hình noãn, hình trứng tạo hóa, có nghĩa là trứng vũ trụ (thái cực) sinh ra trống Cây Nấm Vũ Trụ (Nấm Tam Thế, Nấm Đời Sống) Nguyễn Xuân Quang VI.

clip_image002Trống Nấm Vũ Trụ (Nấm Tam Thế, Nấm Đời Sống) Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I) do hạt mầm vũ trụ hình trứng sinh ra.

Như thế vòng tròn nòng có một khuôn mặt Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) ở dạng hột, hạt, mầm sinh tạo, tạo hóa thấy rõ ở trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn.

Sinh tạo, Tái sinh, Hằng cửu.

Hiển nhiên vòng tròn ở tâm trống có một khuôn mặt diễn tả vỏ thượng thế gồm vỏ hư vô, vỏ thái cực, vỏ vũ trụ mang nghĩa sinh tạo, tái sinh, hằng cửu.

Như đã nói ở trên, trống Nguyễn xuân Quang I là trống vành cầu hay trống trứng cầu tròn (như trứng chim) vũ trụ, trống thái cực, là trống tạo hóa, trống sinh tạo hư vô (vũ trụ, thái cực). Dĩ nhiên cũng hàm nghĩa tái sinh, hằng cửu.

Như thế chữ nòng vòng tròn O mang trọn ý nghĩa vũ trụ tạo sinh thấy rõ mồn một trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn.

Nòng O Dương Hóa Trên Trống Đồng Nòng Nọc Của Đại Tộc Đông Sơn.

Vòng tròn nòng O chuyển động mang tính dương mở ra thành hình:

-Vòm

Vòm là do nòng vòng tròn mở ra có một nghĩa là vòm vũ trụ, vòm trời, không gian…

.Nhà nòng, âm, không gian trên trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn có mái vòm mu rùa, còn gọi nhà rùa.

clip_image004Một ngôi nhà nòng, âm, không gian trên trống Ngọc Lũ I có mái vòm.

.Vòm bầu vũ trụ.

Người cuối cùng của nhóm 7 người nhẩy múa trên trống Ngọc Lũ I có trang phục đầu hình bầu nậm nòng nọc (âm dương) diễn tả người tiểu vũ trụ (sinh ra từ bầu tạo hóa, càn khôn, đại vũ trụ) của chủng Bách Việt.

clip_image005Người cuối cùng của nhóm 7 người nhẩy múa trên trống Ngọc Lũ I.

Phần bầu ở dưới có hình vòm, một biến dạng của chữ nòng một vòng tròn O.

-Chữ U.

Như đã biết nòng O dương hóa mở ra thành chữ U.

.Chữ U còn phần cong tròn ở dưới mang âm tính và hai phần đứng hình hai trụ nọc que II tức hai dương lửa, thái dương. U là dạng thái dương của O ở phía nòng âm. Ta thấy rõ trong Việt ngữ U là mẹ (người Bắc dùng nhiều như thầy u). U là nàng lửa, nàng thái dương phía dương nữ. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, U thuộc dòng Nàng Lửa, Mặt Trời Thái Dương U Cơ (Âu biến âm của U). Trong khi O chỉ nàng, nường, cô, mụ (người Huế dùng nhiều) mang tính mang tính thái âm nước, thuộc dòng  âm nữ, Nàng Nước Vụ Tiên. U cũng có các nghĩa gốc của O nhưng mang tính thái dương ở ngành nòng âm.

Ta thấy người cuối cùng của nhóm 7 người nhẩy múa ở trên, tay trái (phía âm) cầm cái chuông bát hình chữ U (giống loại chuông bát tụng niệm của Phật giáo) clip_image006, biến dạng của nòng O thái dương. Còn tay phải cầm dùi chuông có mấu hình sừng hươu mang gạc (munjac) có hai mấu nhọn diễn tả nọc thái dương (dùi là nọc và hai mấu nhọc là hai dương, thái dương). Chuông và dùi là nòng nọc (âm dương) ngành thái dương đi đôi với trang phục đầu bầu nậm nòng nọc (âm dương) của người này .

.Chữ V

Chữ U dương hóa thêm nữa, phần đáy cong âm khi dương hóa hoàn toàn thành hình chữ V có một nghĩa là nòng O thái dương. V là dạng thái dương thuần dương của O ở ngành nọc dương. V cũng có các nghĩa của O nhưng mang tính thái dương, ví dụ như V cũng có nghĩa gốc là bộ phận sinh dục nữ. Âm hộ có hình chữ V hay tam giác ngược, thấy rõ qua:

.Hình chữ V diễn tả âm hộ thấy rõ qua sự so sánh âm hộ với cốc, ly có chân chalice (calyx) hình Y như thấy rõ qua hình sau đây:

clip_image010Ý nghĩa biểu tượng của chalice (nguồn: internet).

.Hình thần nòng nọc (âm dương) ( nường, nõ, trăng trời) của người Nabatae ở Petra, Jordan.

Trong các tảng đá thần ở Thành Phố Hồng Petra, Jordan có hai tảng đá thần nường, nước, nước thái âm và thần nọc, lửa, lửa thái dương (xác thực bằng hình mặt trời) sau đây:

clip_image0021_thumb

Hai tảng đá thần ở Petra, Jordan.

Tảng đá thần nường, nước (bên trái) có hình âm hộ tam giác ngược hay hình chữ V (thấy rõ ở chóp dưới).  Trong khi tảng đá thần nọc lửa (bên phải)có hình dương vật. Phía trên tảng đá nường có lõm hình mặt trăng lưỡi liềm của phía nòng âm nước ngành thái dương. Mặt trăng lưỡi liềm cho biết mang tính thái dương. Trăng lưỡi liềm là khuôn mặt âm, đêm của mặt trời nước, chiều tối, như thấy qua khuôn mặt trăng của Lạc Long Quân (Ông trăng mà lấy bà giời…).

Nhưng rõ nhất là mặt thần có hình cốc có chân chalice.

Như vậy đối ngược với tảng đá thần nõ dương vật có hình mặt trời (ngược với hình trăng lưỡi liềm ở tảng đá thần nòng, nường), tảng đá thần nường có hình chữ V với mặt thần hình cốc có chân Y rõ như ban ngày diễn tả nòng, âm, nường, nước thái âm mang tính thái dương.

.Hình thần nõ nường của Đại Hàn:

clip_image008Thần nõ nường của Đại Hàn, hình bên trái là nõ có đầu hình đầu rùa (qui đầu) và hình bên phải là nường có đầu hình âm hộ chữ V (ảnh của tác giả chụp tại Đại Hàn).

.Dan Brown trong The Da Vinci Code cũng cho hình chữ V giữa Chúa và đệ tử John trong bức tranh The Last Supper (Bữa Ăn Tối Cuối Cùng) của Leonard da Vinci là hình chalice (cốc đựng rượu có chân) có một nghĩa là bộ phận sinh dục nữ, tử cung phụ nữ. Biểu tượng này liên hệ với phái nữ và sự mắn sinh (Chữ Nòng Nọc và Da Vinci Code).

Từ nghĩa gốc của nòng O, bộ phận sinh dục nữ, dĩ nhiên V cũng có các nghĩa khác của chữ nòng vòng tròn O nhưng mang tính nọc thái dương như âm, nữ, nước, vực thẳm (đất âm thái dương)…

Lưu Ý

Theo duy dương thì chữ V là do hai nọc que II ghép lại tức thái dương của ngành nọc dương. Lúc này V là một nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) Ʌ lộn ngược. V có tất cả các nghĩa ngược lại với nọc nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) Ʌ.

Trên trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn dĩ nhiên cũng có hiện diện của chữ V này. Ví dụ:

.V với nghĩa tổng quát âm, thái âm mang tính thái dương.

Trên trống Ngọc Lũ I bên cạnh nhà nòng không gian có cảnh giã chầy cối:

CHAY COI

Cối có lòng hình chữ V trên trống Ngọc Lũ I.

Cối biến âm với cái có một nghĩa là bộ phận sinh dục nữ (đối ngược với chầy, bộ phận sinh dực nam). Cối hình cốc có chân Y có lòng cối hình chữ V. Như thế theo diện thái âm hai vòng tròn nòng OO, cối diễn tả thái âm dương hóa mang tính thái dương. Căn nhà nòng không gian ở trống Ngọc Lũ I  mang tính nòng thái dương. Điều này ăn khớp trăm phần trăm vì trống Ngọc Lũ I là trống thuộc nhóm thái dương  có mặt trời 14 nọc tia sáng (xem trống này).

.Trường hợp chữ V có nghĩa là đất âm thái dương như vực thẳm, núi âm thái dương… thấy trên trống Khai Hóa Vienna, bốn nhóm người nhẩy múa tay phải cầm phách để ở vị trí chữ V cho biết họ thuộc đại tộc nọc âm thái dương .

clip_image012Bốn nhóm người nhẩy múa trên trống Khai Hóa Vienna.

Phách cầm ở vị trí chữ V này ngược với phách cầm ở vị trí chữ V ngược hình núi tháp Ʌ ở những người nhẩy múa trên trống trống Ngọc Lũ I.

clip_image014Nhóm 7 người nhẩy múa trên trống Ngọc Lũ I.

Như đã biết, trống Ngọc Lũ I là trống thuộc nhóm trống thái dương có mặt trời 14 nọc tia sáng Tốn tầng 2 (6, 14) ngành nọc thái dương có khuôn mặt chủ là ngành nọc dương Li Càn (với Li mang tính chủ thấy rõ qua tay phải dương cầm phách hình núi tháp đất Li tay trái cầm gậy thẳng Càn). Ở trống Khai Hóa Vienna này là trống thuộc nhóm thiếu dương có mặt trời 12 nọc tia sáng Cấn tầng 2 (4, 12). Cấn là núi âm (non), đất âm trên trống (đực, nọc) có khuôn mặt đất Li làm đại diện. Trống này có khuôn mặt Li âm mang tính chủ thấy rõ qua phách để ở vị trí chữ V, ngược với vị trí hình tháp Ʌ ở trống Nagọc Lũ I (có khuôn mặt Li dương mang tính chủ). Ta cũng thấy tay trái của 7 người nhẩy múa trên trống Khai Hóa này cầm gậy cong mang âm tính diễn tả Càn âm thay vì là gậy thẳng Càn dương như ở trống Ngọc Lũ I.

Hiển nhiên chữ nòng nọc vòng tròn-que hình chữ V cho biết người trên trống Khai Hóa thuộc đại tộc Li âm ngành nọc thái dương.

Lưu ý

.Người ở trống Khai Hóa cầm phách chữ V để hơi nghiêng không thẳng đứng

clip_image015

trông như dốc núi hơn là vực thẳm.

.Ta cũng thấy trống Khai Hóa tìm thấy ở Khai Hóa, Nam Trung Hoa, địa bàn của dòng Việt ngành nòng âm nên có khuôn mặt đất Li âm rất thuận lý.

.Trường hợp chữ hình chữ V có nghĩa là nước dương.

Chữ V và biến dạng tam giác ngược có nghĩa là nước dương thấy rõ trong alchemy:

clip_image017

Trên trống đồng chữ V với nghĩa nước thái dương thấy ở người trên thân trống Quảng Xương:

clip_image019Người đại tộc V trên thân trống Quảng Xương.

Ở ngực người này có chữ V cho biết thuộc tộc nước thái dương ngành nọc thái dương.

Rõ hơn các chữ V nước thái dương này kết lại thành một chuỗi hình sóng nhọn đỉnh diễn tả nước thái dương chuyển động như thấy ở linh tự N của Ai Cập cổ.

clip_image021

Một tảng đá thần ở Petra, Jordan cho thấy rất rõ  vì có viết hình ngữ nòng nọc vòng tròn-que hình sóng dương do các chữ V ghép lại.

clip_image035_thumb

Một tảng đá thần Nước dương (Nabataea.net).

Tảng đá có hình tam giác ngược hay chữ V âm hộ có một nghĩa là nước thái dương. Mặt thần có hình vật đựng chất lỏng (cốc, ly, bát, thùng…) biểu tượng cho nước. Hai bên có hình sóng nước kép chữ V nhọn đầu (do hai chuỗi OO, thái âm dương hóa cực đại thành hai nọc que ghép lại) diễn tả nước thái âm mang tính thái dương năng động (năng động vì có mũi nhọn).

Đây là tảng đá thần nước dương ứng với tượng nước dương Chấn.

Trên trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn chuỗi sóng này thấy rất nhiều ví dụ như ở cánh cò trên trống Hữu Chung:

clip_image022Cánh cò trên trống Hữu Chung có hình sóng nước chữ V ghép lại.

Cò có hình sóng nhọn đỉnh nước thái dương do các chữ V ghép lại cho biết là cò nước dương, cò Chấn ứng với cò Lạc, chim biểu của đại tộc Lạc Việt Lạc Long Quân trong Liên Bang Văn Lang cò Gió Hùng Vương.

Ở chân nhiều trống muộn có vành sóng nhọn đầu chữ V này diễn tả nước dương ở hạ thế, cõi âm.

clip_image024Vành sóng chữ V ở chân một trống trệt nam Trung Quốc.

Và còn nhiều nữa…

(xem Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que và Mẫu Tự ABC).

-Cong

Như thấy ở hình dóng sấm (búa thiên lôi) trên trống Nam Ngãi II đã nói ở trên.

clip_image026Dóng sấm hình thoi trên trống Nam Ngãi II.

Dóng sấm hình thoi có bốn hình chữ móc nước clip_image028 gồm phần nọc que mang nghĩa dương, lửa và phần cong là nòng chuyển động mở ra có một nghĩa là nước chuyển động (mưa). Hình móc nước cũng có một khuôn mặt là nước-lửa, là chớp lửa trong mưa có một nghĩa liên hệ với sấm.

-Cung

Hình cung do vòng tròn nòng O chuyển động mở ra. Như vậy hình cung là nòng mang dương tính tức Khôn dương khí gió. Do đó hình cung có một khuôn mặt biểu tượng cho vòm trời liên hệ với gió như thấy qua dù, lọng gió có vòm cung. Rõ hơn hình cung có tua gió có hình bờm. Việt ngữ bờm biến âm với buồm (vật cản sức gió để đẩy thuyền đi), với bướm là con bay liệng trong gió, Anh ngữ là butterfly (con bay có phấn như bơ mỡ). Thằng Bờm có cái quạt mo. Mo là túi bao, bồ như mo nang là bao hoa cau, biểu tượng cho gió. Thằng Bờm là con cháu Hùng Vương có mạng gió (xem Thắng Bờm).

Trong hình thái tứ tượng (hiện gọi lầm là họa tiết lông công) ở các khoảng không gian giữa các nọc tia sáng mặt trời trên trống Ngọc Lũ I và các trống họ hàng, tượng gió được diễn tả bằng một hình cung có tua hình bờm gió clip_image030.

clip_image032Hình thái tứ tượng ở trống Ngọc Lũ I có hình bờm gió biểu tượng cho tượng gió.

[ngoài ra còn lại nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) clip_image033 có một nghĩa là lửa thái dương, Càn; hình hai giọt nước có chấm nọc dương clip_image035 là nước thái dương (xem dưới) và hình tháp hai vách là núi tháp trong có nọc chấm đặc dương clip_image036 là đất dương, Li].

Ta có thể kiểm chứng lại để xác thực hình bờm biểu tượng cho gió qua thạch bản gió của Niven (James Churchward, The Children of Mu).

clip_image037Một nhóm thạch bản biểu tượng nguyên lý lưỡng tính của đấng Tạo Hóa (James Churchward, The Children of Mu).

Thạch bản dưới, phải là hình người túi mà James Churchward gọi là con nhộng. Ta thấy người này là người túi chuyển động giống phướn túi gió (windsock) diễn tả gió.

clip_image038Hình người túi chuyển động giống phướn túi gió diễn tả gió.

Trên đầu người này có bờm trong có 7 nọc que và ở góc phải (nhìn theo đầu người này) có một chữ nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) Ʌ có một nghĩa là dương, thái dương năng động, sinh động. Số 7 là số Càn cho thấy rõ người này là túi Khôn (để có lưỡng hợp Càn-Khôn). Nọc mũi mác Ʌ với nghĩa dương, thái dương cho thấy Khôn dương là nòng O thái dương II tức quẻ Đoài vũ trụ khí gió IIO. Rõ ràng người này là người túi gió tạo hóa Càn Khôn có bờm gió.

-Nét cong

Nét cong mang âm tính như người ngành nòng âm trên trống Hoàng Hạ có trang phục đầu hình chim có nét cong.

clip_image040Người trên trống Hoàng Hạ.

Khác với người dương thái dương trên trống Ngọc Lũ I với trang phục đầu hình chim có những đường nét thẳng, có góc cạnh mang dương tính.

clip_image042Người trên trống Ngọc Lũ I.

Và còn nhiều nữa…

Dấu Nòng O.

Như đã biết, nhìn tổng quát chữ nòng vòng tròn lớn là dạng trưởng thành mang tính biểu hiện, biểu trưng, đại diện của nòng chấm rỗng, mang ý nghĩa chính ở tầng lưỡng nghi trở xuống. Tuy nhiên như đã nói ở bài chữ nòng chấm rỗng, về sau chữ nòng vòng tròn (lớn) với tính sinh tạo nòng nọc (âm dương) biểu hiện ra ngoài kiêm nhiệm luôn tính nguyên tạo, tạo hóa của chữ chấm nòng rỗng. Nói một cách khác, chữ nòng O mang cả ý nghĩa của chữ và dấu chấm rỗng , nghĩa là trên trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn nhiều khi thấy nòng vòng tròn O cũng dùng như một dấu. Dĩ nhiên dấu nòng vòng tròn O lớn hơn dấu nòng chấm rỗng. Tuy nhiên dấu nòng vòng tròn O rất hiếm thấy so với dấu nòng chấm rỗng. Dấu nòng vòng tròn O thường dùng lẫn lộn với chữ, khó phân biệt vì cả hai cùng gốc nghĩa nòng, âm. Ví dụ trên trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn có:

Nhà nòng, không gian có mái vòm mu rùa, còn gọi nhà rùa.

clip_image004[1]Một ngôi nhà nòng, âm, không gian trên trống Ngọc Lũ I có mái vòm.

Ta thấy ở hai bên mái có chữ chấm-hai vòng tròn đồng tâm clip_image043. Thông thường chấm nọc dương là một dấu chỉ nọc nguyên tạo, dương còn hai vòng tròn nòng bao bên ngoài là hai chữ nòng OO, có một nghĩa là thái âm, nước thái âm. Tuy nhiên ở đây trên trống là biểu tượng của ngành trống, đực, dương mặt trời thái dương nên những căn nhà nòng không gian mang tính chủ là mặt trời thái dương của phía nòng âm. Ở căn nhà này ta thấy rất rõ qua người đứng ở cửa cầm chiếc trống tròn mang dương tính cho biết nhà không mang tính nước thái âm. Như vậy ta phải đọc khác đi. Từ chấm-vòng tròn clip_image045 ở trong là mặt trời và nòng vòn tròn ngoài là nòng O. Chữ chấm-hai vòng tròn đồng tâm có nghĩa là mặt trời ngành nòng, âm. Như vậy nòng vòng tròn O ở ngoài có chức vụ nghiêng hẳn về phia là một dấu chỉ nòng âm.

-Những loài chim thú sống được dưới nước thường có con mắt âm chấm nọc-hai vòng tròn đồng tâm.

Chim nông trên trống Ngọc Lũ I có con mắt âm:

clip_image047Chim nông có con mắt âm trên trống Ngọc Lũ I.

Đây là con bồ (O) nông (O) tức nông mang tính thái âm OO, nước.

Bây giờ ta xem vòng tròn nòng bao ngoài con mắt âm là một dấu hay chữ?

So sánh con chim nông có con mắt âm này ở trống Nagọc Lũ I với con nông bay trên đầu người cuối cùng của hai nhóm 6 người nhẩy múa trên trống Hoàng Hạ có con mắt dương chấm-vòng tròn:

clip_image049Chim nông bay trên đầu người cuối cùng của nhóm 6 người nhẩy múa trên trống Hoàng Hạ có con mắt dương chấm-vòng tròn.

Đây là con chim bổ (I) nông (O) tức con nông thiếu âm IO, gió, chim biểu của đại tộc Gió Đoài vũ trụ của trống Hoàng Hạ (xem trống này).

Lưu Ý

Xin nhắc lại các dấu trong Việt ngữ diễn tả tính nòng nọc (âm dương). Không dấu và dấu huyền (vần bằng) diễn tả âm như bồ nông là chim nông nước, thái âm (bồ là bao bọc, nang, nòng). Bồ nông viết theo chữ nòng nọc vòng tròn-que là bồ = O và nông = O tức OO, thái âm, nước. Dấu hỏi (trắc) diễn tả dương như bổ nông là chim nông gió thiếu âm (bổ là búa, rìu, nọc). Bổ nông viết theo chữ nòng nọc vòng tròn-que là bổ = I và nông = O tức IO, thiếu âm gió (Tiếng Việt Huyền Diệu).

Ta thấy mắt âm và dương khác nhau một vòng tròn nòng O. Vậy vòng tròn này là dấu hay chữ?

Ta biết thông thường con mắt diễn tả bằng chấm-vòng tròn clip_image050 cùng nghĩa với mặt trời cũng diễn tả bằng chấm-vòng tròn clip_image051. Vì sao? Vì con mắt có một nghĩa là sáng (sáng con mắt ra, người có mắt là người sáng, người không có mắt là người mù, người tối). Mắt biến âm mẹ con với mặt có một nghĩa là sáng, là vật sáng như mặt trăng, mặt trời, mặt kính. Mặt người cũng vậy: ‘mặt sáng như gương tầu, đầu trơn như váy lĩnh’, Pháp ngữ visage, mặt ruột thịt với vision (nhìn, thấy). Theo m = b, mắt = mặt = bật (làm cho sáng) như bật đèn, bật lửa, bật quẹt, bật sáng lên = Phạn Ngữ bhà-, làm cho sáng lên. Do đó mắt và mặt (trời) diễn tả cùng một từ nòng nọc vòng tròn-que chấm-vòng tròn là vậy. Như thế vòng tròn O có thêm ở con mắt âm của chim nông mang nghĩa âm.

Đem so sánh hai con mắt: một con mắt âm của con bồ nông trên trống Ngọc Lũ I và một con mắt dương của con bổ nông trên trống Hoàng Hạ thì vòng tròn ngoài ở con mắt âm nghiêng nhiều về phía là một dấu, chỉ cho biết tính âm (bao gồm cả nghĩa nước).

Tuy nhiên, ở chỗ khác, ở từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm này, ta lại thấy rất rõ nòng vòng tròn O bên ngoài lại là một chữ, ví dụ từ clip_image052 này ở trên người hai con nông đứng dưới nước ở đuôi một thuyền trên trống Hoàng Hạ.

clip_image054

Từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm trên người hai con nông đang giao hợp này giống hệt từ con mắt âm chấm-hai vòng tròn đồng tâm của chúng (và cũng giống con mắt âm ở đầu chim nông đuôi thuyền). Hiển nhiên từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm trên người chim không phải là con mắt âm nên có nghĩa khác. Nói một cách khác chữ nòng vòng tròn O bao bên ngoài ở thân chim có một chức vụ khác. Nòng vòng tròn O này là một chữ. Thật vậy từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm trên người chim có chấm nọc dương lúc này chấm là một dấu nọc chấm đặc nguyên tạo, dương còn hai vòng tròn nòng bao bên ngoài là hai chữ nòng OO, có một nghĩa là thái âm, nước thái âm. Từ này ở đây có nghĩa là nước dương ứng với Chấn. Hai từ trên thân hai con chim cho biết đây là hai con chim nước ngành thái dương.

Chắc có người còn nghi ngờ có thực sự từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm có phải có nghĩa là nước dương, Chấn không?

Để trả lời xin xác thực bằng từ này trong hình thái tứ tượng. Như đã nói ở trên, ở trống Ngọc Lũ I và các trống họ hàng, ở khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có hình thái tứ tượng dưới đây:

clip_image055

Hìnhclip_image035[1] là hai giọi nước có đuôiclip_image058 trong có chấm nọc đặc mang nghĩa dương, diễn tả nước dương, Chấn (hai giọt nước có đuôi là hai giọt nước chuyển động, rơi từ trời là hai nòng OO mang dương tính và dấu chấm nọc xác thực nghĩa dương). Hai giọt nước dương diễn tả tượng nước dương, Chấn.

Ở những trống muộn khác trong hình thái tứ tượng này, tượng nước dương Chấn được diễn tả bằng chữ nòng nọc vòng tròn-que là từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm clip_image052[1] như thấy ở trống Làng Vạc III:

clip_image060Hình thái tứ tượng trên trống Làng Vạc III có tượng nước dương, Chấn diễn tả bằng từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm tương đương với hai giọt nước dương diễn tả tượng nước dương, Chấn ở trống trống Ngọc Lũ I và các trống họ hàng.

Không còn gì để nói nữa từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm ở đây có một nghĩa là nước dương, Chấn. Ta có:

clip_image061

Rõ như ban ngày cùng một từ chấm-hai vòng tròn đồng tâm, một từ diễn tả mắt chim và một ở thân chim khác nhau với nghĩa không hoàn toàn giống nhau. Ở con mắt, vòng tròn nòng O mang tính chủ là một chỉ định từ chỉ tổng quát là nòng, âm dùng như một dấu. Trong khi ở thân chim nòng vòng tròn O ngoài là một chữ cộng với vòng tròn O bên trong là hai chữ OO diễn tả thái âm, nước.

Rõ như dưới ánh sáng mặt trời hai từ có mặt chữ giống nhau, từ nòng vòng tròn O ngoài có khi dùng như một dấu, có khi là một chữ.

Tương tự ta cũng thấy những loài chim nước, cá sấu, cò nước cũng có con mắt âm như chim nông trên trống Ngọc Lũ I như:

.Cá sấu dao, sấu Lạc, sấu Việt trên trống Hòa Bình:

clip_image063Cá sấu dao của Dao Việt trên trống Hòa Bình có con mắt âm.

.Cò Lạc, cò nước trên trống Đắc Giao:

clip_image065 clip_image067

Cò trên trống Đắc Giao có con mắt âm chấm-hai vòng tròn đồng tâm.

Trống Đắc Giao là trống sấm mưa có bốn con cò nước, tên cò viết trên người cò là chữ hai vòng tròn đồng tâm có nghĩa là thái âm, nước vì thế cò có con mắt âm.

…….

Nên nhớ là chữ và dấu nòng vòng tròn O lẫn lộn nhau nhiều khi khó phân biệt hay có khi có cả hai chức vụ dấu và nòng cùng một lúc.

Kết Luận

Chữ nòng một vòng tròn O nói chung và trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn, mang trọn nghĩa vũ trụ tạo sinh, dịch lý của phía nòng âm (như nòng, âm, nước, bộ phận sinh dục nữ, nữ, bao túi, bình, bầu, vật đựng)… Chữ nòng vòng tròn O mang tính chủ sinh tạo ở tầng lưỡng nghi nên có khuôn mặt chính là biểu hiện, biểu tượng, đại diện cho nòng âm (trong khi nòng chấm rỗng ở dạng nguyên tạo còn mang tính ẩn giống như các mầm gốc sinh dục gonads). Cần lưu ý tới sự khác biệt giữa tính sinh tạo giữa chữ nòng vòng tròn O bậc hai với tính sinh tạo bậc một của nòng chấm rỗng nguyên tạo. Ở bậc thứ cấp, bậc hai, chữ nòng vòng tròn O bậc hai được diễn tả dưới dạng hình nòng vòng tròn lớn O trưởng thành đối ứng với chữ nọc que I ở cõi tạo hóa sinh tạo lưỡng nghi.

Chữ nòng vòng tròn O cũng có thể dùng làm dấu nhưng rất hiếm và khó phân biệt với chữ, có khi chữ nòng một vòng tròn có cả hai khuôn mặt chữ và dấu.

Cần phải lấy nghĩa của chữ nòng vòng tròn O dựa theo vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo, dịch lý. Hiện nay chỉ hiểu nghĩa rất giới hạn và suy diễn của chữ nòng vòng tròn O theo duy dương của xã hội phụ quyền cực đoan.

Theo nhận xét của tôi thì chữ nòng vòng tròn O được dùng rộng rãi trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn, hơn ở bất cứ chỗ nào, nền văn hoá nào khác và được viết với một ngữ pháp hết sức chuẩn [Ví dụ như nhìn vào chữ nòng vòng tròn O vỏ thượng thế ở tâm trống ta cảm nhận biết ngay trống đó thuộc nhóm nòng nọc (âm dương) nào trong vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo, dịch; trống là trống biểu của tộc, đại tộc, nhánh, ngành nào của ngành mặt trời nọc thái dương (ứng với mặt trời Viêm Đế-Hùng Vương) của chủng người vũ trụ (ứng với Bách Việt)].

Điểm này cho thấy trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là một bộ sách bằng đồng lưu trữ lại chữ nòng nọc vòng tròn-que vô cùng quí giá của nhân loại.

(xem tiếp Chữ Nòng Hai Vòng Tròn).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: