DỊCH ĐỒNG ĐÔNG SƠN (13) TỔNG KẾT VỀ DỊCH ĐỒNG ĐÔNG SƠN.

(*nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

DỊCH ĐỒNG ĐÔNG SƠN

(13 và hết)

TỔNG KẾT VỀ DỊCH ĐỒNG ĐÔNG SƠN.

Nguyễn Xuân Quang

Chúng ta đã thấy rất rõ:

-Trống đồng của đại tộc Đông Sơn là trống nòng nọc (âm dương), nguyên lý căn bản của dịch.

-Trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn là Bộ Sử Đồng của Bách Việt có cốt lõi là nòng nọc (âm dương), chim-rắn, Tiên Rồng, nghĩa là cũng có cốt lõi là dịch.

-Trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn diễn tả dịch hay một khía cạnh của dịch như đã thấy qua 12 bài viết về Việt Dịch Đồng Đông Sơn vừa qua.

-Trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn diễn tả Hà Đồ, một thứ dịch nguyên thủy.

-Trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn có một khuôn mặt là mandala diễn tả vũ trụ tạo sinh, dịch.

…..

Như vậy hiển nhiên như dưới ánh sáng mặt trời, trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn diễn tả dịch. Trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn là một bộ dịch bằng đồng.

Mỗi trống diễn tả một thứ dịch hay một khuôn mặt của dịch tùy theo tính nòng nọc (âm dương) của trống diển tả một góc cạnh nào đó của thuyết vũ trụ tạo sinh.

Ta đã thấy các loại dịch đồng qua bốn nhóm trống chính ứng với tứ tượng là:

1. Nhóm trống thái dương (Càn) có mặt trời có nọc tia sáng Tốn:

Nhóm trống

Nhóm trống thái dương với thái là đại. Thái dương có chủ thể là đại vũ trụ, tạo hóa (lưỡng hợp thái dương-thái âm là lưỡng hợp đại vũ trụ, tạo hóa). Những trống thế gian của nhóm này có khuôn mặt đội lốt tạo hóa, đại vũ trụ.

Nhóm này gồm:

-Trống vũ trụ có mặt trời vũ trụ có 6 nọc tia sáng Tốn tầng 1, có những khuôn mặt chính là Càn 7 và Li 5 thấy qua thứ tự 5-6-7 và Tốn cũng hôn phối với Chấn và Đoài. Những khuôn mặt chính này mang tính tạo hóa, vũ trụ.

-Trống thế gian có mặt trời thế gian có 14 nọc tia sáng Tốn tầng 2, có những khuôn mặt chính là Càn 15 và Li 13 thấy qua thứ tự 13-14-15 và Tốn cũng hôn phối với Chấn và Đoài. Những khuôn mặt này mang tính thế gian ở vùng đất dương đội lốt tạo hóa, đại vũ trụ.

Ngoài ra hiếm thấy hơn, trống có mặt trời thế gian có 22 nọc tia sáng Tốn tầng 3, cũng có những khuôn mặt Càn, Li thấy qua 21-22-23 và Cấn, Đoài mang khuôn mặt thế gian đất âm hay vùng nước.

Vì là nhóm trống thái dương, theo chính thống khuôn mặt Càn mang tính chủ, tuy nhiên ở các trống thế gian Li có thể đội lốt Càn mang tính chủ.

Nhóm trống thái dương này gồm hai nhánh:

a- Nhánh nọc dương thái dương.

Nhánh nọc dương thái dương có đặc tính là có sự hiện diện của hai vành nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) có một nghĩa là thái dương ở ngoài biên trống. Như đã biết:

.Trống Lại Thương

Trống này là trống thái dương vũ trụ có mặt trời 6 nọc tia sáng thuộc nhánh nọc dương thái dương diễn tả dịch Tiên Thiên Lại Thương Càn một cách khái quát.

Trống Lại Thương thuộc nhóm trống thái dương có mặt trời có nọc tia sáng Tốn (6, 14, 22) thuộc nhánh nọc dương thái dương như trống Ngọc Lũ I, Sông Đà, Cồ Loa I, Miếu Môn I, Phú Xuyên. Nhóm trống thái dương có những khuôn mặt chính tương đồng bản thể lửa là Càn, Li và hôn phối là Đoài, Chấn. Ở đây trống Lại Thương diễn tả dịch của khuôn mặt Càn, nọc vũ trụ (vì là trống vũ trụ).

.Trống Ngọc Lũ I:

Trống Ngọc Lũ I thuộc nhóm trống thái dương thế gian có mặt trời 14 nọc tia sáng Tốn-Càn thuộc nhánh nọc dương thái dương. Li đội lốt Càn mang tính chủ vì là trống thế gian nên diễn tả dịch các dịch Hậu Thiên của cả chủng Người Vũ Trụ qua hình trang phục đầu hình bầu nậm nòng nọc (âm dương) của nhóm 7 người nhẩy múa ứng với chủng Người Vũ Trụ Bách Việt; dịch Tiên Thiên của ngành mặt trời dương thái dương ứng với Ngành Người Việt Mặt Trời Thái Dương Viêm Việt, Viêm Đế; dịch Tiên Thiên của nhánh Càn-Li, dịch Tiên Thiên của đại tộc Càn, Li… và những dịch Tiên Thiên tương ứng…

.Trống Sông Đà

Trống Sông Đà thuộc nhóm trống thái dương có mặt trời 14 nọc tia sáng thuộc nhánh nọc dương thái dương diễn tả các loại dịch của khuôn mặt Đoài-Chấn thế gian.

.Trống Miếu Môn I

Trống Miếu Môn I thuộc nhóm trống thái dương có mặt trời 14 nọc tia sáng thuộc nhánh nọc dương thái dương diễn tả các loại dịch của khuôn mặt Chấn thế gian…

b-Nhánh nọc âm thái dương.

Nhánh nọc âm thái dương có đặc tính là có sự hiện diện của hai vành đường rầy hay thanh thang (thường gọi lầm là răng lược) có một nghĩa là nọc âm thái dương ở ngoài biên trống.

.Trống Cổ Loa I.

Trống Cổ Loa I thuộc nhóm trống thái dương có mặt trời 14 nọc tia sáng, nhánh nọc âm thái dương diễn tả các loại dịch của nhóm.

Tóm lại nhóm trống thái dương có mặt trời 6, 14 (và hầu như không có trống có mặt trời 22 nọc tia sáng). Trống thường thấy là trống thế gian, tiểu vũ trụ. Nhiều khi đội lốt đại vũ trụ diễn tả những loại dịch chính của đại tộc Càn, Li đội lốt Càn, Đoài đội lốt Chấn của hai nhánh nọc dương thái dương và nọc âm thái dương.

2. Nhóm trống thái âm (Khôn) có mặt trời có nọc tia sáng Khôn.

Nhóm trống

Nhóm thái âm với thái là đại. Thái âm có chủ thể là đại vũ trụ, tạo hóa (lưỡng hợp thái âm-thái dương

là lưỡng hợp đại vũ trụ, tạo hóa). Một số trống thế gian của nhóm này có khuôn mặt đội lốt tạo hóa, đại vũ trụ.

Nhóm này gồm:

-Trống vũ trụ có mặt trời vũ trụ có 8 nọc tia sáng Khôn Tốn tầng 2 [Khôn 8 ứng xử như Khôn 0 (zero) tầng 1], có những khuôn mặt chính là Chấn 9 và Càn 7 thấy qua thứ tự 7-8-9 và Khôn cũng hôn phối với Càn và Đoài. Những khuôn mặt này mang tính tạo hóa, vũ trụ.

-Trống thế gian có mặt trời thế gian có 8 nọc tia sáng Khôn tầng 2 với khuôn mặt 8 thế gian đích thực, có những khuôn mặt chính là Chấn và Càn như trên nhưng mang tính thế gian. Những khuôn mặt này mang tính thế gian vùng đất dương đội lốt tạo hóa, đại vũ trụ.

-Trống có mặt trời thế gian có 16 Khôn nọc tia sáng Tốn tầng 3, cũng có những khuôn mặt Chấn 17, Càn 15

thấy qua thứ tự 15-16-17. Chấn mang khuôn mặt thế gian đất âm hay vùng nước.

Vì là nhóm trống thái âm, theo chính thống khuôn mặt Chấn mang tính chủ, tuy nhiên ở các trống thế gian, Đoài cũng có thể đội lốt Chấn mang tính chủ.

Nhóm trống thái âm này gồm hai nhánh:

a- Nhánh nọc dương thái dương.

Nhánh nọc dương thái dương có đặc tính là có sự hiện diện của hai vành nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) có một nghĩa là thái dương ở ngoài biên trống. Như đã biết:

.Trống Đông Sơn IV.

Trống Đông Sơn IV là trống vũ trụ thuộc nhóm trống thái âm có mặt trời 8 nọc tia sáng với số 8 Khôn ứng xử như Khôn 0, diễn tả một loại dịch Tiên Thiên (diễn đạt một cách khái quát) của đại tộc Càn nhánh nọc dương thái dương. Trống này diễn tả khuôn mặt Càn của nhóm trống thái âm này.

.Trống Hoàng Hạ.

Trống thuộc nhóm trống thái âm thế gian có mặt trời 16 nọc tia sáng Khôn-Chấn thuộc nhánh nọc dương thái dương, diễn tả các dịch Hậu Thiên của Chấn-Đoài với Đoài mang tính chủ. Đoài đội lốt Chấn vũ trụ mang tính chủ vì là trống thế gian.

b-Nhánh nọc âm thái dương:

.Trống vũ trụ

Trống Hà Nội III.

Trống này giống trống Đông Sơn IV có mặt trời Khôn 8 thế gian (ở đây ứng xử như Khôn 0 tạo hóa) chỉ khác hai vành ngoại biên là hai vành thanh thang cho biết thuộc nhánh nọc âm thái dương. Trống diễn tả một loại dịch Tiên Thiên của đại tộc Càn nhánh nọc âm thái dương.

.Trống thế gian

Trống Quảng Xương.

Trống Quảng Xương có mặt trời 8 nọc tia sáng cùng nhóm trống Khôn với trống Hoàng Hạ có 16 nọc tia sáng. Nhưng trống Quảng Xương có mặt trời 8 nọc tia sáng mang dương tính hơn trống Hoàng Hạ có mặt trời16 nọc tia sáng nên trống Quảng Xương có khuôn mặt Đoài mang tính chủ, trong khi trống Hoàng Hạ có khuôn mặt Chấn mang tính chủ. Khuôn mặt Chấn âm này thấy rất rõ qua vành sóng cuộn kép ở trống Hoàng Hạ mà không có ở trống Quảng Xương. Như thế trống Hoàng Hạ và trống Quảng Xương diễn tả hai khuôn mặt chính Chấn (Khôn âm) và Đoài (Khôn dương) của nhóm trống có mặt trời là số Khôn (16, 8). Ngoài ra trống Quảng Xương thuộc nhóm nọc âm thái dương thấy qua hai vành nấc thang ở biên trống trong khi trống Hoàng Hạ thuộc nhóm nọc dương thái dương thấy qua hai vành nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) ở biên trống.

Trống Quảng Xương diễn tả Đoài sinh tạo thế gian mang tính chủ ứng với Bọc Trứng Thế Gian Đoài Tổ 100 Lang Hùng hay Hùng Thế Gian đội lốt Bọc Trứng Vũ Trụ tạo Hóa, Tổ Hùng Tạo Hóa Viêm Đế-Thần Nông nhất thể nên ta có hai dịch chính là dịch Tiên Thiên Quảng Xương Đoài Sinh Tạo Nhất Thể và dịch Hậu Thiên Quảng Xương Đoài sinh tạo thế gian lưỡng hợp. Nhìn dưới diện sử truyền thuyết Việt, trống diễn tả dịch Tiên Thiên Quảng Xương Đoài Tổ Hùng Thế Gian.

Tóm lại nhóm trống thái âm có mặt trời 8, 16 nọc tia sáng có khuôn mặt chính là đại vũ trụ, tạo hóa hay thế gian, tiểu vũ trụ đội lốt đại vũ trụ diễn tả những loại dịch chính của đại tộc Chấn, Càn, Đoài đội lốt Chấn và Li đội lốt Càn của hai nhánh nọc dương thái dương và nọc âm thái dương.

3. Nhóm trống thiếu dương (Li) có mặt trời có nọc tia sáng Cấn.

.Nhóm trống

Thiếu là tiểu. Thiếu dương có chủ thể là tiểu vũ trụ, thế gian (lưỡng hợp thiếu dương, thiếu âm là lưỡng hợp tiểu vũ trụ cõi thế gian). Vì vậy nhóm trống thiếu dương (4, 12, 20) trong trống thế gian có mặt trời 12 nọc tia sáng mang tính chủ, đích thực còn nhóm trống vũ trụ có mặt vũ trụ có 4 nọc tia sáng Cấn tầng 1 gần như không có. Nếu có thì cũng diễn trả cõi sinh tạo cõi thế gian, tiểu vũ trụ mà thôi (không diễn tả sáng thế đại vũ trụ). Vì vậy tôi chưa gặp một trống nào có mặt trời 4 nọc tia sáng trong mớ tài liều các trống thường tìm thấy ở Việt Nam.

Trống thế gian có mặt trời thế gian có nọc tia sáng 12 Cấn tầng 2, có những khuôn mặt chính là Li 13 Đoài 11 thấy qua thứ tự 11-12-13 và Cấn 12 cũng hôn phối với Chấn và Đoài. Những khuôn mặt này mang tính thế gian vùng đất dương.

Không thấy trống có mặt trời thế gian có 20 nọc tia sáng Tốn tầng 3 với khuôn mặt chính là Li 21 và Đoài 19 thấy qua thứ tự 19-20-21 và Cấn hôn phối với Đoài và Chấn. Trống này mang khuôn mặt thế gian đất âm hay vùng nước. Nếu có thì cũng rất hiếm và là trống rất muộn hay trống rỏm.

V ì là nhóm trống thiếu, theo chính thống khuôn mặt thiếu dương Li mang tính chủ, tuy nhiên ở các trống thế gian Cấn có thể hôn phối với Chấn và Đoài, hai khuôn mặt này cũng có khi mang tính trội.

Như thế nhóm trống thiếu dương có mặt trời 12 nọc tia sáng có những trống diễn tả dịch của đại tộc Li, Chấn và Đoài với khuôn mặt thế gian mang tính chủ.

Nhóm này cũng gồm hai nhánh:

-Nhánh nọc dương thái dương:

Nhóm trống mặt trời 12 nọc tia sáng có hai vành nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) có một nghĩa là nọc dương thái dương ở biên trống.

Ví dụ trống Vienna Khai Hóa.

Trống đồng Vienna Khai Hóa thuộc nhóm trống nọc thiếu dương có mặt trời 12 nọc tia sáng có những khuôn mặt chính là Li, Đoài, Chấn. Ở ngoài biên trống có hai vành nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) có nghĩa là nọc thái dương sinh động nên thuộc nhóm nọc dương thiếu dương ngành nọc thái dương. Hai vành ngoài biên kẹp ở giữa vành gồm 4 đoạn sóng vuông góc Chấn xen kẽ với 4 đoạn hình thoi kèm theo vòng tròn chấm giữa Đoài. Ba vành này cho biết trống có khuôn mặt Đoài-Chấn thái dương tương giao với nhau nên trống có những dịch Hậu Thiên, ít nhất là của cả nhánh liên hợp Đoài-Chấn và của từng Đại Tộc Đoài và Chấn.

Trống này diễn tả khuôn mặt chính là Đoài vì thuộc nhánh cọc dương thái dương.

-Nhánh nọc âm thái dương:

Nhóm trống mặt trời12 nọc tia sáng có hai vành nấc thang ở ngoài biên.

Ví dụ:

a. Trống Hữu Chung khác với trống Khai Hóa (Vienna) cũng có mặt trời 12 nọc tia sáng nhưng thuộc nhánh nọc âm thái dương vì ở biên trống có hai vành thanh thang có một nghĩa là nọc âm thái dương.

Trống diễn tả dịch của khuôn mặt Chấn mang tính chủ của nhóm Chấn Đoài nọc âm thái dương.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt đây là trống biểu của Lạc-Việt Lạc Long Quân Sấm mưa mang tính chủ thuộc họ mặt trời Hồng Bàng ngành Thần Nông thái dương.

b. Trống Phú Phương II giống như trống Hữu Chung.

c. Trống Hà Giang I diễn tả dịch của đại tộc Chấn duy nhất.

Tóm lại nhóm trống thiếu dương có mặt trời 12 nọc tia sáng có khuôn mặt chính là tiểu vũ trụ, thế gian có những loại dịch chính của đại tộc Li, Chấn, Đoài của hai nhánh nọc dương thái dương và nọc âm thái dương.

4. Nhóm trống thiếu âm (Đoài) có mặt trời có nọc tia sáng Khảm.

Nhóm trống

Tương tự như nhóm thiếu dương, thiếu là tiểu. Thiếu âm có chủ thể là tiểu vũ trụ, thế gian (lưỡng hợp thiếu âm-thiếu dương là lưỡng hợp tiểu vũ trụ cõi thế gian). Vì vậy nhóm trống thiếu âm (Khảm 2, 10, 18) có khuôn mặt thế gian mặt trời 10 nọc tia sáng mang tính chủ, đích thực còn nhóm trống vũ trụ có mặt trời vũ trụ có 2 nọc tia sáng Cấn tầng 1 không có và nhóm có mặt trời 18 nọc tia sáng rất hiếm thấy.

Trống thế gian có mặt trời thế gian có nọc tia sáng 10 Khảm tầng 2, có những khuôn mặt chính là Đoài 11, Chấn 9 thấy qua thứ tự 9-10-11 và Khảm cũng hôn phối với Li. Những khuôn mặt này mang tính thế gian vùng đất dương.

Không thấy nhiều trống có mặt trời thế gian có 18 nọc tia sáng Khảm tầng 3. Trống này mang khuôn mặt thế gian đất âm hay vùng nước. Nếu có thì cũng rất hiếm và là trống rất muộn hay trống rỏm.

Vì là nhóm trống thiếu âm, theo chính thống khuôn mặt Đoài mang tính chủ, tuy nhiên ở các trống thế gian, Khảm có thể hôn phối với Li nên khuôn mặt Li cũng có khi mang tính trội.

Như thế nhóm trống thiếu âm có mặt trời 10 nọc tia sáng có những trống diễn tả các loại dịch chính của đại tộc

Đoài, Li thế gian vùng đất dương.

Nhóm này cũng gồm hai nhánh:

-Nhánh nọc dương thái dương:

Nhóm trống mặt trời 10 nọc tia sáng có hai vành nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) có một nghĩa là nọc dương thái dương ở biên trống.

Ví dụ: tôi chưa tìm thấy một trống nào thuộc nhóm này diễn tả dịch trọn vẹn. Nếu có thì cũng không chính thống hay là trống rỏm vì theo nguyên tắc nhóm thiếu âm thường thuộc nhánh mang tính âm nghĩa là chính yếu thuộc nhánh nọc âm thái dương.

-Nhánh nọc âm thái dương:

Nhóm trống mặt trời 10 nọc tia sáng có hai vành nấc thang ở ngoài biên.

Ví dụ: trống Phù Lưu.

Trống này thuộc nhóm trống thiếu âm có mặt trời 10 nọc tia sáng diễn tả khuôn mặt chính Đoài.

Khuôn mặt Đoài của trống mang tính chủ nên chỉ có một dịch Hậu Thiên Đoài Phù Lưu.

Tóm lại nhóm trống thiếu âm có mặt trời 10 nọc tia sáng có khuôn mặt chính là tiểu vũ trụ, thế gian có những loại dịch chính của đại tộc Đoài, Li, Chấn, của hai nhánh nọc âm thái dương (chính) và nọc dương thái dương (phụ).

Điểm này giải thích tạo sao trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn có mặt trời có số tia sáng khác nhau.

Những trống cổ chính thống thường diễn tả trọn vũ trụ tạo sinh diễn tả trọn vẹn dịch Tiên thiên bát quái. Những trống muộn diễn tả Hậu Thiên bát quái. Những trống muộn hơn như trống Vienna, Quảng Xương thường diễn tả một khía cạnh dịch của đại tộc, tộc. Những trống rất muộn về sau có khi chỉ diễn tả sự hôn phối nòng nọc (âm dương), nguyên lý căn bản của dịch lý, diễn tả dịch một cách tổng quát.

.Việt dịch đồng Đông Sơn diễn tả bằng hình là bộ dịch đồng bằng hình duy nhất của nhân loại.

.Việt Dịch Đồng Đông Sơn bằng hình có một khuôn mặt dựa trên con số (theo số chim, thú, người, vật cùng loại khác nhau ở mỗi trống), mang nghĩa nhị nguyên mang tính toán học, khoa học, minh bạch, chính xác như hai năm là mười, không suy đoán, không triết lý vụn, không lý sự cùn… Trong khi đó dịch Hoa Hạ là dịch nghiêng nhiều về bói toán, y lý, phong thủy dựa theo suy diễn mông lung, dễ bị ‘mắc dịch’ vì lý số, bị trúng gió, trúng mưa vì ‘phong thủy’…. Nói một cách khác dịch Hoa Hạ là một thứ dịch duy tục, giới lãnh đạo Hoa Hạ dùng dịch này để cai trị dân, mị dân.

.Việt Dịch Đồng Đông Sơn xác thực Việt Nam có Việt dịch. Cả thế giới hiện nay xác thực trống đồng nòng của đại tộc Đông Sơn là của đại tộc Việt, là của Việt Nam nên dịch đồng Đông Sơn là dịch nọc vòng tròn-que của Việt Nam.

Với tuổi của trống đồng trên dưới 3.000 năm chúng ta đã có bộ dịch đồng bằng hình trác tuyệt thì tổ tiên ta vài ngàn năm trước đó đã phải có dịch sách, đã thông suốt, quán triệt dịch chữ, dịch sách rồi.

.Chúng ta có Việt Dịch riêng dù cho là do tổ tiên ta sáng tạo ra hay ta lấy từ đâu đó rồi Việt hóa thành Việt dịch. Vấn đề quan trọng chính yếu là chúng ta có Việt dịch riêng, còn chúng ta có phải là chủ nhân ông của dịch hay không, không thành vấn đề. Nhưng dù cho tổ tiên ta không sáng tạo ra dịch đi nữa thì tổ tiên ta cũng đã phải là nhưng bậc sư, bậc thầy về dịch. Dịch phải là nền móng của văn hóa Việt dựa trên lưỡng hợp nòng nọc chim-rắn, Tiên Rồng. Dịch phải là thứ thiêng liêng, quốc bảo, tổ tiên ta sáng tạo ra bộ dịch đồng Đông Sơn để thờ phượng, để lưu truyền lại cho con cháu.

.Cốt lõi văn hóa Việt là nòng nọc (âm dương), chim-rắn, Tiên Rồng nên chủng, liên bang, ngành, nhánh, đại tộc, tộc, chi tộc của chủng Người Vũ Trụ Bách Việt đều ứng với cơ cấu Việt dịch. Mỗi trống đồng là một trống biểu của một cá thể của ngành, nhánh, đại tộc, tộc, chi tộc nào đó của Chủng Người Vũ Trụ Bách Việt, họ Thần Nông-Viêm Đế, ngành Người Việt Mặt Trời Thái Dương Viêm Việt Viêm Đế, của liên bang Văn Lang Hùng Vương… Mỗi trống diễn tả một thứ Việt dịch của một cá thể.

. Việt dịch đồng Đông Sơn giúp xác thực vững chắc lại trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn là một Bộ Sử Đồng của Đại Tộc Việt.

.Việt Dịch Đồng Đông Sơn xác thực, kiểm chứng và giúp giải đọc dịch sách và dịch sử miệng (ca dao tục ngữ, đồng dao, truyền thuyết Việt, trò chơi…). Dịch đồng Đông Sơn cũng giúp sửa lại những hiểu biết lệch lạc về dịch diễn dịch trong sách vở.

. Việt dịch đồng Đông Sơn xác thực chúng ta có một thứ dịch hoàn toàn khác dịch Hoa Hạ.

Ta thấy có những khác biệt như:

-Dịch đồng Đông Sơn là dịch diễn tả chủ yếu về triết thuyết vũ trụ tạo sinh.

-Việt Dịch Đồng Đông Sơn là dịch viết các vạch (hào) bằng chữ nòng nọc vòng tròn-que còn giữ nòng nọc (âm dương) ngang bằng nhau, đề huề với nhau đúng theo cốt lõi văn hóa Việt dựa trên lưỡng hợp chim-rắn, Tiên Rồng. Trong khi dịch Hoa Hạ là dịch que viết các vạch bằng hình que, nọc (hào dương) và hình que đứt đoạn (hào âm). Dịch que Hoa Hạ mang tính nọc, dương chủ là một thứ dịch của xã hội nọc, dương, phụ quyền cực đoan, khuôn mặt âm đã bị ngự trị. Dịch Hoa Hạ là của nền văn hóa du mục, võ biền. Dịch Hoa Hạ là dịch muộn vì xã hội phụ quyền có sau xã hội mẫu quyền. Việt Dịch Đồng Đông Sơn nòng nọc nguyên thủy hơn dịch Hoa Hạ. Việt dịch đồng Đông Sơn mang tính tư tưởng triết lý là của nền văn hóa canh nông.

-Việt Dịch Đồng Đông Sơn diễn tả vũ trụ tạo sinh dựa trên nòng nọc (âm dương), lưỡng nghi, tứ tượng, tứ hành, tam thế diễn tả bằng Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) khác với dịch Hoa Hạ dựa trên lưỡng nghi, tứ tượng và ngũ hành. Dịch Đông Sơn chỉ có tứ tượng, tứ hành về thể chất là lửa nước gió, đất, bốn nguyên sinh động lực chính sinh ra tam thế diễn tả bằng Cây Vũ Trụ, Tam Thế. Hoa Hạ có ngũ hành tức có thêm hành Mộc (cây). Hoa Hạ đã lấy Cây Vũ Trụ làm hành Mộc. Dịch Đông Sơn với tứ hành và Cây Vũ Trụ là kết quả của vũ trụ tạo sinh. Ở cõi tạo hóa chưa có cây. Chỉ ở cõi thế gian mới có cây, mới có hành Mộc. Hoa Hạ đã lấy Cây Vũ Trụ làm hành Mộc. Dịch Hoa Hạ là dịch thế gian, Hậu Thiên, dịch muộn trong khi dịch Đông Sơn có khuôn mặt chủ là dịch diễn tả vũ trụ tạo sinh. Dịch Đông Sơn nguyên thủy hơn. Dịch Hoa Hạ chỉ thấy ở Trung Quốc và các nước bị ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc như Nhật, Đại Hàn, Việt Nam. Trong khi dịch đồng Đông Sơn với tứ tượng, tứ hành thấy trong mọi nền văn hóa cổ của nhân loại như Ai Cập cổ, Ấn Độ, Maya… Tứ hành chính xác hơn ngũ hành. Về di truyền học, muôn sinh đều có DNA gồm có 4 yếu tố cơ bản diễn tả bằng bốn chữ CGAT (Cytosine, Guanine, Adenine, Thymine), được cho là Bốn Chữ của Tạo Hóa, của Thượng Đế, của Sự Sống. DNA cho thấy tứ hành của Việt dịch đồng Đông Sơn đúng hơn ngũ hành của Hoa Hạ (xin đừng dùng ngũ hành giải thích Việt dịch).

.Trống đồng Đông Sơn diễn tả dịch vạch que nọc và vạch que vòng tròn nòng của chữ nòng nọc vòng tròn-que, một thứ chữ tối cổ của nhân loại do tôi khám phá ra. Trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn còn ghi khắc lại rất nhiều chữ nòng nọc vòng tròn-que trong khi trong các nền văn hóa cổ khác của nhân loại chỉ còn thấy lác đác vài ba chữ nòng nọc vòng tròn-que. Trên trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn, chữ nòng nọc vòng tròn-que viết rất chuẩn theo đúng ngữ pháp (văn phạm) của chữ nòng nọc vòng tròn-que trong khi ở những nơi khác viết đã sai lạc, với lỗi ngữ pháp rất nhiều. Trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn là một bộ từ điển chữ nòng nọc vòng tròn-que (xem các bài viết về Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que).

.Dịch đồng Đông Sơn xác thực, chứng thực, kiểm chứng cách giải đọc trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn một cách chính xác nhất là về các chi tiết còn mù mờ, bán tín bán nghi. Ví dụ như ở trống Quảng Xương các hình hóa trang mặt trời đầu chim có tác giả cho là các hình biểu tượng, có tác giả lại cho chính là những người đã thể điểu hóa tối đa. Dịch Quảng Xương đã xác thực đó chính là những hình người đã thể điệu hóa tối đa, không phải là những hình biểu tượng.

Cách giải đọc của cá nhân tôi từ trước tới nay nhìn chung là đúng, nếu có sai thì cũng chỉ là những sai lệch, thiếu sót nhỏ vì lý do này hay lý do khác (như dựa vào các hình vẽ sai chẳng hạn, lầm lỗi kỹ thuật, nhìn dưới góc cạnh khác…). Dịch Đông Sơn là kim chỉ nam, là đuốc soi đường để giải đọc trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn.

.Những trống diễn tả vũ trụ tạo sinh trọn vẹn diễn tả một thứ dịch mang tính sinh tạo, tạo hóa, một thứ Tiên Thiên bát quái. Những trống không diễn tả vũ trụ tạo sinh trọn vẹn, chỉ là những trống biểu của một nhánh, một đại tộc diễn tả dịch thế gian mang tính Hậu Thiên bát quái Việt dịch.

.Dịch đồng Đông Sơn giúp hiểu rõ dịch Tiên Thiên khác với dịch Hậu Thiên như thế nào. Xác thực Tiên Thiên bát quái Việt là Tiên Thiên Phục Hy Việt khác với Tiên Thiên bát quái Hoa Hạ và Hậu Thiên Việt dịch khác với Hậu Thiên Văn Vương. Trong Hậu Thiên bát quái Việt dịch, Tốn hôn phối với Cấn.

Việt dịch đồng Đông Sơn cho thấy vị trí các quẻ ba vạch thay đổi theo tính nòng nọc (âm dương) của từng trống tùy theo ngành, đại tộc giúp ta nhận ra rằng dịch trong sách vở chỉ hiểu theo một khuôn mẫu Tiên Thiên bát quái Phục Hy Hoa Hạ và Hậu Thiên bát quái Văn Vương không đủ. Phải thiên biến vạn hóa tùy theo từ trường hợp, tùy hoàn cảnh. Phong thủy Trung Hoa không có hiệu nghiệm gì với người Việt Nam.

.Dịch đồng Đông Sơn giúp định được độ tuổi của trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn. Một trống diễn tả dịch càng đúng dịch lý, chữ nòng nọc vòng tròn-que càng viết đúng ngữ pháp thì trống đó càng cổ.

.Những trống có cảnh sinh hoạt nhân sinh thường diễn tả dịch.

……

Tóm gọn lại trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn là một bộ dịch đồng của đại tộc Việt viết bằng chữ nòng nọc vòng tròn-que mang tính nguyên thủy, khác với dịch Hoa Hạ. Dịch đồng Đông Sơn là một bộ dịch đồng bằng hình duy nhất của nhân loại. Dịch đồng Đông Sơn cho biết chúng ta có dịch sách cổ hơn 3.000 năm. Dịch đồng của Đông Sơn ghi lại Bộ Sử Đồng, văn hóa Việt dựa trên nguyên lý nòng nọc (âm dương), chim-rắn, Riên Rồng cũng mang tính dịch. Dịch đồng Đông Sơn là bộ sách ngữ pháp, một bộ từ diển chữ nòng nọc vòng tròn-que.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: