CHỮ NÒNG NỌC: CHỮ NÒNG VÒNG TRÒN (1): CHỮ NÒNG CHẤM RỖNG (◦).

(*nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE.

CHỮ NÒNG VÒNG TRÒN.

(1)

CHỮ NÒNG CHẤM RỖNG (◦).

Nguyễn Xuân Quang

(*xin xem các bài viết trước về chữ nòng nọc vòng tròn-que để có một khái niệm tổng quát).

.Xin nhắc lại một vài điểm chính:

Chữ nòng nọc vòng tròn-que là do tôi khám phá ra. Nòng nọc hiểu theo Việt ngữ thì Nòng là Vòng (n=v như níu = víu) và Nọc là cọc là Que. Con Nòng Nọc là con có thân hình vòng tròn Nòng và có đuôi hình Nọc que. Chữ nòng nọc vòng tròn-que khác với chữ nòng nọc khoa đẩu thường nghe nói hiện nay có dạng con lăng quăng như chữ Phạn, Thái, Cambodia…. Chữ nòng nọc khoa đẩu là di duệ của chữ nòng nọc vòng tròn-que.

Tôi dùng nhóm từ nòng nọc (có một nghĩa là âm dương) vì nó nguyên thủy mang tính nòng (nường), nọc (nõ) đề huề và có nghĩa bao quát. Từ Hán Việt âm dương có nguồn gốc rất muộn với nghĩa rất giới hạn. Âm dương chỉ là một khuôn mặt nhỏ của nòng nọc (theo giải tự thì Hán Việt âm hiểu theo nghĩa là mặt trời bị che khuất như trời âm u và Hán Việt dương là mặt trời), cả hai đều dựa vào mặt trời. Văn hóa dựa vào mặt trời là văn hóa muộn so với văn hóa nường nõ, nòng nọc. Tôi dùng từ âm dương đi kèm theo sau từ nòng nọc (thường viết là nòng nọc, âm dương) chỉ có mục đích giúp độc giả hiểu rằng nòng nọc có một nghĩa là âm dương trong nhiều nghĩa khác. Ngoài ra nòng nọc là từ thuần Việt, dùng trong Việt Dịch nòng nọc vòng tròn-que còn thấy ghi khắc lại trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Việt dịch nòng nọc có nhiều điểm khác với dịch Hoa Hạ. Dịch Hoa Hạ là dịch que mang tính nọc, dương của dân võ biền du mục theo phụ quyền cực đoan, thống trị. Hào dương có hình que (clip_image002) và hào âm có hình que đứt đoạn (clip_image004). Cả hai hào đều có hình que nên tôi gọi là dịch que. Trong khi Việt dịch nòng nọc vòng tròn-que Đông Sơn thì hào âm viết bằng nòng vòng tròn O (tương đương với hào âm que đứt đoạn của dịch que Hoa Hạ) và (hào dương viết bằng chữ nọc que giống như hào dương của dịch que Hoa Hạ.

Hiển nhiên dịch que Hoa Hạ muộn hơn Việt dịch nòng vòng tròn-nọc que mà sau này dịch nòng nọc được khắc lại trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn và dĩ nhiên còn muộn hơn nữa so với dịch nguyên thủy nòng chấm rỗng (hay mầu đen) và nọc chấm đặc (hay mầu trắng).

Chúng ta có Việt Dịch Đồng Nòng Nọc Đông Sơn, xin hãy viết các quẻ Việt dịch theo chữ nòng nọc vòng tròn-que thay vì viết theo dịch que Hoa Hạ. Các học giả Việt nói là chúng ta có Việt dịch riêng mà cứ viết theo dịch Hoa Hạ thì chẳng khác nào mình tự mâu thuẫn với chính mình.

Để tiện việc gõ chữ, tôi dùng chữ i hoa (I) cho nọc que (hào dương) và chữ o hoa (O) cho nòng O (hào âm).

Ta có bảng đối chiếu sau đây:

clip_image005

Bảng đối chiếu các quẻ ba vạch dịch que Hoa Hạ và các quẻ dịch nòng nọc (âm dương) Việt Nam.

Dịch que Hoa Hạ thường viết theo chiều nằm ngang. Cũng để tiện việc gõ chữ trong dịch nòng nọc vòng tròn-que, tôi viết theo chiều đứng.


clip_image006

Quẻ Li (bên trái) viết theo chiều thẳng đứng của Việt dịch nòng nọc và quẻ Li theo dịch que Hoa Hạ viết theo chiều đứng (bên phài).

(xem Cách Viết Việt Dịch Nòng Nọc Vòng Tròn-Que).

*

*           *

Như đã biết chữ nòng nọc vòng tròn-que có hai chữ cái căn bản là chữ Nòng vòng tròn O và chữ Nọc que I (xem Chữ Nòng Nọc 1: Khái Quát).

Vũ trụ tạo sinh khởi đầu từ hư vô, nên tôi viết chữ Nòng O trước.

Qui Trình Tiến Hóa của Chữ Nòng Trong Vũ Trụ Tạo Sinh.

Chữ nòng nọc vòng tròn-que là chữ dùng diễn đạt vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo, dịch vì thế ta dựa vào cái khung cái sườn đó để nghiên cứu chữ nòng nọc vòng tròn-que.

Từ hư không, vô cực (diễn tả bằng vòng tròn đứt đoạn) tiến tới không gian nguyên tạo nòng chấm rỗng rồi lớn lên thành nòng vòng tròn lớn.

clip_image001

clip_image008

Sự tiến hóa của chữ nòng: từ hư không, vô cực (vòng tròn đứt đoạn) tiến tới không gian nguyên tạo nòng chấm rỗng rồi lớn lên thành nòng vòng tròn lớn trưởng thành.

Như thế chữ nòng có hai dạng tùy theo ở giai đoạn nào của qui trình của Vũ Trụ Tạo Sinh, của qui trình sinh tạo muôn sinh. Ở giai đoạn nguyên tạo, tạo hóa chữ nòng có dạng một chữ nòng tí hon tức một vòng tròn tí hon hay một chấm tròn rỗng () và ở giai đoạn thứ tạo, trưởng thành có dạng một vòng tròn lớn (O).

CHỮ NÒNG CHẤM RỖNG (◦).

Ở dạng nguyên tạo, ở cõi tạo hóa (primitive or cosmic forms) tất cả mọi vật dù là âm hay dương đều khởi đầu bằng hình thái vi thể có hình hạt, hột tròn li li hạt tròn, chm tròn hết sức nhỏ, mắt không nhìn thấy (nguyên tử hay các dạng vi thể nhỏ hơn nguyên tử).

Theo ký tự, chnòng ở dạng nguyên tạo đều được diễn tả ở dạng là vòng tròn tí hon ().

Nòng chấm rỗng sinh tạo, tạo hóa ở cõi tạo hóa tiến hóa theo qui trình vũ trụ tạo sinh tới dạng trưởng thành có hình vòng tròn lớn O. Lúc này ở vào giai đoạn lưỡng cực, lưỡng nghi.

Nòng chấm rỗng là nòng nguyên tạo, nguyên sinh ở cõi Tạo Hóa còn nòng vòng tròn lớn là nòng sinh tạo mang tính trưởng thành ở tầng lưỡng nghi.

Lưu Ý

Về sau này, dạng vòng tròn tí hon nguyên tạo, tạo hóa thường được thay thế bằng vòng tròn lớn trưởng thành đúng ra phải dùng ở tầng lưỡng nghi trở xuống. Vòng tròn lớn dùng theo nghĩa tổng quát cho cả vòng tròn tí hon tạo hóa và vòng tròn lớn. Nói một cách khác vòng tròn lớn dùng theo nghĩa biểu tượng chung cho Nòng, âm O. Ví dụ:

 

clip_image009

Ở hình này hư vô, vô cực, thái cực diễn tả bằng vòng tròn lớn thay vì ở dạng vi thể nguyên thủy.

Tóm lại theo chính thống, theo nguyên tắc

chữ nòng nguyên tạo phải được diễn tả bằng hình nòng chấm rỗng tí hon, thường được dùng ở cõi tạo hóa tức từ hư vô tới thái cực, trứng vũ trụ.

Ví dụ điển hình nhất là Hà Đồ là một dạng dịch nguyên thủy diễn tả vũ trụ tạo sinh ở cõi nguyên sinh, tạo hóa, một thứ dịch Tiên Thiên nguyên thủy được diễn đạt bằng các chữ số có hình chấm tròn dưới dạng chữ nòng chấm rỗng (và chấm đặc) nguyên tạo.

clip_image011

Hà Đồ.

Lưu Ý

Ở đây ví dụ chỉ lấy theo dạng vi thể hạt tròn li ti còn rỗng đặc lại nhìn theo mầu sắc, trắng đen. Nòng chấm rỗng được thay thế bằng chấm mầu đen (không phải chấm nọc đặc). Mầu đen là mầu âm diễn tả các con số chẵn tức số nòng âm. Trong khi các chấm mầu trắng mang dương tính là nọc chấm dương diễn tả các con số lẻ tức số dương nguyên tạo.

Ý Nghĩa Chữ Nòng Chấm Rỗng.

Như đã nói ở trên, nhìn tổng quát ta thấy chữ nòng chấm rỗng mang ý nghĩa của thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh nhưng theo nguyên tắc có khuôn mặt chính ở cõi tạo hóa từ hư vô tới tầng thái cực.

.Hư Vô

Khởi đầu ở thời kỳ hỗn mang, được diễn tả bằng chấm vòng tròn đứt đoạn tí hon chưa định hình clip_image013. Sau đó tiến hóa tới giai đoạn định hình, hư vô là một lỗ trống không tí hon. Ví dụ hư vô thấy trên nhiều vật mang tính thờ phượng thường được diễn tả bằng lỗ tròn, một chấm nòng rỗng tí hon. Từ thời Tân Thạch loại đĩa tròn có lỗ này đã thấy xuất hiện dưới dạng đá thường không có trang trí gì cả. Hình đĩa tròn có lỗ ở tâm sau này Hoa Hạ gọi là bi (pi). Trong nền văn hóa Lương Chử (3400-2250 TDL), ngọc bi đã có mặt.

clip_image014

Ngọc Bi (Bảo Tàng Anh Quốc, London).

Khái niệm về vũ trụ quan của bi có thể đã có từ sớm nhưng tới thời Chiến Quốc và Hán thì thấy ghi lại rất rõ là mang ý nghĩa biểu tượng cho thượng thế, cõi trên, trời (có một khuôn mặt hư vô). Vì thế ngọc bi thường được chôn theo người chết để làm bùa hướng dẫn, hỗ trợ hồn người chết về cõi trên thượng thế, hư vô. Ngọc bi thấy rõ mang nghĩa nòng âm (có nghĩa thế gian là cõi trời) vì thường đi cặp với ngọc ‘cong’ hình trụ ống mang nghĩa biểu tượng cho cõi đất thế gian (hình trụ ống biểu tượngcho Núi Trụ, trục thế giới, cõi giữa đất thế gian).

clip_image016

Ngọc trụ ống (cong) và ngọc đĩa tròn có lỗ (pi) của nước Thục (thường đi với nước Ba gọi là Ba Thục), khai quật được ở Tam Tinh Đồi, Tứ Xuyên Trung Quốc) (ảnh của tác giả).

Lỗ hổng nhỏ ở tâm ngọc bi có một khuôn mặt là hư vô trong vũ trụ quan muộn về sau.

Chúng tôi may mắn có dịp được nhìn tận mắt một trong những cây rìu Việt cổ nhất là cây rìu Việt cuối thời nhà Hạ vào thế kỷ 16-18 Trước Dương Lịch, hiện đang được trưng bầy tại Viện Bảo Tàng Thượng Hải, Trung quốc. Hiển nhiên đây không phải là chiếc rìu dùng làm dụng cụ dùng hàng ngày, mà đây là một chiếc rìu thờ.

clip_image017

Rìu Việt (Viện Bảo Tàng Thượng Hải, Trung Quốc.

Ở tâm chiếc rìu Việt này có một lỗ hổng tròn diễn tả hư vô. Hư vô là một lỗ trống không (diễn tả bằng vòng tròn rỗng). Vòng tròn bao quanh hư vô là hư không, không gian. Tiếp tới là vành có những đốm sáng dát bằng ngọc thạch là vành sáng diễn tả mặt trời. Như thế, tâm rìu diễn tả cõi trên, cõi đại vũ trụ, gồm hư vô, thái cực (không gian và mặt trời nguyên tạo nhìn dưới dạng nhất thể) và lưỡng nghi (không gian và mặt trời nhìn dưới dạng phân cực). Chiếc rìu hình vuông diễn tả cõi Đất. Ta thấy rõ, ở cõi thế gian, tiểu vũ trụ rìu diễn tả trời tròn đất vuông (bánh dầy bánh chưng). Rõ ràng Rìu Việt này diễn tả vũ trụ thuyết.

Đàn tế lễ vũ trụ, trời đất ở Thiên Miếu Bắc Kinh có hình núi vũ trụ (tam thế) diễn tả theo vòng tròn trong có trục thế giới.

clip_image018

Đàn tế vũ trụ, trời đất ở Thiên Miếu Bắc Kinh.

Vành trên cùng diễn tả thượng thế gồm hư vô, vô cực, thái cực, lưỡng nghi. Tại tâm thượng thế có một đĩa tròn cẩm thạch trắng diễn tả chóp đỉnh của trục thế giới, trục tam thế. Đây chính là chỗ các vua Trung Quốc ngày trước đứng để dâng các lễ vật tới tam thế và các lời cầu xin, khấn nguyện cho quốc thái dân an. Chóp đỉnh trục này là tâm của thượng thế, tâm vũ trụ có một khuôn mặt là hư vô.

.

clip_image019

Tác giả đứng trên đĩa tròn diễn tả thiết diện trục thế giới (và cũng mang hình ảnh tâm vũ trụ, Thượng Thế), trên đỉnh trục thế giới thông thương tam thế.

Đĩa tròn nhỏ là thiết diện của đỉnh trục thế giới hình trụ ống thông thương tam thế này nhìn theo diện hư vô, vô cực có một khuôn mặt là vòng tròn nhỏ rỗng viền ngoài đĩa tròn.

Theo nguyên tắc hư vô trung tính. Nhưng theo tiến hóa thì hư vô đã hàm chứa tính sinh. Mọi thứ đều từ hư vô sinh ra và trở về lại hư vô. Hư vô là điểm trục (con số zero) của hiện hữu và vô hữu.

Theo duy âm, hư vô trung tính tiến hóa tới nòng âm trước, không gian trước. Nhìn dưới diện truyền thuyết cõi người thì nòng vòng tròn âm biểu tượng cho Người Nữ Nguyên Thể, Mẹ Tổ Loài Người. Nòng là Nang, Nàng là Nường (có một nghĩa là bộ phận sinh dục nữ), Ná, Nạ (mẹ).

Theo duy dương (thường ở tôn giáo hay xã hội phụ quyền cực đoan) hư vô chuyển qua vòng tròn dương trước, mặt trời trước. Bằng chứng là thấy qua vòng tròn cũng là số 1 mà số 1 có một khuôn mặt biểu tượng cho mặt trời [sol, sole, solo (Anh ngữ), solamente (Tây Ban Nha ngữ), một, một mình… ruột thịt với sol (Tây Ban Nha ngữ), soleil (Pháp ngữ), sun (Anh ngữ), sunn (Đức ngữ), Son (Việt ngữ) có nghĩa là mặt trời]. Theo dương tính cực đoan thì hư vô chuyển qua nọc que, mặt trời trước (nọc que là số 1, là mặt trời).

Ở ngành nòng, âm hư vô có tiềm năng âm trội, sẵn sàng trở thành nòng không gian nguyên tạo trước. Theo duy dương thì có tiềm năng dương trội sẵn sàng trở thành mặt trời nòng đĩa tròn dương nguyên tạo trước hay nọc mặt trời trước.

Như thế nòng chấm rỗng có một khuôn mặt hư vô ở cõi tạo hóa nguyên tạo đã có mầm sinh tạo và thường mang tính âm trội chuyển qua không gian âm trước.

.Thái Cực

Theo duy âm, hư vô trung tính có hình chấm vòng tròng rỗng tí hon đứt đoạn đoạn, định hình thành chấm vòng tròn rỗng tí hon rồi âm hóa thành không gian trước diễn tả bằng nòng chấm rỗng. Lúc này không gian có một khuôn mặt là thái âm, nước rồi mầm dương xuất hiện sau. Thái cực lúc này là một trứng nước. Việt ngữ trứng nước có nghĩa là còn ở trong tình trạng mầm mống nguyên sinh như ‘phá vỡ âm mưu từ trong trứng nước’.

Theo duy dương, hư vô dương hóa thành mầm dương là mặt trời nguyên tạo diễn tả bằng nòng chấm vòng tròn (rỗng ở ngành âm và đặc ở ngành dương) rồi mầm âm không gian xuất hiện sau.

Theo duy âm (ở đây đang nói về chữ nòng) thì thái cực lúc này mng khuôn mặt nòng vòng trònchấm rỗng.

clip_image021

Đĩa thái cực, Trứng Nước Vũ Trụ dạng nguyên tạo ngành nòng âm.

Ngọc bi nói ở trên nhìn dưới dạng nhất thể cũng có một khuôn mặt thái cực.

Thần Ra (Re) của Ai Cập cổ là vị thần lưỡng tính phái nên có ba khuôn mặt:

clip_image023

.Khuôn mặt thứ nhất lưỡng thể, lưỡng tính phái ở ngành âm ở đây diễn tả bằng đĩa thái cực vòng tròn nòng-chấm rỗng (ở ngành dương là vòng tròn-nọc chấm).

Ta thấy rõ thần mặt trời tạo hóa lưỡng tính phái sinh ra hai loại mặt trời nòng nọc (âm dương):

.Thần mặt trời ngành nọc âm Re.

Khuôn mặt thứ hai ngành nòng âm là mặt trời đĩa tròn không có tia sáng âm thái âm. Ở đây phụ đề bằng con rắn hổ mang mang âm tính, nước thái âm, chỉ cho biết là mặt trời âm thái âm.

-Thần mặt trời ngành nọc dương Ra.

Khuôn mặt thứ ba ở ngành dương là mặt trời dương thái dương. Ở đây phụ đề bằng ba tia sáng nọc que có nghĩa là dương I thái dương II tức Càn III. Linh tự này cũng có nghĩa là ánh sáng, nắng.

Như thế nòng chấm rỗng có một khuôn mặt thái cực, Trứng Vũ Trụ ở phía nòng âm.

Tóm lược, nòng chấm rỗng mang tất cả ý nghĩa của thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh ở dạng nguyên tạo, theo chính thống, thường dùng diễn tả nòng âm ở cõi tạo hóa từ hư vô tới thái cực.

Nòng chấm rỗng có thể là một chữ nòng O thu gọn lại mang tính nguyên tạo, tạo hóa.

NÒNG CHẤM RỖNG VÀ NÒNG CHẤM ĐEN.

Tùy theo độ to ngang, độ dầy, độ cường điệu, độ tối hay sáng, chữ nòng chấm rỗng nguyên tạo (hay chữ nòng vòng tròn lớn) mang âm dương tính nhiều ít, nghiêng về ngành nòng nước hay nọc lửa.

clip_image024

Chữ nòng chấm rỗng hay chữ nòng vòng tròn lớn có tính nòng nọc (âm dương) khác nhau.

Vòng tròn mỏng, mảnh khảnh, sáng, nóng bỏng diễn tả thái dương, lửa (3); vòng tròn mỏng vừa phải, nóng diễn tả thiếu dương, đất dương; vòng tròn khá dầy, ấm diễn tả thiếu âm, gió; vòng tròn rất dầy, đen đặc, lạnh (2) diễn tả thái âm, nước; vòng tròn không dầy không mỏng là vòng tròn nòng nọc, âm dương đề huề (1). Ví dụ trên một bình gốm Moche, Peru có hình con thú Mặt Trăng có con mắt có vòng tròn rất dầy mang âm tính (mặt trăng thuộc về đêm mang âm tính).

clip_image026

Bình Recuay (Enrico Poli collection) có hình Thú Mặt Trăng (Lunar Animal).

Vòng tròn to nét đen đậm này có thể coi là do hai nòng OO, thái âm hay ba nòng OOO, Khôn  chập lại.

(xem thêm ở dưới phần trống đồng).

Đôi khi tiến tới điểm cực âm (âm cực đại), độ dầy của vòng tròn nòng chấm rỗng hay chữ vòng tròn nòng to dầy lên cho tới khi biến thành một chấm hay vòng tròn mầu đen. Mầu đen là mầu âm, thái âm (nên nhớ mầu đen chứ không phải là đặc).

Cần phải phân biệt nòng chấm nhìn theo mầu sắc đen trắng với nòng chấm nhìn theo đặc rỗng. Rỗng là hổng biến âm với Anh ngữ hollow (có hol- = hổng). Hổng liên hệ với lỗ (lỗ hổng). Còn đặc là đực, tre đặc là tre đực. Mầu đen là mầu âm, thái âm. Nước thái âm có mầu đen. Mầu trắng có một khuôn mặt là mầu dương, thái dương. Ánh sáng gọi là ánh sáng trắng có quang phổ bẩy mầu. Không khí là Khôn dương, là thái dương II của âm O tức Đoài IIO vũ trụ khí gió diễn tả bằng chấm có mầu trong, trắng.

Đen là mầu âm, trắng là mầu dương thấy qua:

-Hà Đồ ở trên, các số chẵn tức số âm có hình chấm tròn đen trong khi các số lẻ là số dương có hình chấm tròn trắng.

-Đĩa thái cực

Ta cũng thấy trong đĩa thái cực của Đạo giáo có phần nửa bên trắng dương có chấm tròn đen mang âm tính với nghĩa là trong dương có âm.

clip_image028

Đĩa thái cực ở nửa bên trắng có chữ nòng chấm mầu đen mang tính âm thay vì nòng chấm rỗng.

Phần nửa bên đen âm có chấm tròn trắng mang dương tính với nghĩa trong âm có dương.

-Bộ thủy của Hán tự.

clip_image030

Bộ thủy.

Bộ thủy, một dạng biến thể viết nhanh của chữ nòng ba chấm đen, ba nòng OOO tức quẻ Khôn có một khuôn mặt là nước thái âm OO từ không gian O, cõi tạo hóa.

-Hán ngữ niào (Hán Việt niệu): nước tiểu.

Trên giáp cốt, niào diễn tả bằng người đứng đái diễn tả bằng ba gạch nhỏ tức ba giọt nước tiểu diễn tả ba nòng âm OOO, Khôn có một khuôn mặt nước thái âm OO không gian O. Ba chấm nước này cùng mang ý nghĩa như bộ thủy ở trên.

clip_image032

Chữ niào trên giáp cốt văn và kim văn.

Ở kim văn diễn tả bằng hai giọt nước tiểu tức OO, nước thái âm.

Lưu ý ở đây hai, ba giọt nước ở thể đang rơi tức chuyển động nên có hình gạch nhỏ thay vì hình chấm tròn.

Anh ngữ đi tiểu cũng có nghĩa là ‘to make water’.

Lưu Ý

Ở bộ thủy và ở từ niào (niệu) ở trên có hình có ba giọt nước chấm đen cũng có một khuôn mặt tương dương với dạng trưởng thành là ba nòng âm OOO có một nghĩa là nước thái âm OO, âm O.

Cần phải lưu tâm phân biệt hai trường hợp này.

DẤU NÒNG CHẤM RỖNG (◦)

Trong hệ thống chữ viết nòng nọc có các dấu (accent) nòng và nọc. Dấu là một ký biểu (logogram) dùng như một xác định ký, chỉ định tố (determinative, indicator) thêm vào chỉ cho biết giống tính theo nòng nọc, âm dương và nghĩa hay phân biệt hai hay nhiều nghĩa có thể có.

Chữ nòng chấm rỗng nguyên tạo có một ứng dụng dùng làm dấu với tất cả ý nghĩa của nòng, âm. Ngoài ra còn có thêm một khuôn mặt mang tính nguyên tạo, nguyên sinh, tạo hóa, vũ trụ.

Trong phạm vi thu hẹp lại chỉ còn hiểu theo nghĩa cái đực thì dấu nòng chấm rỗng này tương đương với la trong Pháp ngữ (trong khi nọc chấm đặc tương ứng với le) (xem Dấu Nọc Chấm Đặc).

(xem thêm Dấu Của Chữ Viết Nòng Nọc Vòng Tròn-Que).

(còn nữa).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: