HÌNH TIÊU BIỂU THÁNG 01, 2016: AULD LANG SYNE và ROBERT BURNS.

(*nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

HÌNH TIÊU BIỂU THÁNG 01, 2016.

AULD LANG SYNE và ROBERT BURNS.

Nguyễn Xuân Quang

 “Auld Lang Syne“.

Ở Hoa Kỳ, dân chúng vào nửa đêm Giao thừa dương lịch thường tham dự hay theo dõi countdown (đếm ngược xuống số 0) ở Quảng Trường Thời Gian Time Square ở New York. Tại Quảng Trường này có năm số người tham dự lên tới gần hai triệu người. Mọi người đếm theo 12 tiếng chuông đồng hồ lúc quả cầu tụt xuống số 0, đánh dấu mức thời gian bước qua năm mới, để rồi hát vang bài hát Auld Lang Syne đón chào Năm Mới.

Quả cầu đang tụt xuống thời điểm 0 ờ Time Square, New York trong đêm giao thừa dương lịch 2016 (nguồn: inquisitr.com).

Bài Auld Lang Syne do Robert Burns cải biên thành thơ năm 1788 từ một bài dân ca cổ truyền của Scotland và phổ thành một điệu hát dân ca cải cách.

Tên bài hát dịch sang tiếng Anh thông dụng là “old long since“(‘đã từ lâu rồi’) hay một cách thành ngữ hơn là “long long ago” (‘lâu, lâu lắm rồi’), “days gone by” (ngày tháng đã trôi qua’) hay “old times” (‘thời xa xưa’). Câu “Auld Lang Syne” đã được dùng trong các bài thơ tương tự của Robert Ayton (1570–1638), Allan Ramsay (1686–1757) và James Watson (1711) cũng như trong các bài dân ca đã có từ trước Robert Burns. Matthew Fitt dùng câu “In the days of auld lang syne” tương đương với câu “Once upon a time’’ (‘Ngày xửa ngày xưa’) trong các truyện cổ tích của ông…

Một vài lời hát được ‘thu thập’ hơn là do Robert Burns sáng tác. Bài hát “Old Long Syne” do James Watson in năm1711 có nhiều câu giống bài thơ sau này của Robert Burns cho thấy chắc chắn chúng phát xuất cùng một bài dân ca cổ. Tuy nhiên mặc dù là cải biên cũng phải công nhận là phần đóng góp của Robert Burns không phải là nhỏ.

Nguyên nghĩa gốc của bài này là diễn tả tình bằng hữu không bao giờ quên giữa hai người bạn vong niên.

Về sau, theo truyền thống Scotland bài hát được dùng để hát giã từ năm cũ với lòng luyến tiếc hay quên đi và đón chào năm mới với lòng hân hoan, mừng vui, hy vọng vào lúc giao thừa Hogmany.

Rồi sau đó được dùng rộng ra nữa để hát tại các đám tang như một lời vĩnh biệt, lễ tốt nghiệp như một lời mừng vui, chào đón thành đạt và dùng để ngỏ lời giã biệt hay chấm dứt vào các dịp khác. Hội Hướng Đạo Thế Giới dùng bài hát này để bế mạc trại họp mặt và các vụ việc khác.

Ở các quốc gia khác cũng được dùng như vậy.

Tại Việt Nam điệu hát này đã đi vào đám trẻ con phản ánh sự ảnh hưởng của phim ảnh Hollywood và thời thực dân Pháp. Con nít Việt Nam thường hát: “Ò e, con ma đánh đu, Tạc zăng nhảy dù Zôrrô bắn súng! chết cha con ma nào đây, thằng Tây hết hồn, thằn lằn cụt đuôi”.

Bài hát này được dùng làm bài hát nền cho cuốn phim La Valse dans l’Ombre/LuânVũ trong Bóng Mờ (Waterloo Bridge), với hai tài từ Robert Taylor và Vivien Leigh.

….

BẢO TÀNG VIỆN NHÀ VĂN EDINBURGH, SCOTLAND.

Khi viếng thăm Edinburgh, thủ đô của Scotland chúng tôi có ghé thăm Bảo Tàng Viện Nhà Văn (The Writers’ Museum), nơi đây lưu trữ nhiều kỷ vật cá nhân, tác phẩm và bản thảo liên hệ tới các nhà thơ được yêu chuộng nhất của Scotland là Robert Burns (1759-1796), Walter Scott và Robert Louis Stevenson.

Bảo Tàng Nhà Văn ở ngôi nhà Lady Stair’s House, tại Lawnmarket, ở Edinburgh.

clip_image002

Bảo Tàng Viện Nhà Văn Edinburgh.

Bảo tàng không cho phép chụp ảnh, tôi nói chuyện với người quản thủ, giới thiệu mình là một bác sĩ thích viết văn thơ và là một người ái mộ thi sĩ Robert Burns muốn chụp một vài tấm hình để có dịp sẽ viết vài hàng về ông . Viên quản thủ chỉ tấm bảng cấm chụp hình và nói, nếu ông muốn thì cứ tự nhiên, coi như là không thấy tấm bảng đó và tôi (xin mở một dầu ngoặc ở đây, một lần ở Bảo Tàng Viện Luang Prabang thấy chiếc trống đồng của đại tộc Đông Sơn lớn nhất Đông Nam Á mà người Lào mới đào tìm được, tôi xin phép được chụp hình để về tìm cách giải đọc nhưng nhất định không được phép dù tôi có đề nghị chịu trả tiền chi phí).

Tiểu sử

clip_image004

Chân dung Robert Burns (ảnh của tác giả).

Robert Burns sinh ở Alloway, South Ayr (Ayrshire), Scotland, trong một gia đình tá điền nghèo túng. Tên họ đúng ra là Burness.

clip_image005

Bản đồ Scotland nằm phía bắc Vương Quốc Anh.

clip_image006

Ayr, nơi sinh của Robert Burns.

Ông là anh lớn trong bẩy anh em.

Làm việc tay chân cực khổ ngay từ nhỏ. Sự lam lũ này còn để lại dấu vết qua cái lưng tôm (vì phải khòm lưng tới trước khi làm ruộng vườn lúc còn quá trẻ) và thể chất yếu đuối về sau này khi lớn lên.

Lúc nhỏ được cha dậy học ở nhà. Lên 12 tuổi mới được tới trường lần đầu. Cậu bé ham đọc sách và mê say thơ của John Milton và William Shakespeare.

Đến năm 15 tuổi ông là người phải đứng ra đảm trách công việc cầy cấy chính ở Mount Oliphant. Lúc này ông bắt đầu làm thơ.

Năm 1784, cha chết, Burns và em trai dời nhà đến trang trại Mossgiel ở Mauchline. Ông yêu Jean Armour (1767-1834), con gái của một kiến trúc sư giàu có trong vùng. Jean Armour có thai với Burns. Burns viết tờ cam kết sẽ cưới cô làm vợ nhưng cha cô đã xé tờ cam kết và nói không bao giờ gả con gái cho một thằng bần cố nông như Burns.

Không thấy có tương lai ở quê hương và chuyện vợ con bị ngăn cấm Burns quyết định sang Jamaica làm việc cho một thương gia.

Nhưng ông thiếu tiền đi đường tới Tây Ấn. Một người quen là Gavin Hamilton đề nghị ông in thơ may ra có được một món tiền. Ông gởi đề nghị in tập thơ Scotch Poems tới John Wilson, một chủ nhà in tại Kilmarnock. May mắn, ông này bằng lòng nhận in.

Vì cha của Jean Armour xé tờ cam kết của Burns hứa cưới con gái ông. Robert Burns đành phải cúi đầu chấp nhận sự quở trách trong ba ngày chủ nhật liên tiếp trước cộng đồng giáo dân ở nhà thờ địa phương để được coi là một chàng trai vẫn còn độc thân trở lại. Nhưng cha của Jean Armour lấy được trát tòa dọa tống cổ ông vào tù nếu không trả một số tiền bồi thường lớn…

Ngay lúc đó John Wilson in tác phẩm Poems, Chiefly in the Scottish Dialect (Thơ, Chủ yếu viết bằng Phương ngữ Scotland), được biết dưới tên là Kilmarnock volume, bán với giá ba xu.

clip_image008

Trang tựa đề tác phẩm Poems, phần lớn bằng phương ngữ Scotland, được biết dưới tên là Kilmarnock volume do John Wilson in (ảnh của tác giả).

Tác phẩm này có những bài thơ nổi tiếng của ông như “The Twa Dogs”, “Address to the Deil”, “Halloween’, “The Cotter’s Saturday Night”, “To a Mouse”, “Epitaph for James Smith” và “To a Mountain Daisy”, phần lớn viết ở trang trại Mossgiel. Tác phẩm thành công ngay và ông nổi tiếng khắp nước.

Burns đình hoãn lại việc đi Jamaica và ngay lúc đó ông nghe tin Jean Armour đẻ con sinh đôi.

Ngay sau đó tác phẩm được tái bản nhiều lần và nới rộng thêm.

Armour và Burns cuối cùng cũng lấy nhau vào năm 1788. Amour sinh cho ông 9 người con nhưng chỉ có 3 người sống sót.

Vinh quang đã đến với Burns nhưng cuộc đời của ông vẫn lao đao vì những vụ kiện tụng do những mối liên hệ bay bướm với nhiều người phụ nữ khác.

Burns bị bệnh tim kinh niên (Rheumatic heart disease) và mất sau khi nhổ răng ngày 21 tháng 7 năm 1796 ở Dumfries, Scotland vào tuổi 37.

clip_image010

Đám ma Robert Burns ở Dumfries ngày 25 tháng 7 năm 1796 (ảnh của tác giả chụp lại).

clip_image011

Mộ Robert Burns ở Dumfries, Scotland (nguồn Wikipedia).

 

clip_image013

Tượng Robert Burns.

Các kỷ vật cá nhân.

 

clip_image015

(ảnh của tác giả).

clip_image017

Các kỷ vật cá nhân (ảnh của tác giả).

 

clip_image019

Bàn viết của Robert Burns dùng cho tới ngày ông qua đời năm 1796 (ảnh của tác giả).

 

clip_image021

 

Hình hộp sọ tái tạo của Robert Burns (ảnh của tác giả).

Vài tác phẩm của Robert Burns.

 

Robert Burns là tác giả của các tập thơ, trường ca và những bài hát dân gian cải biên viết bằng phương ngữ Scotland và tiếng Anh. Bản nhạc nổi tiếng nhất của ông là Auld Lang Syne.

.Poems, Chiefly in the Scottish Dialect (Thơ, Chủ yếu viết bằng Phương ngữ Scotland, 1786).

clip_image023

Poems, Chiefly in the Scottish Dialect, tái bản lần thứ ba (ảnh của tác giả).

.Tam O’ Shanter (1790), truyện thơ.

.The Antiquities of Scotland (Scotland cổ, 1789), truyện thơ

.Select Collection of Original Scottish Airs (Tuyển tập những bài hát cổ Scotland, 1793-1805), lời những bài hát dân gian của Scotland.

clip_image025

Lời bản nhạc There was a Lad của Robert Burns). Lời bài hát nầy có khẩu khí cho biết  tác giả nổi danh sau này (ảnh của tác giả).

.The Works of Robert Burns. Ed. By Thomas Stewart, 1801-1802.

.The Works of Robert Burns. Ed by James Hogg and William Motherwell, 5 vols, 1834-1836.

.The Works of Robert Burns. Ed by Allan Cunningham, 8 vols, 1834.

.The Poems and Songs of Robert Burns. Ed. By James Kinsley, 3 vols, 1968.

Ông trở thành một thi sĩ quốc gia Scotland.

clip_image027

Robert Burns, thi si quốc gia Scotland (ảnh của tác giả).

Burns được thâu nhận là một Huynh Đệ của Freemason National Bard Scotland. Ông được xưng tụng là “Caledonia’s bard Brother Robert Burns” tuyệt vời.

clip_image029

(ảnh của tác giả).

Từ Latin Caledonia là tên người La Mã gọi vùng đất phía Bắc Scotland ngày nay. Hiện nay tên này được dùng để gọi Scotland mang tính cách thi vị, lãng mạn.

 

Ông được coi như là một người khai phóng phong trào Lãng Mạn. Sau khi chết thơ ông trở thành một nguồn cảm hứng cho những nhà sáng lập ra chủ nghĩa giải phóng và xã hội, trở thành một ảnh tượng văn hóa ở Scotland và thế giới, nhất là những nơi có di dân hay liên hệ với Scotland, như ở:

-Canada
Ảnh hưởng tới Alexander McLachlan và một ít hơn tới Robert Service.

‘Gung Haggis Fat Choy’ (‘Cống Haggis Phát Xồi’, ‘Cung Haggis Phát Tài’) là một Tết Dương Lịch lai với Robbie Burns Day được ăn mừng tại Vancover bắt đầu từ năm 1990 cho tới nay.

Haggis là món ăn quốc hồn quốc túy của Scotland, một thứ dồi bọc bằng bao tử gia súc. Các mẩu thịt đầu đầy, dư thừa, nội tạng (ruột, gan, tim, thận), lưỡi cừu, bò, mỡ chài băm nhỏ trộn với lúa mạch, hành, rau thơm, gia vị rồi nhồi vào bao tử cừu hay bò đem luộc chín. Món Haggis này cũng giống món dồi bao tử của thổ dân miền Tây Nam Hoa Kỳ. Khi viếng thăm Grand Canyon, Hoa Kỳ và Scotland tác giả cũng đã nếm qua hai món này (xem Truyện Ngắn Không Tên).

-Hoa Kỳ

Một hai ví dụ điển hình về văn thơ Robert Burns ảnh hưởng ở Hoa Kỳ thấy qua sự chọn lựa tên tác phẩm của nhà văn John Steinbeck. Ông đặt tên tác phẩm xuất bản năm 1937 là ‘Of Mice and Men’, lấy từ một câu trong một đoạn thơ ‘To a Mouse’ của Robert Burns: “The best laid schemes o’ mice an’ men / Gang aft agley.”

Tác giả J.D. Salinger dựa vào bài thơ Comin’ Through the Rye’ của Robert Burns để đặt đề tựa cho tác phẩm ‘The Catcher in the Rye’ (Bắt Trẻ Đồng Xanh).

-Nga

Robert Burns trở thành ‘nhà thơ nhân dân’ của Nga. Vào thời Nga Hoàng, các tác phẩm của Robert Burns được dịch sang tiếng Nga và trở thành nguồn hứng khởi cho quần chúng Nga bị áp bức. Vào thời Soviet, ông được nâng lên thành một nhà thơ khuôn mẫu của nhân dân. Vì là một người chiêm ngưỡng sự bình đẳng, bình quyền vang vọng từ những Cuộc Cách Mạng Mỹ và Pháp mà ông diễn đạt lại trong thơ ông như thấy qua “Birthday Ode for George Washington” hay ‘Is There for Honest Poverty’ (thường được biết qua “A Man’s a Man for a’ that”), Robert Burns được người cộng sản khai thác triệt để dùng hỗ trợ cho chủ thuyết Cộng Sản. Năm1924 bản dịch mới thơ Robert Burns của Samuil Marshak chứng thực cho thấy một sự phổ biến rộng rãi trong dân chúng Nga qua số bán hơn 600.000 cuốn. Nga Xô là nước đầu tiên phát hành tem năm 1956 để vinh danh Robert Burns.


clip_image030

Tem Robert Burns của Liên Bang Xô Viết, phát hành năm 1956 (nguồn Wikipedia).

Ông vẫn còn được ưa chuộng nhiều trong dân chúng ngay cả sau khi Liên Bang Xô Viết sụp đổ.

Các lễ hội, tổ chức tưởng nhớ Robert Burns thấy khắp nơi trên thế giới. Một vài tưởng niệm đáng nói như:

-Đêm Robert Burns

Đêm Robert Burns được coi như là một quốc lễ thứ hai, tổ chức vào dịp sinh nhật của ông ngày 25 tháng 1 với Bữa Ăn Tối Robert Burns thấy khắp thế giới.

Tại Scotland đêm này còn được tổ chức trọng đại hơn cả ngày lễ quốc khánh. Sau lễ nhạc kèn ‘ống-túi’ (bagpipes) đặc thù của Scotland là mục ngâm đọc bài thơ ‘Address to a Haggis’ (‘Tuyên Bố, ‘Hiệu Triệu’, ‘Nói với” Haggis’) rồi đến màn cắt món dồi haggis.

clip_image031

“Great chieftain o’ the puddin-race!”- cắt món haggis trong bữ tiệc Robert Burns (nguồn: Wikipedia).

Sau bữa ăn là những lời xưng tụng. Đây là lúc nâng ly cho “the immortal memory”, là lúc kể lại cuộc đời và tác phẩm của ông.

clip_image033

The Immortal Memory (ảnh của tác giả).

Lễ tiệc chấm dứt bằng bài hát “Auld Lang Syne”.

-Người Scot Vĩ Đại Nhất.

Năm 2009, Đài Truyền Hình Scotland chiếu loạt phim về ông và dân chúng đã bầu chọn ông là “The Greatest Scot” của mọi thời đại.

Robert Burns từ một nông dân, một tay thợ cầy trở thành một thi sĩ vĩ đại nhất của Scotland.

Ông được mệnh danh là một ‘Heaven-Taught Ploughman’ (‘Một Tay Thợ Cầy được Trời Dưỡng Dậy’), một thiên tài.

clip_image035

The Heaven-Taught Ploughman (ảnh của tác giả).

Mặc dầu là một tay thợ cầy ít được tới trường học nhưng ông đích thực là đứa con rạng ngời thiên tài của Scotland: thông minh, hoạt bát, đọc và học hỏi nhiều.

Trong những bài thơ ái quốc của ông có nhiều bài chống lại việc xáp nhập Scotland vào Vương Quốc Anh đã khơi nguồn cho công cuộc đòi lại độc lập cho Scotland mà ngày nay đang sôi sục. Chúng tôi tới thăm Scotland đúng lúc sắp tới ngày trưng cầu dân ý đòi tách rời Scotland ra khỏi Vương Quốc Anh. Cuộc trưng cầu dân ý xẩy ra gần đây với kết quả mấp mé…

Lòng ái quốc của Robert Burns sẽ là ngọn đuốc cháy sáng mãi trong lòng người dân Scotland. Ước gì Việt Nam có một thiên tài ái quốc như Robert Burns. Đừng để Việt Nam  bị sáp nhập vào Trung Quốc.

2 comments

  1. Anh Nguyen · · Reply

    Cám ơn anh Quang, chưa bao giờ thắc mắc về xuất xứ của cái bài ” tò te ” này. 😊

    1. Quang Nguyen · · Reply

      Xin cám ơn.

      Nguyễn Xuân Quang

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: